Xem Nhiều 6/2023 #️ Triết Lý Hay Trong Tiếng Trung # Top 9 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 6/2023 # Triết Lý Hay Trong Tiếng Trung # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Triết Lý Hay Trong Tiếng Trung mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trung Quốc luôn nổi tiếng với những câu nói, những triết lý, đạo lý trong cuộc sống. Để cho hậu thế về sau có thế chiêm nghiệm . Hôm nay cùng với Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang tìm hiểu về những triết lý trong tiếng trung nha.

1. 圆规为什么可以画圆?因为脚在走,心不变。你为什么不能圆梦?因为心不定,脚不动。

Yuánguī wèishéme kěyǐ huà yuán? Yīnwèi jiǎo zài zǒu, xīn bù biàn. Nǐ wèishéme bùnéng yuánmèng? Yīn wéi xīn bùdìng, jiǎo bù dòng.

Compa vì sao có thẻ vẽ hình tròn? Vì chân bước nhưng tâm điểm không thay đổi. Tại sao bạn không thực hiện được ước mơ? Vì tư tưởng thiếu vững vàng, đôi chân lại không cất bước.

2. 我不能说我有多爱你,因为这个问题应该交由你来判断;我只能说我很在乎你,因为你的情绪总能影响我的决定。

Wǒ bùnéng shuō wǒ yǒu duō ài nǐ, yīnwèi zhège wèntí yīnggāi jiāo yóu nǐ lái pànduàn; wǒ zhǐ néng shuō wǒ hěn zàihū nǐ, yīnwèi nǐ de qíngxù zǒng néng yǐngxiǎng wǒ de juédìng.

Anh không thể nói anh yêu em đến nhường nào, bởi vì, vấn đề này hãy để em phán đoán. Anh chỉ có thể nói rằng anh rất coi trọng em, bởi vì, tâm trạng em luôn ảnh hưởng tới quyết định của anh.

3. 要学会说三句话:无法改变的事实我接受;错了我改,但不悔恨;天不能常阴,夜不能常黑,一切都会过去。

yào xué huì shuō sān jù huà :wú fǎ gǎi biàn de shì shí wǒ jiē shòu ;cuò le wǒ gǎi ,dàn bú huǐ hèn ;tiān bú néng cháng yīn ,yè bú néng cháng hēi ,yī qiē dōu huì guò qù 。

Cần học ba câu này: Chấp nhận những sự thật không thể thay đổi. Sai thì sửa, nhưng đừng hối hận; trời không thường âm u, đêm không thường đen tối, mọi thứ đều sẽ qua đi.

4. 好多年来,我曾有过一个“良好”的愿望:我对每个人都好,也希望每个人都对我好。只望有誉,不能有毁。最近我恍然大悟,那是根本不可能的。

hǎo duō nián lái ,wǒ céng yǒu guò yī gè “liáng hǎo ”de yuàn wàng :wǒ duì měi gè rén dōu hǎo ,yě xī wàng měi gè rén dōu duì wǒ hǎo 。zhī wàng yǒu yù ,bú néng yǒu huǐ 。zuì jìn wǒ huǎng rán dà wù ,nà shì gēn běn bú kě néng de

Rất nhiều năm nay, tôi từng có một nguyện vọng “tốt đẹp”: Tôi đối xử tốt với mọi người, cũng mong mọi người đối xử tốt với tôi. Chỉ mong giữ chứ không muốn phá vỡ danh dự. Mới đây, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, điều đó hoàn toàn không thể thực hiện được.

5. 真正的朋友不是在一起有聊不完的话,而是即便不说一句话也不觉得尴尬

zhēn zhèng de péng yǒu bú shì zài yī qǐ yǒu liáo bú wán de huà ,ér shì jí biàn bú shuō yī jù huà yě bú jiào dé gān gà

Người bạn thực sự không phải đi với nhau thì sẽ nói không hết chuyện. Mà là dù không chuyện trò câu nào cũng không cảm thấy bối rối.

6. 心怀感恩,让人生多一些暖色,每一个有爱的日子都是幸福的。

xīn huái gǎn ēn,ràng rén shēng duō yī xiē nuǎn sè,měi yī gè yǒu ài de rì zǐ dōu shì xìng fú de。

Thể hiện tấm lòng biết ơn, để tăng thêm sự ấm áp trong cuộc đời, những ngày có tình yêu là những ngày hạnh phúc.

7. 世间最珍贵的不是“得不到”和“已失去”,而是现在能把握的幸福。

shì jiān zuì zhēn guì de bú shì “dé bú dào ”hé “yǐ shī qù ”,ér shì xiàn zài néng bǎ wò de xìng fú。

Thứ quý giá nhất trên thế gian này không phải là những gì “không thể với tới” và “đã mất đi”, mà là hạnh phúc hiện tại có thể nắm bắt trong tay.

8. 我们的快乐,源于内心的真实,做最好的自己;我们的不幸,皆因内心的浮躁和空虚。

wǒ men de kuài lè,yuán yú nèi xīn de zhēn shí,zuò zuì hǎo de zì jǐ;wǒ men de bú xìng,jiē yīn nèi xīn de fú zào hé kōng xū。

Niềm vui của chúng ta, bắt nguồn từ sự thành thật của nội tâm, hãy sống là chính mình; nỗi bất hạnh của chúng ta, đều do sự nông nổi và trống trải của nội tâm.

9. 烦恼并不是因为拿起太多,而是因为不肯放下。

fán nǎo bìng bú shì yīn wéi ná qǐ tài duō,ér shì yīn wéi bú kěn fàng xià。

Phiền não không phải do sở hữu quá nhiều, mà là do không nỡ buông bỏ.

10. 一切痛苦的原因是爱自己,当我们认识到“自我”这个真正的“敌人”时,就走上了远离痛苦的道路。

yī qiē tòng kǔ de yuán yīn shì ài zì jǐ,dāng wǒ men rèn shí dào “zì wǒ ”zhè gè zhēn zhèng de “dí rén ”shí,jiù zǒu shàng le yuǎn lí tòng kǔ de dào lù。

Quá yêu bản thân là nguyên nhân của mọi khổ đau, khi chúng ta nhận ra “cái tôi” là “kẻ thù” của chính mình, thì đã bước lên con đường xa rời khổ đau.

11. 以前总是想留住身边每一个人,后来发现,不管是从小玩到大的伙伴,还是新认识的朋友,其实你都不必强求。愿意在你最不堪时陪着你的,愿意和你一起挺过难关的,愿意泼冷水让你清醒的,你赶都赶不走,而那些天长地久说说而已的,你也根本不必留。

yǐ qián zǒng shì xiǎng liú zhù shēn biān měi yī gè rén ,hòu lái fā xiàn ,bú guǎn shì cóng xiǎo wán dào dà de huǒ bàn ,hái shì xīn rèn shí de péng yǒu ,qí shí nǐ dōu bú bì qiáng qiú 。yuàn yì zài nǐ zuì bú kān shí péi zhe nǐ de ,yuàn yì hé nǐ yī qǐ tǐng guò nán guān de ,yuàn yì pō lěng shuǐ ràng nǐ qīng xǐng de ,nǐ gǎn dōu gǎn bú zǒu ,ér nà xiē tiān zhǎng dì jiǔ shuō shuō ér yǐ de ,nǐ yě gēn běn bú bì liú 。

Trước đây, luôn muốn giữ mọi người ở bên cạnh, sau đó phát hiện, bất kể là đứa bạn chơi từ nhỏ đến lớn, hay người bạn mới quen, thực ra đều không nên gò ép. Người sẵn sàng ở bên bạn trong lúc bạn bối rối, sẵn sàng cùng bạn khắc phục khó khăn, sẵn sàng dội gáo nước lạnh” để bạn tỉnh táo trở lại thì dù bạn có muốn đuổi cũng không đuổi đi được, còn những người chỉ hứa hươu hứa vượn thôi, thì cũng không cần giữ làm gì.

12. 别难过,世间都是这样的,不管走到哪里,总有令人失望的事情。一旦碰到,我们就很容易过度悲观,把事情看得太严重。放心,闭上眼,睡一觉,说不定明天就会有新鲜的事儿发生。

bié nán guò ,shì jiān dōu shì zhè yàng de ,bú guǎn zǒu dào nǎ lǐ ,zǒng yǒu lìng rén shī wàng de shì qíng 。yī dàn pèng dào ,wǒ men jiù hěn róng yì guò dù bēi guān ,bǎ shì qíng kàn dé tài yán zhòng 。fàng xīn ,bì shàng yǎn ,shuì yī jiào ,shuō bú dìng míng tiān jiù huì yǒu xīn xiān de shì ér fā shēng 。

Đừng buồn, thế gian đều là như vậy, cho dù đi đến đâu, đều có sự việc làm con người thất vọng. Một khi gặp phải, chúng ta sẽ rất dễ dàng bi quan quá mức, coi sự việc quá nghiêm trọng. Yên tâm, nhắm mắt lại, ngủ một giấc, không chắc ngày mai sẽ phát sinh sự việc mới.

Gửi các bạn file nghe đi kèm để dễ dàng luyện tập : TRIẾT LÝ TRONG TIẾNG TRUNG

Tiếng trung Nghiêm Thùy Trang: https://tiengtrungntt.vn/

Fanpage:  Tiếng trung giao tiếp Nghiêm Thùy Trang 

Địa chỉ: Số 1/14 ngõ 121 Chùa Láng, Đống Đa .  098 191 82 66

Những Triết Lý Hay Về Cuộc Sống Tiếng Trung

Những triết lý hay về cuộc sống tiếng Trung

到了一定的年龄,必须扔掉四样东西:没有意义的酒局,不爱你的人,看不起你的亲戚,虚情假意的朋友。 Dào le yī dìng de nián líng, bì xū rēng diào sì yàng dōng xī: Méi yǒu yì yì de jiǔ jú, bù ài nǐ de rén, kàn bù qǐ nǐ de qīn qī, xū qíng jiǎ yì de péng yǒu.Đến một độ tuổi nào đó, nhất định phải vứt bỏ bốn thứ: những cuộc nhậu vô nghĩa, người không yêu bạn, người thân coi thường bạn, bạn bè sống giả tạo.但是必须拥有四样东西:扬在脸上的自信,长在心里的善良,融进血液的骨气,刻在生命里的坚强。 Dàn shì bì xū yǒng yǒu sì yàng dōng xī: Yáng zài liǎn shàng de zì xìn, zhǎng zài xīn lǐ de shàn liáng, róng jìn xiě yè de gǔ qì, kè zài shēng mìng lǐ de jiān qiáng. Nhưng lại nhất định cần phải có bốn thứ: vẻ tự tin trên khuôn mặt, lương thiện tăng trưởng trong tâm, cốt khí hòa vào máu và kiên cường khắc trong sinh mệnh.

没有人可以无条件地陪伴着你,要知道,下雨天的时候连影子都会缺席。 Méi yǒu rén kě yǐ wú tiáo jiàn de péi bàn zhe nǐ, yào zhī dào, xià yǔ tiān de shí hòu lián yǐng zi dū huì quē xíChẳng ai có thể đi theo bạn một cách vô điều kiện, nên biết rằng khi trời mưa đến cái bóng của chính mình còn vắng mặt.

人之所以痛苦,在于追求错误的东西。Rén zhī suǒ yǐ tòng kǔ, zài yú zhuī qiú cuò wù de dōng xī. Nguyên do những nỗi đau của con người nằm tại việc theo đuổi những thứ sai lầm.

与其说是别人让你痛苦,不如说自己的修养不够。Yǔ qí shuō shì bié rén ràng nǐ tòng kǔ, bù rú shuō zì jǐ de xiū yǎng bù gòu. Đổ lỗi cho người khác làm bạn đau khổ, thà rằng hãy tự nói mình tu dưỡng chưa đủ.

如果你不给自己烦恼,别人也永远不可能给你烦恼。Nếu như bạn không tự đem lại phiền não cho mình, người khác mãi mãi chẳng thể đem đến phiền não cho bạn.Rú guǒ nǐ bù jǐ zì jǐ fán nǎo, bié rén yě yǒng yuǎn bù kě néng gěi nǐ fán nǎo.

这个世界本来就是痛苦的,没有例外的。Zhè ge shì jiè běn lái jiù shì tòng kǔ de, méi yǒu lì wài de. Thế giới này vốn dĩ chính là đau khổ, chẳng có ngoại lệ.

认识自己,降伏自己,改变自己,才能改变别人。 Rèn shì zì jǐ, xiáng fú zì jǐ, gǎi biàn zì jǐ, cái néng gǎi biàn bié rén. Nhận thức bản thân, hàng phục bản thân, thay đổi bản thân, mới có thể thay đổi được người khác.

不要浪费你的生命,在你一定会后悔的地方上。 Bù yào làng fèi nǐ de shēng mìng, zài nǐ yī dìng huì hòu huǐ dì dì fāng shàng. Đừng lãng phí cuộc sống của bạn vào những nơi mà bạn nhất định phải hối hận.

你什么时候放下,什么时候就没有烦恼。 Nǐ shén me shí hòu fàng xià, shén me shí hòu jiù méi yǒu fán nǎo.Khi nào bạn có thể buông bỏ, khi đó bạn sẽ không còn phiền não.

每一种创伤,都是一种成熟。 Měi yī zhǒng chuāng shāng, dōu shì yī zhǒng chéng shú. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

Đọc Và Cảm Nhận Những Triết Lý Tình Yêu, Cuộc Sống Qua Những Câu Nói Tiếng Trung Hay Nhất

Trung Quốc được biết đến là đất nước có nhiều bậc kỳ tài do đó những câu nói hay xuất phát từ đất nước này cũng không hề ít. Vì thế, đọc và ngẫm những câu nói tiếng Trung về những triết lý cuộc sống, tình yêu không chỉ giúp bạn giác ngộ ra nhiều điều mà còn có thể giúp bạn hiểu thêm về đất nước này nhiều hơn một chút.

Những câu nói tiếng Trung hay về cuộc sống

Mỗi ngày, chúng ta đều luôn nỗ lực phấn đấu cho một cuộc sống tốt đẹp nhất mà bản thân mong muốn. Tuy nhiên, không ai biết trước mình sẽ như thế nào và cuộc sống sẽ mang đến cho bạn thử thách gì, vì thế hãy rèn cho mình một ý chí vững vàng để đối mặt với bất kỳ một thử thách nào. Bạn có thể rèn nó bằng nhiều cách, một trong số đó là đọc và ngẫm những câu nói tiếng Trung hay về cuộc sống dưới đây:

Những câu nói hay bằng tiếng Trung trong tình yêu

Tình yêu là một tình cảm đẹp, là sự rung động hòa nhịp đập giữ hai trái tim đồng điệu về tâm hồn lẫn cảm xúc. Và những câu nói tiếng Trung hay về tình yêu luôn là chất xúc tác để chúng ta suy ngẫm, biết quý trọng tình yêu của mình hơn.

当你真的在乎一个人,多么微不足道的小细节,也变得重要起来。 Dāng nǐ zhēn de zàihū yīgè rén, duōme wēibùzúdào de xiǎo xìjié, yě biàn dé zhòngyào qǐlái. Khi bạn thực sự coi trọng một người, những chi tiết nhỏ cũng sẽ trở nên quan trọng.

每个人心底都有那么一个人,已不是恋人,也成不了朋友。时间过去,无关乎喜不喜欢,总会很习惯的想起你。然后希望你一切都好。 Měi gèrén xīndǐ dōu yǒu nàme yīgè rén, yǐ bùshì liànrén, yě chéng bùliǎo péngyǒu. Shíjiān guòqù, wúguān hū xǐ bù xǐhuān, zǒng huì hěn xíguàn de xiǎngqǐ nǐ. Ránhòu xīwàng nǐ yīqiè dōu hǎo. Trong lòng mỗi người đều có một người như vậy, đã không còn là người yêu, cũng không thể trở thành bạn bè. Thời gian trôi đi, nhưng vẫn luôn có thói quen nghĩ đến người ấy, không liên quan gì đến việc thích hay không thích. Rồi mong người ấy mọi điều tốt lành.

你永远也不晓得自己有多喜欢一个人,除非你看见他和别人在一起。

Nǐ yǒngyuǎn yě bù xiǎodé zìjǐ yǒu duō xǐhuān yígèrén, chúfēi nǐ kànjiàn tā hé biérén zài yìqǐ.

Bạn sẽ mãi mãi không biết được bạn thích người ấy đến nhường nào, cho đến khi bạn nhìn thấy người ấy đứng với một ai khác.

把手放开,不是不爱,而是把爱藏在心中。

Bǎ shǒu fàngkāi, búshì bú ài, érshì bǎ ài cáng zài xīnzhōng.

Buông tay, không phải là hết yêu, chỉ là chuyển tình vào sâu trong tim.

我不怕别人在背后捅我一刀。 我怕回头后看到背后捅我的人是我用心对待的人

Wo bu pa ren zai bei hou tong wo yi dao. Wo pa hui tou hou, kan dao bei hou thong wo de ren shi wo yong xin dyu dai de ren

Em không sợ bị ai đó đâm một nhát sau lưng. Em chỉ sợ ngoảnh mặt lại, thấy người đâm sau lưng là người em đã chân thành đối xử.

因为我不知道下一辈子还是否能遇见你。 所以我今生才会那么努力 把最好的给你。

Yīnwèi wǒ bù zhīdào xià yī bèi zǐ huán shìfǒu néng yùjiàn nǐ. Suǒyǐ wǒ jīnshēng cái huì nàme nǔlì bǎ zuì hǎo de gěi nǐ.

Bởi vì anh không biết, kiếp sau anh có thể gặp em được không? Cho nên trong cuộc sống này, anh sẽ cố gắng trao những điều tốt đẹp nhất cho em.

嘴巴上的爱,很浅薄;用心爱,才深刻。

Zuǐba shàng de ài, hěn qiǎnbó; yòng xīn ài, cái shēnkè.

Tình yêu trên môi, rất nhạt nhòa; tình yêu bằng trái tim, mới sâu đậm.

Những status thất tình bằng tiếng Trung

Trong tình yêu, có hạnh phúc hẳn sẽ có khổ đau, không phải tất cả người yêu nhau đều được hồi đáp lại. Vì thế, nếu bạn đang thất tình thì có thể gửi gắm lòng mình qua những stt thất tình tiếng Trung, người hiểu cũng được không hiểu cũng được bởi cái bạn cần là được giải tỏa nỗi lòng mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng dù thế giới này có lạc mất một ai đó thì ngày mai bình minh vẫn rạng ngời và bạn vẫn phải bước tiếp hành trình của chính mình.

Trên đây là những câu nói tiếng Trung hay nhất về cuộc sống, tình yêu. Hy vọng sau khi đọc xong những câu nói này bạn sẽ có thể học hỏi được nhiều điều về ngôn ngữ của đất nước này cũng như mang đến cho bạn những giây phút chiêm nghiệm quý báu. Đặc biệt, nếu bạn yêu thích ngôn ngữ Trung Hoa thì đây cũng là một cách giúp bạn cải thiện luôn khả năng học tiếng Trung của mình nữa đấy.

Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam

Tục ngữ và triết học là hai lĩnh vực, hai hiện tượng ý thức xã hội khác nhau. Tục ngữ thuộc lĩnh vực nghệ thuật, là một thể loại văn học dân gian (folklore), còn triết học thuộc lĩnh vực khoa học, là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận.

Tri thức của tục ngữ là tri thức dân gian, được rút ra trên cơ sở quan sát và miêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những “lẽ phải thông thường”. Còn triết học – triết học nào cũng đi xa hơn “lẽ phải thông thường là tri thức khoa học, là hệ thống những quan niệm, quan điểm về thế giới, là sự tổng hợp và khái quát ở mức độ chung nhất và cao nhất những quy luật vận động của tự nhiên, của xã hội, của con người, của tư duy. Tục ngữ là văn học dân gian nên tác giả của nó là tập thể, là quần chúng nhân dân, còn triết học là một môn khoa học nên tác già của một hệ thống hoặc một tác phẩm triết học bao giờ cũng là cá nhân – là những người hoạt động trí óc chuyên nghiệp, có khả năng tư duy lý luận và có năng lực khái quát cao. Xét về cội nguồn, về thời điểm ra đời tục ngữ cũng có trước triết học. Tục ngữ đã có từ trong xã hội nguyên thuỷ, nhưng trong xã hội nguyên thủy thì chưa thể có triết học, nhiều lắm là chỉ có những mầm mống của tư tưởng triết học, hay là tư duy tiền triết học phải đến thời đại văn minh, tức là khi xã hội đã phân chia giai cấp thì triết học thực sự mới có điều kiện ra đời, nghĩa là trình độ tư duy trừu tượng và các tri thức khoa học của con người đã phát triển đến mức đòi hỏi và có khả năng khái quát các tư tưởng triết học.

Tục ngữ tuy không phải là triết học nhưng về phương diện nào đó nó rất gần gũi với triết học. Tục ngữ được làm ra với mục đích triết lý, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người. Do đó nhiều người gọi tục ngữ là “‘triết lý dân gian”, “triết học của nhân dân lao động”. Điều đó được thể hiện ở chỗ trong nội dung tục ngữ có chứa đựng những yếu tố của tư tưởng triết học, nghĩa là những tư tưởng triết học không được thể hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ như những quy luật, nguyên lý và mệnh đề triết học mà nó chỉ được thể hiện một phần nào đó và bằng cách nào đó trong nội dung của tục ngữ.

Về mặt thế giới quan, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh những nhận thức có tính duy vật tự phát, thừa nhận sự tồn tại và vận động khách quan của thế giới không phụ thuộc vào con người: ” Chạy trời không khỏi nắng“, ” Chạy mưa không khỏi trời“, “trời”, “nắng”, “mưa” ở đây chính là hiện thực khách quan. Sự vật và hiện tượng khách quan tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật vốn có của nó: ” Trăng đến rằm thì tràng tròn, sao đến tối thì sao mọc“, ” Còn da lông bọc, còn chồi nẩy cây“. Tư tưởng duy vật của nhân dân lao động còn được thể hiện ở thái độ phản đối những chuyện mê tín dị đoan và những người làm các nghề đó: ” Thầy bói nói dựa“, ” Bói ra ma, quét nhà ra rác “.

Nhân dân lao động còn thể hiện tư tưởng duy vật của mình trong việc nhìn nhận và giải quyết các vấn đề về đời sống xã hội. Đó à một thứ chủ nghĩa duy vật trực quan, chất phác, ngây thơ, xuất phát từ kinh nghiệm. Quan điểm duy vật đó được thế hiện một cáchh đơn giản và sinh động: ” Có thực mới vực được đạo “. “Thực” ở đây có thể là ăn, là lương thực, là kinh tế như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vận dụng trong những trường hợp cụ thể khác nhau. Nhưng dù sao, “thực” cũng là một cơ sở kinh tế, là đời sống vật chất là tồn tại xã hội, còn “đạo” nghĩa là sự nghiệp, là lý tưởng hoạt động thuộc lĩnh vực kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần, là ý thức xã hội. “Thực” vực “đạo”, nghĩa là vật chất quyết định tinh thần, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.

Con người là chủ thể xã hội, nhưng cũng là một sinh vật. Đối với mọi sinh vật, ăn phải là nu cầu hàng đầu: ” Mẻ không ăn cũng chết“. Những con người thì không chỉ có ăn, mà sau ăn phải là mặc: ” Được bụng no còn lo ấm cật“. Và khi có ăn có mặc rồi thì con người không lo chết đói chết rét nữa: ” Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết “.

Nhưng muốn có ăn, có mặc thì phải lao động vì như Engen nói: “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người”. Vốn là những người lao động nên nhân dân ta rất coi trọng lao động và thấy rõ giá trị của lao động: ” Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn“, ” Có khó mới có miếng ăn“, ” Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ “…

Nói đến xã hội, nói đến lao động thì phải nói đến chính bản thân con người, vì không có con người thì không có xã hội, không có lao động. Bởi vậy xưa nay triết học Đông Tây đều bàn về con người rất nhiều. Tục ngữ ta có câu; ” Người ta là hoa đất ” – một câu nói chỉ có năm từ thuần Việt mà thể hiện sâu sắc quan niệm cả về vũ trụ và nhân sinh, với một tư tưởng nhân văn cao đẹp.

Nói về con người và giá trị con người, tục ngữ ta thường so sánh người và của bao giờ cũng đặt người trên cao hơn rất nhiều: ” Người làm ra của, của không làm ra người“, ” Một mặt người hơn mười mặt của“, ” Người sống hơn đống vàng“… Đương nhiên, trên thực tế tuy cùng là “người” nhưng không phải ai cũng như ai, cũng như tuy cùng là “của” nhưng không phải cái gì cũng có hai trị như nhau, vì thế tục ngữ ta cũng có phân loại: ” Người ba bẩy đảng, của ba bẩy loài “.

Đi đôi với tư tưởng duy vật tự phát, trong tục ngữ Việt cũng chứa đựng rất nhiều những yếu tố của tư tưởng biện chứng. Đó là cách nhìn nhận các sự vật và hiện tượng không phải ở trạng thai đứng im, bất biến mà ở trong sự vận động, biến đổi và phát triển và luôn luôn liên hệ điều đó với đời sống con người: “Trời còn có khả năng khi mưa, ngày còn khi sớm khi trưa nữa người“, ” Người có lúc vinh, lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong“, ” Ai giàu ba họ, ai khó ba đời“, ” Hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai“, ” Tre già măng mọc“, ” Con chị nó đi, con dì nó lớn “…

Các sự vật và hiện tượng không tồn tại độc lập, tách rời nhau: mà giữa chúng có những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau với mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo từng đối tượng cụ thể: ” Mạ nhờ nước, nước nhờ mạ“, ” Hồ cậy rừng, rừng cậy hồ“, ” Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng“, ” Gần lửa rát mặt“, ” Cháy thành vạ lây“, ” Con sâu bỏ rầu nồi canh“, ” Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn‘, ” Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết“, ” Cả nhà làm quan cả họ được cậy, một người làm bậy cả họ mất nhờ“, ” Lê tồn Trịnh, tại Lê bại Trịnh vong “…

Mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng được tục ngữ thể hiện khá phong phú và sinh động, tuy không phải dùng đến khái niệm “Chất, lượng, độ, thuộc tính” như triết học. Phân biệt chất khác nhau được tạo nên bởi những thuộc tính khác nhau: ” Chẳng chua cũng thể là chanh, chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây“. Chất khác nhau tạo ra những giá trị khác nhau: ” Trăng mờ còn tỏ hơn sao, dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi“. Không thể lấy lượng thay chất được dù rằng lượng đó gấp bao nhiêu lần: ” Trăm đom đóm không bằng bó đuốc, trăm hòm chỉ chẳng đúc lên chuông“. Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng. ” Quý hồ tinh bất quý hồ đa“, ” Văn hay chẳng lọ dài dòng“… và rất nhiều câu diễn tả sự thay đổi về lượng khi “vượt độ” sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất: ” Quá mù ra mưa“, ” Tốt quá hoá lốp“, ” Mèo già hoá cáo“, ” Góp gió thành bão, góp cây nên rừng“… Đặc biệt có câu thể hiện sự chuyển hoá lẫn nhau giữa khái niệmlượng và khái niệm chất: ” Gò với núi cũng kể loài cao, bể với ao cũng kể loài thấp “.

Mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng được tục ngữ nói đến ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau, rất thực tế và linh hoạt. Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng: ” Người khôn dồn ra mặt“, ” Khôn ngoan hiện ra nét mặt, què quặt hiện ra chân tay“. Có thể căn cứ vào hiện tượng đề kết luận về thực chất sự vật: ” Nứa trôi sông chẳng giập thì gẫy, gái trồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia“. Hiện lượng khác nhau nhưng bản chất chi là một: ” Khác lọ cùng một nước“. Cái bề ngoài thì dễ thấy nhưng cái bên trong thì khó mà thấy: ” Họa hổ hoạ bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm“. Phải cảnh giác với những hiện tượng xuyên tạc bản chất: ” Thủ thỉ nhưng mà quỷ ma“, ” Tẩm ngẩm tầm ngầm mà dẫm chết voi“…

Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả (gọi tắt là quan hệ nhân quả) cũng được thể hiện trong nhiều câu tục ngữ: ” Không có lửa sao có khói“, ” Gieo gió gặt bão“, ” Trèo cao ngã đau“, ” Nguồn đục dòng cũng đục“, ” Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dừng ai dễ đặt điều cho ai “…

Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong tục ngữ được thể hiện như là sự gắn bó và phân biệt giữa cá thể và và loài trong thế giới sinh vật: ” Thân chim cũng như thân cò“, ” Lòng vả cũng như lòng sung, một trăm con lợn cũng chung một lòng“, ” Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật “…

Quan hệ mâu thuẫn trong tự nhiên và xã hội được trình bày như là “sự trái ngược” đơn thuần: ” Được mùa cau, đau màu lúa“, ” Được người mua, thua người bán‘, ” Được lòng ta xót xa lòng người“, ” Kẻ ăn không hết, người lần không ra “…

Bên cạnh những tư tưởng duy vật và tư tưởng biện chứng có tính chất trực quan đó, nhân dân lao động ngày xưa, do thế giới quan không thuần nhất, do trình độ nhận thức còn thấp kém và do bị áp bức nặng nề trong xã hội có giai cấp đối kháng nên không tránh khỏi những tư tưởng duy tâm và mê tín dị đoan. Tuy có nghi ngờ, không tin vào các loại “thầy” cụ thể làm nghề mê tín, nhưng họ lại tin vào thần thánh, vào vận hạn, vào tướng mạo và những dấu vết trên cơ thể con người, vào ngày giờ lành dữ, và nhất lả tin vào số mệnh (những câu tục ngữ nói về “số” cũng nhiều hơn về các thứ mê tín khác): ” Đất có thổ công, sông có hà bá,” ” Trời cho hơn lo làm“, ” Một khoáy sống lâu, hai khoáy trọc đầu, ba khoáy chóng chết“, ” Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba“, ” Từ sinh hữu mệnh, phú quí tại thiên“, ” Trăm đường tránh chẳng khỏi số“, ” Tốt số hơn bố giầu‘, ” Số giàu tay trắng cũng giàu, số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo“…

Những tư tưởng duy tâm, mê tín nói trên không những chi phối nặng nề đời sống của nhân dân lao động nước ta trong các xã hội trước đây, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận nhân dân trong xã hội ta ngày nay, đặc biệt là đối với lớp người làm nghề buôn bán và tầng lớp thanh niên gặp nhiều khó khăn, trắc trở về tình duyên, về công việc làm ăn… Đó cũng là điều khó tránh khỏi. Chi có sự phát triển của đời sống xã hội và kinh nghiệm thực tế của mỗi người mới có thể dần dần khắc phục và loại trừ những quan niệm sai lầm trong thế giới quan và nhân sinh quan.

Ý nghĩa triết học của kho tàng tục ngữ Việt rất rộng lớn, phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Đó là những di sản quý báu “Những viên ngọc quý” của đời sống tinh thần được coi như một trong những điểm tựa về tư tưởng truyền thống của dân tộc mà chúng ta cần và có thể chọn lọc, kế thừa và sử dụng trong cuộc sống mới hiện nay.

Bạn đang xem bài viết Triết Lý Hay Trong Tiếng Trung trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!