Top 18 # Triết Học Trong Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Boxxyno.com

Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam / 2023

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:02

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Bên cạnh việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn học truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”. Tinh thần đó tiếp tục được bổ sung và khẳng định trong kết luận của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của Việt Nam đương đại, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc”. Để đạt được những mục tiêu trên chúng ta phải tiến hành đồng thời nhiều biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp có vai trò hết sức quan trọng đó là cần xuất phát từ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, mà nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của truyền thống đó là kho tàng văn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng. Ca dao, tục ngữ là di sản tinh thần quý báu, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lý làm người, là “túi khôn” mà ông cha ta đã dày công xây dựng và lưu giữ. Những triết lý giáo dục sâu sắc, đậm chất nhân văn về thế giới, về con người của nhân dân ta đã được khái quát và đúc kết qua ca dao, tục ngữ sẽ có tác dụng quan trọng trong việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người. Vận dụng ca dao, tục ngữ nhằm khơi dậy niềm say mê học tập của học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa 1 Mác – Lênin và môn Giáo dục công dân trong các trường trung học phổ thông. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu huyền thoại và truyền thuyết tạo nên tâm điểm căn bản văn hóa dân tộc và hồn con người Việt Nam thì ca dao, tục ngữ là cẩm nang bí quyết, là một cuốn từ điển mà tiền nhân đã tích lũy theo thời gian và để lại cho con cháu. Trong đó hàm chứa triết lý dân tộc, phản ánh tâm thức Việt Nam và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nó là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá trị tinh thần, bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc ta. Thế nhưng, hiện nay văn học dân gian là nguồn tư liệu ít được khai thác, tiếp cận về mặt triết học vì có ý kiến cho rằng đây là loại văn phong không uyên bác, lạc hậu và có nhiều hạn chế. Tuy nhiên, nếu chúng ta dày công sưu tập và nghiên cứu thì từ kho tàng văn học dân gian ấy có thể khám phá ra khí phách con người Việt Nam, khám phá ra những đặc điểm về tâm – sinh lý, tình cảm, cũng như quan niệm về thế giới, về con người của người Việt Nam. Đồng thời nó còn thể hiện năng lực tư duy, phán đoán, phân tích và nhận thức của cha ông ta về vũ trụ và con người. Vậy nên, muốn tìm hiểu hồn dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua kho tàng này, qua đó chứng tỏ cha ông ta đã có một khối hiểu biết, kinh nghiệm và luân lý sâu sắc. Nhờ vậy mà đất nước và dân tộc ta sống còn và sống mạnh cho đến hôm nay sau những chiến tranh, xâm lược từ bên ngoài và phân tranh, chia rẽ ngay trong nội bộ. Mặt khác, Nghị quyết của Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Về chính sách khoa học và kỹ thuật cũng đã chỉ rõ: “Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc và sự thắng lợi của tư tưởng triết học Mác – Lênin ở Việt Nam” là một việc làm hết sức cần thiết không chỉ có ý nghĩa trọng đại trong giai đoạn hiện nay mà còn có ý nghĩa lâu dài. Hiện nay, nền kinh tế thị trường và sự mở cửa, giao lưu đã đưa nước ta hội nhập mạnh mẽ vào nền văn minh nhân loại, làm thay đổi nhanh chóng 2 diện mạo và đời sống đất nước. Thực tiễn đó cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức trong ngành giáo dục khi mà gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng, vấn đề giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách hơn bao giờ hết trở thành mối quan tâm trước hết của toàn xã hội. Để phát huy hơn nữa sức mạnh của dân tộc, đồng thời khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hơn bao giờ hết lại càng đòi hỏi phải quan tâm hơn nữa đến những giá trị tinh thần, đó là truyền thống văn hóa của dân tộc, là nền văn học dân gian nói chung – kho tàng ca dao, tục ngữ nói riêng; đồng thời kết hợp hài hòa với tinh hoa văn hóa của nhân loại để tạo nên sự phát triển bền vững cho nền văn hóa nước nhà. Lịch sử là một dòng chảy liên tục, tiếp nối không ngừng. Xưa – nay và cả ngày mai, vốn có quan hệ chặt chẽ theo dòng thời gian. Lý luận và kinh nghiệm giáo dục có tính kế thừa và phát triển. Giữa sự phát triển xã hội và giáo dục cũng như giữa lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nhìn lại quá khứ để mạnh tiến đến tương lai – đó là những lý do để tôi chọn đề tài: “Triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học triết học. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Hiện nay ở nước ta có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung dưới góc độ văn học dân gian là chính, chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về vấn đề triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Cụ thể: – Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện văn học 1 (2001), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản giáo dục. – Vũ Ngọc Phan (1995), “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nhà xuất bản Văn học. 3 – Cao Huy Đỉnh (1974), “Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. – Phúc Khánh (1961), Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật. – Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2000), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục. – Nguyễn Nghĩa Dân (2011), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt nam, Nhà xuất bản Thanh niên. – Nguyễn Nghĩa Dân (2001), Lòng yêu nước trong văn học dân gian Việt Nam, Nxb Hội nhà văn. – Phương Thu (2004), Ca dao, tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội. – Triều Nguyên (2005)”Ca dao Thừa Thiên – Huế”, Nhà xuất bản Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, Huế. – Triều Nguyên (2010), “Khảo luận về tục ngữ Người Việt”, Nxb Khoa học xã hội. – Phạm Việt Long (2010), “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. – Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. – Nguyễn Hữu Vui (2004), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đi sâu và làm sáng tỏ những vấn đề của ca dao, tục ngữ của Việt Nam như khái niệm, nguồn gốc, sự hình thành, phát triển, nội dung và các hình thức nghệ thuật nói chung của ca dao, tục ngữ. Làm rõ nội dung phản ánh của ca dao, tục ngữ như: ca dao, tục ngữ nói về thiên nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, xã hội và về giáo dục, về đạo đức. Ca dao, tục ngữ thể hiện tình yêu quê hương đất 4 nước; thể hiện tình cảm đôi lứa, thể hiện về quan hệ hôn nhân – gia đình,… Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ giữa ca dao, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác. – Một số luận văn đã nghiên cứu liên quan đến đề tài này là: Lương Thị Lan Huệ (2004), “Một số vấn đề triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam”. Tác giả đã trình bày một số tư tưởng triết học trong ca dao, tục ngữ người Việt như: Tư tưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người đối với xã hội. Tác giả cũng đã rút ra một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Việt Nam, nêu ý nghĩa triết học của ca dao, tục ngữ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Phạm Thị Thúy Hằng (2006), “Những tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian Việt Nam”. Tác giả cũng đã trình bày một số tư tưởng triết học về thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam. Đề cập đến những ảnh hưởng của truyện kể dân gian đối với việc xây dựng nền văn hóa của dân tộc. Cao Thị Hoa (2011), “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên – Huế”. Tác giả đã đi sâu phân tích và làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên – Huế, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống (nhân sinh quan, thế giới quan) của con người Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên – Huế, vận dụng nó ở góc độ kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. – Một số bài viết đăng trên các tạp chí triết học như: Lê Huy Thực (2004 – 2005), “Triết lý dân gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam”, Tạp chí triết học số 2 (153); “Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ thơ ca dân gian”, Tạp chí triết học số 9 (172). Đỗ Lan Hiền (2005), “Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian”, Tạp chí triết học số 6 (169). 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5 * Mục đích: Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Trên cơ sở đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho con người Việt Nam. Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài làm rõ: – Quá trình hình thành của ca dao, tục ngữ Việt Nam. – Những nội dung triết lý giáo dục thể hiện trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là ca dao, tục ngữ Việt Nam qua các công trình đã được xuất bản. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài là những quan điểm, phương pháp luận của triết học Mác – Lênin. Đó là sự kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, so sánh và đối chiếu, khách quan và biện chứng trong việc nghiên cứu tư tưởng triết học. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống về vấn đề triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Làm rõ những vấn đề về giá trị giáo dục, giá trị nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ của dân tộc. Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết. 6 CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CA DAO TỤC NGỮ VÀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM 1.1. Vấn đề chung về ca dao, tục ngữ Việt Nam 1.1.1. Khái niệm ca dao, tục ngữ Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng, được coi là nền văn học khởi nguồn. Đó là những viên ngọc quý, những kinh nghiệm, những điều hay, lẽ phải mà ông cha ta để lại. Là tâm hồn, trí tuệ, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân ở từng chặng đường lịch sử. Là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn cuộc sống của người dân lao động. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, tinh tế, có vần và dễ nhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, giữ gìn và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Mặc dù luôn được trau chuốt, có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau nhưng ca dao, tục ngữ vẫn luôn giữ được cái hồn, cái hình của mình. Ca dao, tục ngữ vừa là một hiện tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, phản ánh cuộc sống sinh hoạt muôn hình muôn vẻ của nhân dân, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và xây dựng đất nước, từ đó kết tinh thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 1.1.1.1. Ca dao Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; giao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Cho nên, ca dao là lời của các bài hát 7 dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, thì “ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ” [43, tr.303]. Ca dao là những bài hát ngắn, thường là 3, 4 câu. Cũng có một số ít bài ca dao dài. Những bài ca dao xưa thường có nguồn gốc dân ca. Dân ca, tước bỏ làn điệu đi, lời ca ở lại, đi vào kho tàng ca dao. Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng để chỉ bộ phận cốt lõi, tiêu biểu, đó là bộ phận những câu hát đã trở nên phổ biến và được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân. Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian, do đó tất cả những sáng tác thơ ca nào mang phong cách của những câu hát cổ truyền, người ta gọi là ca dao. Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên trong ca dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam qua quá trình lịch sử. Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắc Việt Nam. Thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam. Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người. Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa những con người lương thiện, đó còn là nhận thức sâu sắc về bạn, về thù, về chính nghĩa. Tóm lại, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực cuộc sống của 8 nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất. Nội dung của ca dao rất phong phú, đa dạng. Phản ánh những quan niệm về trời, đất, về thời thế, nguồn gốc con người; phản ánh lịch sử, công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống áp bức bóc lột và xâm lược. Miêu tả khá chi tiết phong tục tập quán, những kinh nghiệm trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân lao động, những kinh nghiệm trong sản xuất, chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ, trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội. Qua đó thấy được đức tính cần cù, chịu đựng gian khổ, khó khăn và những phẩm chất tốt đẹp của người dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, với xã hội để sinh tồn và vươn lên giành lấy hạnh phúc. Nét nổi bật trong bộ phận ca dao lịch sử là nội dung của nó đã thể hiện một cách mạnh mẽ, sâu sắc tình cảm của nhân dân đối với quê hương, đất nước, với nòi giống, tổ tiên: “Thương chi đồng nỗi thương con/ Nhớ chi đồng nhớ nước non quê nhà”; “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”. Hay những câu ca dao phản ánh những sự kiện của lịch sử dân tộc, nói lên thái độ, quan điểm, lòng yêu nước của nhân dân ta trong khi bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô xâm lược: “Ru con, con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng/ Túi gấm cho lẫn túi hồng/ Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân”. Ca dao còn là tiếng nói của trái tim, bày tỏ sự uất ức, phẫn nộ của nhân dân, là tiếng hát đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, cường quyền, chống quân xâm lược, vạch trần những cái xấu, những tội ác mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta. Hình ảnh nổi bật trong những câu ca dao nói về đất nước, quê hương, dân tộc,…là những hình ảnh về con người Việt Nam cần cù trong lao động, 9 dũng cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hy sinh trong quan hệ giữa người với người và luôn luôn lạc quan, yêu đời. Ca dao thể hiện những phẩm chất tốt đẹp đó của người Việt Nam và hướng con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tình yêu quê hương, đất nước, cảm hứng về một non sông tươi đẹp, về một nòi giống vẻ vang, về một dân tộc anh hùng,… là một cảm hứng vừa nồng nàn, vừa đằm thắm, lắng sâu. Nhiều tên núi, tên sông, tên các làng quê, các di tích lịch sử – văn hóa, các sản vật, các cảnh sinh hoạt cùng phong tục tập quán ở các địa phương được thể hiện rất phong phú trong ca dao. Ca dao còn là tiếng hát nghĩa tình, tiếng hát yêu thương của con người. Phong phú và đặc sắc nhất, giàu cung bậc nhất trong tình cảm của con người là mảng ca dao giành cho tình yêu đôi lứa. Những tâm tình, những khía cạnh của tình yêu và trạng thái tâm lý của trai gái lúc yêu nhau, được ca dao diễn đạt bằng một ngôn ngữ vừa giản dị, vừa bay bổng, vừa ý nhị, vừa đậm đà, chứ không mang màu sắc ủy mị, sướt mướt, trái lại nó rất rắn rỏi, bền chặt, trong sáng mặc dù trong cuộc sống, trong hôn nhân có không ít trắc trở, khổ đau: “Thuyền về có nhớ bến chăng?/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền!”. Nội dung của ca dao đã phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do hôn nhân. Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách, tình yêu cho con người thêm mạnh mẽ trong cuộc sống, trong lao động, trong đấu tranh để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc của mình. Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu 10 . VỀ CA DAO TỤC NGỮ VÀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM 1.1. Vấn đề chung về ca dao, tục ngữ Việt Nam 1.1.1. Khái niệm ca dao, tục ngữ Trong. làm sáng tỏ triết lý giáo dục trong ca dao, tục ngữ Việt Nam. Trên cơ sở đó vận dụng vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho con người Việt Nam. Kế thừa

Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học / 2023

Ca dao, tục ngữ Việt Nam là thể loại văn học được nhiều người ưa thích.Có thể nói, đó những thể loại được yêu thích nhất của văn học dân gian. Ca dao,tục ngữ là sản phẩm kết tinh trí tuệ Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, cốt cách ViệtNam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.Ca dao, tục ngữ Việt Nam đượm màu sắc dân gian, thể hiện tâm tư, tìnhcảm của đông đảo quần chúng nhân dân lao động Việt Nam. Nó là sự đúc kếtkinh nghiệm từ thực tiễn lao động sản xuất của cha ông ta, là tài sản vô cùng quýgiá của dân tộc ta.Trong quá trình tìm hiểu, ta thấy những triết lý dân gian trong ca dao, tụcngữ có nhiều điểm tương đồng với triết học. Triết lý và triết học đều cùng phảnánh thế giới quan và nhân sinh quan chỉ có điều cấp độ phản ánh của chúng làkhác nhau. Triết lý phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan ở cấp độ kinhnghiệm, còn triết học phản ánh ở cấp độ lí luận.Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc như: triết lýduy vật, triết lý về lẽ sống, về cách đối nhân xử thế, triết lý về mối quan hệ giữacon người với con người, giữa cá nhân và xã hội mà đặc biệt phải kể đến là triếtlý biện chứng. Triết lý biện chứng như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự đúckết kinh nghiệm của cha ông ta về tự nhiên, xã hội và con người.Do đó, việc tìm hiểu những triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ, thấyđược sự tương đồng và khác biệt giữa ca dao, tục ngữ và triết học, từ đó vậndụng linh hoạt vào việc dạy và học triết học sẽ mở ra một hướng đi tích cực.

Đề tài bước đầu tìm hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ ViệtNam và việc vận dụng vào dạy – học Triết học”.

1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG1.1. Ca dao, tục ngữ là gì?Hiện nay chưa có một khái niệm nào chính xác về ca dao, tục ngữ bởithực tế nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp trong việc phân biệt ca dao với dânca, tục ngữ với thành ngữ. Sự lúng túng trong vấn đề này xảy ra ở hầu hết mọingười, kể cả những người trong giới nghiên cứu về ngôn ngữ học. Do vậy, ởđây, chúng ta sẽ chỉ có thể trình bày những nét cơ bản nhất về ca dao, tục ngữtrong sự phân biệt nó với dân ca, thành ngữ thông qua quan điểm của các nhànghiên cứu.1.1.1. Ca daoĐịnh nghĩa về ca dao được Dương Quảng Hàm đề cập trong “Việt Namvăn học sử yếu” với ý: “ca” – ca hát; “dao” – bài hát không có chương khúc.“Ca dao là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình,phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong:phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc banđầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy màtruyền tụng mãi đến bây giờ.” [5, tr9-10]Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, năm2003, Nxb Văn học, tác giả khi phân biệt ca dao và dân ca đã cho rằng: Đứng vềmặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đã tước bỏ những tiếng đệm, nhữngtiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca đó chẳngkhác gì một bài ca dao. Do đó người ta có thể nói: giữa ca dao và dân ca ranhgiới không rõ ràng. Ca dao có những câu bốn năm chữ, sáu tám hay hai bẩy sáutám, đều có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâmthơ vậy. Còn dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao đó sẽ biến thành bàidân ca, vì hát yêu cầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm.Một bài ca dao để đọc không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao;còn một bài ca dao được dùng để hát, có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì nósẽ thành dân ca. Đơn giản như hát trống quân cũng phải có thêm tiếng đệmmới hát lên được:2

“Một đàn cò trắng (thời) bay tung

Bên nam (thời) bên nữ ta cũng hát lên!”Vậy ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khácvà có thể xây dựng được các làn điệu ca dao. Còn dân ca là những câu hát đã thànhkhúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ởmặt hình thức, nên ca hát người ta cũng gọi là thanh nhạc. Nếu xét về nguồn gốcphát sinh thì ca dao khác với dân ca là được hát lên trong những hoàn cảnh nhấtđịnh, trong những nghề nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,không như ca dao là những bài ít có tính địa phương nhất, dù nội dung ca dao cónói về địa phương nào thì cũng được phổ biến rộng rãi, chẳng hạn:“Đồng Đăng có phố Kỳ LừaCó nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”Hay bài ca dao“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.Còn dân ca, như hát đò đưa, hát giã gạo, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hátxoan Phú Thọ, hát quan họ Bắc Ninh, hát bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi,hò Bình Trị Thiên, ca lý Nam Bộ… thì chỉ nhân dân ở từng địa phương mới cađược. Tuy vậy, dù ở thể loại nào cũng có những trường hợp đặc biệt: hát ru em,hát giao duyên, hát trống quân đều là dân ca, nhưng cũng được phổ biến rộng rãikhông khác gì ca dao.Về nghệ thuật được sử dụng trong ca dao phải kể đến trước tiên đó lànghệ thuật vận dụng ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ trong ca dao là thứ ngôn ngữnghệ thuật giản dị đẹp đẽ, trong sáng, chính xác vì đã được gọt dũa, trau chuốt,chắt lọc qua hàng bao thế hệ. Do vậy, những câu ca dao đến được với chúng tangày nay đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, giúp cho việc biểu lộ thế giới tâmhồn đa dạng, phong phú và sâu thẳm của con người.Nội dung của ca dao đã được Vũ Ngọc Phan đề cập trong “Tục ngữ cadao dân ca Việt Nam”, 2003, đó là: “Về nội dung của ca dao thì ngoài sự biểu3

hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ýthức lao động sản xuất của nhân dân Việt Nam và tình hình xã hội thời xưa vềcác mặt kinh tế và chính trị. Bởi thế, người ta mới nói: nội dung của ca dao chủyếu là trữ tình”[19, tr46].Như vậy ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, đượclưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác. Do vậy, những câu ca dao đến được với chúng tangày nay đẹp cả về nội dung lẫn hình thức, giúp cho việc biểu lộ thế giới tâmhồn đa dạng, phong phú và sâu thẳm của con người.1.1.2. Tục ngữTrong cuốn “Giáo trình Văn học dân gian” (2008) của tác giả Phạm ThuYến (chủ biên) có định nghĩa về tục ngữ như sau: “Tục ngữ là một thể loại vănhọc dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh dễ nhớ, dễtruyền, có chức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiênnhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội” [26, tr141]. Có thể nói rằng,nếu so sánh với các thể loại văn học dân gian khác thì tục ngữ có nội dung phảnánh rộng lớn nhất, bao quát cả về tự nhiên, xã hội và con người.Tục ngữ có quan hệ với hầu hết các thể loại văn học dân gian khác nhaunhưng giữa tục ngữ và thành ngữ có mối quan hệ mật thiết và dễ lẫn lộn hơn cả,vì thế đã có rất nhiều ý kiến đưa ra để phân biệt tục ngữ và thành ngữ:Việc phân biệt tục ngữ với thành ngữ được Dương Quảng Hàm lần đầutiên đặt ra qua “Việt Nam văn học sử yếu” (1943), với ý: “Một câu tục ngữ tự nóphải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thànhngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc tả mộttrạng thái gì cho có màu mè” [5, tr9].Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), không tán thành với ýkiến của Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa như vậy khôngđược rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tụcngữ. Theo ông, tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinhnghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là sự phê phán. Còn thành ngữ là một4

phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng,nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn. Về hình thức ngữ pháp, mỗithành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câu hoàn chỉnh; còn tục ngữ dùngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh.Bài viết “Về ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ” của tác giả NguyễnVăn Mệnh trong Tạp chí ngôn ngữ (số 3,1972) đã đưa ra ý kiến giải thích sựkhác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ trên cả hai mặt nội dung và hình thức.Theo ông, xét về nội dung, thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiệntượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ. Còn tục ngữ thì khác hẳn, nókhông dừng lại ở mức độ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng… như thànhngữ, mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệmsâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức… Có thể nói nộidung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nóichung là mang tính quy luật.Cũng theo ông, về mặt hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉlà một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tụcngữ tối thiểu là một câu.Tác giả Cù Đình Tú trong bài viết “Góp ý kiến vê phân biệt giữathành ngữ và tục ngữ” trên Tạp chí ngôn ngữ (số 1, 1973), đã chỉ ra nhữngdẫn chứng cụ thể chứng tỏ cách phân biệt tục ngữ và thành ngữ dựa vào mặtnội dung và hình thức của tác giả Nguyễn Văn Mệnh là chưa thỏa đáng. Dựatrên thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại, ông đã chỉ ra sự khác nhau giữathành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng. Ông viết: “Thành ngữ làđơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sựvật, tính chất, hành động. Về mặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vịtương đương như từ” [25, tr40], còn “Tục ngữ, đứng về mặt ngôn ngữ họccó chức năng khác hẳn so với thành ngữ. Tục ngữ cũng như các sáng tạokhác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo. Nó thôngbáo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới

5

khách quan. Do vậy, mỗi câu tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễnđạt trọn vẹn một ý tưởng” [25, tr41].Trong “Tục ngữ Việt Nam” (1975) các tác giả Chu Xuân Diên, LươngVăn Đang, Phương Tri cũng đưa ra tiêu chí mới để phân biệt: “Cần phải xétthành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như hai hiện tượng ngôn ngữ khác nhau,mà chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hội.Cho nên, tiêu chí gốc mà chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệtgiữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí nhận thức luận. Với tiêu chí đó, chúng tôixem xét tục ngữ chủ yếu như một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ chủyếu như một hiện tượng ngôn ngữ. Cùng với tiêu chí đó, sự khác nhau cơ bản vềnội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là sự khác nhau về nộidung của hai hình thức tư duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán” [4, tr27,28]. “Nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm. Còn nội dungcủa tục ngữ là nội dung của những phán đoán; quan hệ giữa thành ngữ và tụcngữ là quan hệ giữa hình thức khái niệm và phán đoán” [ 4, tr70].Có thể thấy rằng, cho đến nay, có bốn quan niệm đã được đưa ra trongviệc phân định tục ngữ và thành ngữ. Đó là: quan niệm dựa trên nội dung, quanniệm dựa trên chức năng, quan niệm dựa trên hình thức ngữ pháp, và quan niệmdựa trên tiêu chí nhận thức luận. Căn cứ vào những điểm khác nhau cơ bản giữathành ngữ và tục ngữ, các nhà nghiên cứu đã phân chia một khối lượng lớnnhững câu là tục ngữ hay thành ngữ một cách chắc chắn. Tuy nhiên, ngoàinhững ngữ liệu chắc chắn là thành ngữ hoặc tục ngữ thì vẫn còn những ngữ liệukhông biết xếp vào loại nào cho thỏa đáng, bởi vì nếu xét về mặt này thì nó làthành ngữ nhưng nếu xét về mặt khác thì nó lại được xem là tục ngữ. Do vậy, cảbốn cách phân chia nêu trên chỉ mang tính chất tương đối. Khoa học biện chứngđã chứng minh, mọi sự vật, hiện tượng vận động và tồn tại trong thế giới hiệnthực khách quan có mối quan hệ biện chứng với nhau, và không có đường ranhgiới tuyệt đối giữa sự vật này với sự vật khác.Tiến sĩ Viện ngôn ngữ học, Nguyễn Thị Trung Thành trong bài viết “Cáikhó trong việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ” in trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời6

sống (số 9, 2009) đã khẳng định: “Thành ngữ và tục ngữ có mối quan hệ gần gũivới nhau, có sự chuyển hóa trong quá trình sử dụng, có sự biến đổi cùng với sựphát triển của xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu thành ngữ, các nhà ngôn ngữ họckhông thể không đề cập đến tục ngữ, và ngược lại… Đôi khi, để tránh phải đụngchạm đến khái niệm, trước khi phát ngôn một đơn vị có sẵn mà không biết là tụcngữ hay thành ngữ, người sử dụng thường nói một cách chung chung rằng: “dângian có câu”, “người xưa từng nói”, “ông cha ta có câu”… Điều này một lần nữakhẳng định: việc xếp loại một bộ phận các đơn vị có sẵn – bộ phận nằm ở vị trítrung gian giữa thành ngữ và tục ngữ – là một công việc khó khăn”[22, tr11].Vì những lí do trên, để đảm bảo tính chính xác, khoa học, tất cả nhữngcâu tục ngữ được chọn trích dẫn trong đề tài đều nằm ngoài phạm vi đang cònnhiều tranh cãi.Tục ngữ là pho kinh nghiệm vô cùng quý giá, là “bộ bách khoa toàn thư”mà nhân dân lao động đã sáng tạo, lưu truyền, gìn giữ trong suốt tiến trình lịchsử mấy ngàn năm lâu dài của dân tộc, là những sự nhận định sau kinh nghiệmcủa con người ta về lao động, về sản xuất, về cuộc sống gia đình và xã hội. Nộidung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ.

Về sự khác nhau giữa ca dao với tục ngữ thì: “Sự khác nhau giữatục ngữ là ca dao nhìn chung dễ phân biệt hơn. Tục ngữ có chức năng đúc kết,truyền bá kinh nghiệm, nhằm nêu lên những nhận xét khách quan. Còn cadao là thể loại có bản chất trữ tình, thiên về bộc lộ tình cảm, phô diễn thếgiới tâm hồn con người.”[26, tr146]Tục ngữ và ca dao khác nhau ở chỗ tục ngữ thiên về lí trí (nội dung triếtlí dân gian), ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian). Nhưng giữahai thể loại đó không phải là không có những trường hợp có thể xâm nhập vàonhau. Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc, có thêm những tiếng đệmtrở thành khúc điệu thì tục ngữ đã tiếp cận với ca dao.Chẳng hạn: câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”Chuyển thành câu ca dao:“Ai ơi đừng chóng chớ chầy,7

Có công mài sắt có ngày nên kim”Trong kho tàng văn học Việt Nam, tục ngữ, ca dao là những viên ngọcquý nhất. Nó quý ở chỗ trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ xưađến nay, nó luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triểntiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những nhậnxét, những ý nghĩ của nhân dân trong công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranhxã hội, xây dựng đất nước. Trong quá trình phát triển của xã hội, ca dao, tục ngữsẽ tiếp tục bộc lộ những giá trị của mình, ngày càng thâm nhập một cách sâurộng vào đời sống xã hội, tô thắm cuộc sống của con người.1.2. Triết lý biện chứngTư tưởng biện chứng có từ rất sớm, hòa cùng sự phát triển của nền vănhóa loài người ở cả phương Đông và phương Tây, và được biểu hiện với nhiềuhình thức phong phú. Đó là sự nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong trạng tháivận động và phát triển; trong mối liên hệ, sự tác động với các sự vật, hiện tượngkhác; trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa những mặt đối lập cùng tồn tại trongsự vật, hiện tượng; ở sự thừa nhận một chỉnh thể trong lúc nó vừa là nó lại vừakhông phải là nó…Ngay từ khoảng thế kỉ VI – V trCN, Hêraclit – nhà triết học nổi tiếng củaHy Lạp cổ đại đã thể hiện tư tưởng biện chứng của mình:Thứ nhất: Tư tưởng về sự vận động, biến đổi của thế giớiTheo ông, mọi sự vật, hiện tượng luôn nằm trong xu hướng chung là sựvận động, phát triển; không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, bất biến cả.“Tất cả mọi cái đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định”[23, tr103].“Trong cùng một thời điểm, sự vật vừa là nó vừa là cái khác” [23, tr103].“Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [23, tr104].

Thứ hai: Tư tưởng về mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng

8

“Cùng một cái trong chúng ta: cái sống và cái chết, thức và ngủ, trẻ vàgià. Vì rằng cái này biến đổi mà là cái kia, và ngược lại, cái kia biến đổi là cáinày” [23, tr104].“Cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh đi” [23, tr104].“Mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi thú vị hơn” [23, tr104].“Sống là chết, chết là sống, chúng sống là nhờ cái kia chết, chúng chết làcho cái kia sống”[23, tr104]Ở phương Đông, cũng trong khoảng thời gian đó, Lão Tử – nhà triết họcnổi tiếng của Trung Quốc cũng thể hiện tư tưởng biện chứng của mình:Thứ nhất: Quan điểm về luật quân bình và quan điểm về luật phản phụcLuật quân bình giữ cho sự vận hành của vạn vật được cân bằng, khôngthái quá, cũng không bất cập:“Cái gì khuyết ắt tròn đầy, cái gì cong ắt thẳng, cái gì cũ sẽ lại mới”[23, tr48].“Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung chăng? Dây cung ở caoquá thì nó lại hạ xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên, dài quá thì bỏ bớt đi, ngắnquá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ thừa, bù chỗ thiếu” [23, tr48].Luật phản phục nói lên tính tuần hoàn, tính chu kì trong quá trình biếndịch của vạn vật:“Trù vật vân vân, các phục quy kì căn” (vạn vật phồn thịnh đều trở về cáigốc của nó) [23, tr49].Thứ hai: Tư tưởng về sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập“Có và không sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làmrõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” [23, tr49].“Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà sinh ra quan niềm về cái xấu, aicũng cho điều thiện là thiện mà sinh ra quan niệm về cái ác” [23, tr49].Ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng thể hiện rất rõ tư tưởng biện chứng.Chỉ có điều tư tưởng biện chứng không được thể hiện thành một hệ thốngvới những nguyên lý, những quy luật mà là sự khái quát ngẫu nhiên, bề

9

ngoài thông qua sự đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình lao động, sảnxuấ t. Và ta gọ i đó là nhữ ng triế t lý biệ n chứ ng.Chẳng hạn thể hiện sự vận động, biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng,có câu:“Tre già, măng mọc”“Người có lúc vinh, lúc nhụcNước có lúc đục, lúc trong”Thể hiện sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặt đối lập cùng tồn tại trongsự vật, hiện tượng:“Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn”“Đượ c mù a mua, thua mù a bá n”Có thể nói, sự phát triển của tư duy nhân loại hoàn toàn không phụthuộc vào vị trí địa lí. Cùng thể hiện một tư tưởng, cách biểu đạt ở nơi nàyhoặc nơi khác có thể khác nhau nhưng giữa chúng lại có những điểm tươngđồng. Chính điều này đã tạo nên sự gặp gỡ về tư tưởng giữa các quốc gia,các dân tộc ở những vùng miền khác nhau trên thế giới. Đó chính là biểuhiện của tính thống nhất trong tính đa dạng của sự phát triển tư duy nhânloại, nền văn hóa loài người.Khi nói Ca dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng triết lý biện chứng thì“triết lý biện chứng” được hiểu là gì?Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa học – Xã hội – Nhân văn – ViệnNgôn ngữ (Nxb Từ điển Bách Khoa, 2007), triết lý được hiểu theo hai nghĩa:Khi “triết lý” là một danh từ thì nó được hiểu là: Ý niệm của nhânloại đã tự ý thức được đời sống ấy lên một chỗ thích hợp nhất. Triết lý cũngnhư bao nhiêu giá trị khác, phải biến đổi theo hoàn cảnh xã hội, theophương tiện sinh hoạt của con người.Khi “triết lý” là một động từ thì được hiểu là: tỏ ý niệm riêng củamình về việc gì đó. VD: Thôi đừng triết lý nữa.

10

Theo Từ điển Triết học (Nxb Tiến bộ Matxcơva) thì “biện chứng”được hiểu là: khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tựnhiên, xã hội và tư duy.Như vậy có thể hiểu “Triết lý biện chứng” là một danh từ dùng đểchỉ: ý niệm của nhân loại ý thức được quy luật phát triển của tự nhiên, xãhội và tư duy. Và triết lý biện chứng cũng được thay đổi cùng với sự thayđổi của hoàn cảnh xã hội, phương tiện sinh hoạt của con người.Từ đó chúng ta hiểu “Triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ ViệtNam” là ý niệm của cha ông ta về những quy luật phát triển của tự nhiên,xã hội và tư duy, được rút ra thông qua thực tiễn quá trình lao động sảnxuất. Ý niệm đó được thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội,phương tiện sinh hoạt của con người.

11

CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ BIỆN CHỨNG TRONG CA DAO, TỤC NGƯVIỆT NAMTriết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ không phải là sự khái quát thànhnhững nguyên lí, những quy luật, những phạm trù mà nó là những kết luận riênglẻ, là sự đúc kết kinh nghiệm, là sự khái quát ngẫu nhiên, bề ngoài về sự vậnđộng, biến đổi của tự nhiên, xã hội và con người.Mặc dù những tri thức trong ca dao, tục ngữ là những tri thức kinh nghiệmnhưng nó đã thể hiện triết lý biện chứng một cách hết sức giản dị mà sâu sắc: Luônđặt sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển, trong mối quan hệ với các sựvật, hiện tượng khác; xem xét sự vật trong sự thống nhất mâu thuẫn giữa các mặtđối lập. Ngoài ra, triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự nhìn nhận sự vật, hiện tượngluôn trong một chỉnh thể, có nguyên nhân xuất hiện, có nội dung, hình thức, có bảnchất, hiện tượng trong mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, chịu sự chi phốibởi cái ngẫu nhiên và tất nhiên…Cụ thể, triết lý biện chứng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam thể hiện ở mộtsố nội dung cơ bản đó là:2.1. Triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong xu hướng vận động,biến đổi và phát triển.– “Tre già măng mọc”– “Sông có khúc, người có lúc”– “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”– “Hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai”– “Người có lúc vinh lúc nhục,Nước có lúc đục lúc trong”– “Cuộc đời như cảnh phù du,Sớm còn tối mất, công phu nhọc nhằn”Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định sự phát triển của mọi sựvật, hiện tượng mang tính khách quan, tính kế thừa và tính đa dạng phong phú.12

Sự phát triển mang tính khách quan.Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật, domâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Đó là quá trình liên tục giải quyết nhữngmâu thuẫn trong bản thân sự vật. Sự phát triển như vậy không phụ thuộc vào ýmuốn, nguyện vọng của con người. Dù con người có muốn hay không thì sự vậtvẫn vận động, phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất.– “Trăng đến rằm thì trăng tròn,Sao đến tối thì sao mọc”– “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”– “Ngày đi, trúc chửa mọc măngNgày về, trúc đã cao bằng ngọn treNgày đi, lúa chửa chia vè,Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồngNgày đi, em chửa có chồngNgày về, em đã con bồng, con mang”Sự phát triển mang tính kế thừa.Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng của cái cũ, là sự phát triển tiếp tụccủa cái cũ trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời của cái cũ và chọn lọcgiữ lại những mặt thích hợp với hiện thực.“Tre già măng mọc”Sự vật mới ra đời, dần thay thế cho sự vật cũ: “tre già” thì “măng mọc”.Tuy nhiên sự vật mới ra đời không phải trên mảnh đất trống không mà phải trêncơ sở kết thừa nền tảng, yếu tố tích cực của sự vật cũ. “Măng” ra đời trên nềntảng, gốc rễ của khóm tre già có từ trước nó. Nó không thể đứng độc lập mộtmình mà chỉ có thể phát triển trong sự bao bọc, chở che của khóm tre già.Sự phát triển mang tính đa dạng phong phú.Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của sự vật, hiện tượngsong ở mỗi hoàn cảnh cụ thể các sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triểnkhác nhau.– “Người đời khác nữa là hoa,Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn”13

– “Trời còn có khi nắng khi mưa,Ngày còn khi sớm khi trưa nữa người”Triết lý biện chứng còn thể hiện ở sự khẳng định mọi sự vật, hiện tượngvận động, biến đổi, phát triển đều bằng phương thức nhất định.Phương thức của sự phát triển là sự tích lũy, biến đổi về lượng dẫn đếnsự thay đổi về chất.– “Tích tiểu thành đại”– “Góp gió thành bão”– “Năng nhặt chặt bị”Mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng cũng được thể hiện một cách hếtsức phong phú, sinh động, mang tính đặc thù. Tuy không trực tiếp nói đến kháiniệm “chất”, “lượng” nhưng ca dao, tục ngữ đã phần nào thể hiện mối quan hệgiữa số lượng và chất lượng trên tinh thần biện chứng.Trước hết, khi phân biệt chất khác nhau được tạo nên từ những thuộc tínhkhác nhau có câu:– “Chẳng chua cũng thể là chanh,Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”– “Chẳng thanh cũng thể hoa lài,Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”– “Chẳng vui cũng thể hội Thầy,Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài”Chất khác nhau tạo ra các giá trị khác nhau:– “Trăng mờ còn tỏ hơn sao,Dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi”– “Tối trăng còn hơn sáng sao,Phơn phớt lòng đào hơn thắm màu vang”Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng:– “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”– “Văn hay chẳng lọ dài dòng”– “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”14

Và không thể lấy lượng thay chất được dù rằng lượng gấp bao nhiêu lần:“Trăm đom đóm không bằng bó đuốc,Trăm hòm chì chẳng đúc nên chuông”Khi sự vật tích lũy đủ về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy đểtạo ra sự thay đổi về chất, chất mới ra đời.– “Quá mù sang mưa “– “Tốt quá hóa lốp”– “Mèo già hóa cáo”– “Góp gió thành bão, góp cây nên rừng”– “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”– “Rượu lạt uống lắm cũng sayNgười khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm”– “Năng mưa thì giếng năng đầyAnh năng đi lại, mẹ thầy năng thương”Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng, chất mới ra đời sẽtác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô,trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật.– “Cái khó bó cái khôn”– “Phú quý sinh lễ nghĩa”Khi con người ta trở từ nghèo khổ trở nên giàu có thì sẽ dẫn đến sự thay đổitrong cách nghĩ, cách làm, cách đối xử với mọi người: “phú quý” sinh “lễ nghĩa”.Với những hình ảnh hết sức gần gũi, giản dị, ca dao, tục ngữ đã thể hiệntư tưởng biện chứng về sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng.Phát triển là xu hướng tất yếu khách quan, thông qua sự tích lũy dần về lượng sẽdẫn đến sự thay đổi về chất và khi đó sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn đề cao vai trò của thực tiễn trong việc xemxét sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng:– “Thức khuya mới biết đêm dài,Sống lâu mới biết lòng người có nhân”– “Lên non mới biết non cao,Lội sông mới biết lạch nào cạn sâu”15

– “Cởi ra mới biết béo gầy,Đến khi cả gió, biết cây cứng mềm”– “Gừng già, gừng rụng, gừng cay,Anh hùng càng cực, càng dày nghĩa nhân”– “Có gió rung, mới biết tùng bách cứngCó ngọn lửa hừng, mới rõ thức vàng cao”Từ việc thấu hiểu triết lý về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng,thông qua ca dao, tục ngữ, cha ông ta còn đúc rút được kinh nghiệm trong cuộcsống. Đó là sự khẳng định vai trò to lớn của lao động đối với cuộc sống con người.– “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”– “Muốn no thì phải chăm làm,Một hột thóc vàng, chín hột mồ hôi”– “Khen nết hay làm ai khen nết hay ăn”– “Có vất vả mới thanh nhàn,Không dưng ai dễ cầm tàn che cho”– “Số giàu đưa đến dửng dưngLọ là con mắt tráo trưng mới giàu”Ngoài ra, nói đến lao động thì không thể không nói đến công cụ lao động,yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất. Ca dao, tục ngữ đề cao vai trò củacông cụ lao động. Thông qua quá trình lao động sản xuất mà con người đã đúcrút được những kinh nghiệm để chế tạo những công cụ lao động phù hợp vớitừng công việc sản xuất:“Gỗ kền anh để đóng cày,Gỗ lim, gỗ sến, anh nay đóng bừa…”Lao động của con người là lao động có mục đích, có ý nghĩa nên loài ngườiđã chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho mục đích của mình. Conngười còn biết sáng chế công cụ, cải tạo kĩ thuật canh tác như:“Răng bừa tám cái còn thưa,16

Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống to.Muốn cho lúa nảy bông to,Cày sâu, bừa kĩ, phân tro cho nhiều…”Trong lao động, thông qua giao tiếp, con người đã tạo nên các mối quanhệ xã hội:– “Lời chào cao hơn mâm cỗ”– “Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”Như vậy, vận động là tất yếu, khách quan đối với mọi sự vật, hiện tượngtrong đó có con người. Nguồn gốc của sự vận động nằm ngay trong bản thân sựvật. Thông qua sự tích lũy dần về lượng, đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy đểtạo ra sự thay đổi về chất đã dẫn đến chất mới ra đời thay thế cho chất cũ. Đó chínhlà phương thức của sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng.2.2. Triết lý về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong mối quan hệ với cácsự vật, hiện tượng khác.Ca dao, tục ngữ đã nói lên mối quan hệ mang tính tất yếu khách quangiữa mọi sự vật, hiện tượng. Mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại và phát triểntrong mối quan hệ tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau.“Nguồn đục dòng cũng đục”Vì “nguồn” và “dòng” có mối quan hệ mật thiết với nhau cho nên khi“nguồn đục” thì “dòng cũng đục”. Và hiện tượng này mang tính khách quan,không phụ thuộc vào ý muốn của con người.“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”Câu tục ngữ trên nói lên mối liên hệ, sự tác động mang tính tất yếu củayếu tố môi trường đối với sự phát triển nhân cách con người.“Gần lửa rát mặt”“Nhiệt” là đặc tính khách quan của lửa cho nên “gần lửa” thì “rát mặt” làkết quả của đặc tính khách quan và nó không phụ thuộc vào ý muốn của con người.Bất kì một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kì thời gian và không gian nàocũng có mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Ngay trong cùng một sự17

18

khác. Và sự tác động, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng luôn mang tínhkhách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.Ca dao, tục ngữ còn đề cập tới mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên:“Khi vui non nước cũng vuiKhi buồn, sáo thổi kèn đôi cũng buồn”Đặc biệt ca dao, tục ngữ còn thể hiện một cách sinh động tư tưởng “thiênnhân tương ứng” – trời có gì thì con người có cái ấy. Vì thế cho nên mới cónhững cách ví von đậm tính triết học:“Cổ tay em trắng như ngà,Con mắt em liếc như là dao cau.Miệng cười như thể hoa ngâu,Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”Khi phản ánh những vấn đề về con người và xã hội, ca dao, tục ngữ đã thểhiện rất rõ tư tưởng nhân đạo trên lập trường duy vật. Trong ca dao, tục ngữ,con người vừa là một thực thể sinh học vừa là một thực thể xã hội.Là một thực thể sinh học, con người cũng có những nhu cầu tối thiểu như:ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, ăn là nhu cầu hàng đầu:-“Mẻ không ăn cũng chết”– “Có thực mới vực được đạo”Sau ăn là mặc: “Bụng được no còn lo ấm cật”Ăn no, mặc ấm là nhu cầu thiết yếu, hàng đầu của con người. Tuy nhiên,không chỉ là một thực thể sinh học mà con người còn là một thực thể xã hội. Dođó mà:– “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”– “Uống nước nhớ nguồn,Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”Không chỉ dừng lại ở đó, con người còn ý thức được rằng:– “Có làm thì mới có ănKhông dưng ai dễ đem phần đến cho”– “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”Về cái mặc, lúc này mặc không chỉ là nhu cầu “che thân” cho “ấm cật”mà nó trở thành nhu cầu thẩm mỹ, làm tôn thêm vẻ đẹp cho con người:19

“Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”Cái ăn, cái mặc đối với con người cũng phải có điều độ:“Cơm ba bát, áo ba manh,Đói không xanh, rét không chết”Và cho dù có nghèo đói thì con người vẫn giữ cái nét đẹp văn hoá cho mình:“Đói cho sạch, rách cho thơm”Bởi vì người ta ý thức được rằng:“Hơn nhau manh áo tấm quầnCởi ra ai cũng mình trần như ai”Đề cao giá trị con người, tục ngữ có câu: “Người ta là hoa đất” thể hiệnsâu sắc, tinh tế quan niệm về cả vũ trụ và nhân sinh với một tư tưởng nhân văncao đẹp. Câu tục ngữ trên đã khẳng định: con người là một bộ phận của giới tựnhiên, có quan hệ mật thiết với giới tự nhiên, là sản phẩm kết tinh những gì tốtđẹp nhất, tinh tuý nhất của giới tự nhiên.Khẳng định con người là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất cho xãhội, ca dao, tục ngữ thường so sánh con người với của cải, và bao giờ cũng đặtcon người lên trên hết:– “Người làm ra của, của không làm ra người”– “Một mặt người bằng mười mặt của”– “Người sống hơn đống vàng”Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt coi trọng giá trị tốt đẹp của con người:– “Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,Người khôn ai nói nặng lời làm chi”– “Kim vàng ai nỡ uốn câu,Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”– “Người khôn không nỡ roi đòn,Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

20

Ca dao, tục ngữ phần nào cũng khẳng định cuộc sống con người có rấtnhiều khó khăn, muốn làm con người cho ra con người cũng không phải dễ dànggì. Con người muốn sống thì phải lao động, phải lo toan mọi bề, phải đấu tranhvới chính bản thân mình để vươn lên trong cuộc sống, phải điều tiết mọi mốiquan hệ, để có thể sống được:– “Làm người suy chín, xét xa,Cho tường gốc ngọn, cho ra vắn dài”– “Làm người phải đắn phải đo,Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu”– “Làm người ăn tối lo mai,Việc mình hồ dễ để ai đo lường”

– “Năm canh thì ngủ lấy ba,Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn”– “Người ta hữu tử hữu sanh,Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm”Ca dao, tục ngữ đã thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa cá nhân với xã hội, và phần nào cũng khẳng định trong tính hiệnthực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên,đó không phải là các mối quan hệ kinh tế, chính trị… mà trong ca dao, tục ngữđó là mối quan hệ của con người với gia đình, anh em, bạn bè… Chính nhữngmối quan hệ này đã tạo nên bản chất xã hội của con ngườiTrong quan hệ với cha mẹ, đó là tình thương yêu, sự kính trọng, biết ơncông lao sinh thành, dưỡng dục của người con đối với cha mẹ mình:– “Cây khô chưa dễ mọc chồiBác mẹ chưa dễ ở đời với taNon xanh bao tuổi mà giàBởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu”21

– “Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con”– “Lên non mới biết non caoNuôi con mới biết công lao mẫu từ”– “Đói lòng ăn quả chà làDành cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”– “Tu đâu cho bằng tu nhàThờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”– “Mỗi đêm mỗi thắp đèn trờiCầu cho cha mẹ sống đời với con”Trong quan hệ vợ chồng, đó là tình yêu thương son sắt, thủy chung, cùngnhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của cuộc sống.– “Rủ nhau lên núi đốt thanChồng mang đòn gánh, vợ mang quanh gànhCủi than nhem nhuốc với tìnhGhi lời vàng đá xin đừng quên nhau”– “Râu tôm nấu với ruột bầuChồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”– “Chồng em áo rách em thươngChồng người áo gấm sông hương mặc người”– “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”Trong quan hệ bạn bè, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau– “Giàu vì bạn sang vì vợ”– “Bạn bè là nghĩa tương tri,Sao cho sau trước một bề mới nên”22

Trong tình bạn cũng có sự chọn lựa:– “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn”– “Bạn vàng lại gặp bạn vàngLong, lân, quy, phượng một đoàn tứ linh”Sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quan hệ bạn bè còn thể hiện sự thiđua nhau trong học tập, không ngừng phấn đấu để phát triển– “Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly”– “Học thầy không tầy học bạn”Trong quan hệ thầy trò, đó là sự kính trọng và biết ơn công lao củangười thầy:– “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”– “Không thầy đố mày làm nên”– “Mấy ai là kẻ không thầy,Thế gian thường nói đố mày làm nên”– “Dốt kia thì phải cậy thầy,Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên”Đặc biệt trong ca dao, tục ngữ còn thể hiện mối quan hệ giữa gia đình vànhà trường trong việc phối hợp giáo dục con trẻ:“Muốn sang thì bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”Câu ca dao đã phần nào khẳng định quá trình giáo dục không chỉ đơnthuần là quá trình diễn ra ở nhà trường với sự tác động giữa thầy và trò mà quátrình giáo dục trong nhà trường có quan hệ mật thiết với các quá trình giáo dụcgia đình và giáo dục xã hội. Qua đó thể hiện một cách gián tiếp tư tưởng biệnchứng của quá trình giáo dục. Ở đây “yêu lấy thầy” có nghĩa là sự quan tâm,kính trọng, biết ơn công lao của người thầy, cùng phối kết hợp với thầy trongviệc giáo dục con trẻ.23

Trong quan hệ với anh em, đó là là sự yêu thương, đùm bọc, nhường nhịnlẫn nhau:– “Chị ngã em nâng”– “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”– “Anh em như thể tay chânRách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”– “Khôn ngoan đá đáp người ngoàiGà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”Trong quan hệ với láng giềng, đó là sự giúp đỡ lẫn nhau:“Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”Hàng xóm sống thân tình, gắn bó với nhau như anh em họ hàng. Đôi khianh em họ hàng vì hoàn cảnh xa cách nên không thường xuyên quan tâm, giúpđỡ được nhau thì hàng xóm, láng giềng chính là nơi ta có thể cậy nhờ, giúp tavượt qua không ít khó khăn trong cuộc sống. Cho nên mới có câu:“Bán anh em xa mua láng giềng gần”Trong quan hệ với người khác:– “Thương người như thể thương thânLá lành đùm lá rách”– “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,Người trong một nước phải thương nhau cùng”– “Bầu ơi thương lấy bí cùng,Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”– “Thương người, người lại thương ta,Ghét người, người lại hóa ra ghét mình”Ca dao, tục ngữ còn đặc biệt nhấn mạnh tình yêu đối với trẻ nhỏ và tínhcảm kính trọng đối với những người có tuổi:“Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà;Kính già, già để tuổi cho”24

Trong quan hệ tình yêu nam nữ:– “Em ơi! chua ngọt đã từng,Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau!”– “Em về, anh mượn khăn tay,Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên”– “Cây đa rụng lá đầy đình,Bao nhiêu lá rụng ta thương mình bấy nhiêu”– “Yêu nhau chẳng quản đường xaĐá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”– “Yêu nhau vạn sự chẳng nề,Một trăm gỗ lệch cũng kê cho bằng”– “Yêu nhau, ruột héo xương mònYêu nhau đến thác vẫn còn yêu nhau”Câu ca dao thể hiện sự cùng nhau chịu đựng gian khổ của những ngườilao động “tạc nghĩa đá vàng”, làm cho họ quyết một lòng chung thủy, cùngnhau gắn bó keo sơn vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Trên cơ sở tình yêu thắmthiết của đôi trai gái họ đã xây dựng lên những gia đình hạnh phúc.Qua những câu ca dao, tục ngữ trên ta thấy chính những mối quan hệ đadạng giữa con người với con người trong cuộc sống đã làm nên bản chất tốt đẹpcủa con người Việt Nam: thủy chung, son sắt, ân tình, nghĩa tình thống nhấttrong mọi mối quan hệ, tạo nên bản chất xã hội trong mỗi con người.Như vậy, sự vật, hiện tượng, kể cả con người luôn tồn tại và phát triểntrong sự tác động, trong mối liên hệ với các sự vật khác, với cá nhân khác và vớixã hội. Không có sự vật, hiện tượng nào phát triển mà tồn tại biệt lập, tách rờivới thế giới xung quanh, với môi trường xã hội.2.3. Triết lý về mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượngĐó là cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong sự thống nhất mâu thuẫngiữa các mặt đối lập.25

Người Già Trong Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam / 2023

(Ngày ngày viết chữ) Bài viết này nói về những quan niệm của người Việt đối với người già, tuổi già thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

Già là túi khôn, là vốn quý

Người già có nhiều kinh nghiệm, họ trải qua nhiều nỗi thăng trầm, nhìn thấu mọi lẽ thường lẫn bất thường của xã hội:

Bà già đeo bị hạt tiêu, Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

Cho nên, từ lâu, người Việt đã xem người già là túi khôn, là vốn quý. Thành ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” chính là để nói sự lõi đời của người cao tuổi. Người Việt thường cảm thán (xen chút ngưỡng mộ) rằng “Gừng càng già càng cay” và không quên dặn “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

Nói về mối quan hệ giữa người trẻ với người già, người Việt còn có câu “Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già”, để thấy rằng trẻ và già nên nương tựa nhau, bổ sung cho nhau. Một gia đình có già có trẻ, người trẻ được bảo ban, người già được chăm sóc, đó chính là phúc. Cho nên người Việt xưa rất thích những gia đình tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường. Sự tháo vát của người già còn thể hiện ở câu “Một mẹ già bằng ba con ở”.

Lại nói, dù dân gian có nhiều câu nói thể hiện chuyện cha mẹ già khó khăn, làm duyên con bẽ bàng, nhưng đồng thời cũng có những câu như:

Canh suông  khéo nấu thì ngon, Mẹ già khéo nói  thì con đắt chồng.

để biểu đạt vai trò quan trọng của bậc sinh thành khi vun vén duyên con.

Hiếu đễ với người già

Nhìn chung, người Việt kính trọng người già. Câu tục ngữ “Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già già để tuổi cho” hầu như không người Việt nào không biết. Trong gia đình, chuyện hiếu kính với cha mẹ cực kỳ quan trọng. Và những câu ca dao nhắc nhau hiếu thuận với cha mẹ già thực sự rất nhiều.

Mẹ già hai đứa nuôi chung, Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

Mẹ già đầu bạc như tơ, Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc? Dốc mô ngược bằng dốc Mỹ Cang? Một tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ, Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp mật, như đường mía lau. Đường mía lau càng lâu càng ngát, Xôi nếp mật ngào ngạt hương say. Ba hương lây lất tháng ngày, Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi. Mẹ già như áng mây trôi, Như sương trên cỏ, như lời hát ru. Lời hát ru vi vu trong gió, Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan. Mây trôi lãng đãng trên ngàn, Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.

Trời mưa cho ướt lá dừa, Cho tươi luống cải cho vừa lòng em. Cho em hái đọt rau dền, Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

Con cá đối  nằm trên cối đá, Chim đa đa  đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, bậu  lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà  ai dưng ?

Sợ tuổi già

Mặc dù xem người già là túi khôn, là đáng kính trọng, nhưng người Việt (và lẽ nhiều dân tộc khác trên thế giới) cũng rất sợ tuổi già. Bởi “Trẻ khôn ra, già lú lại”, ai mong già làm gì.

Lý do một cô gái thôi chờ đợi một chàng trai thường là:

Một năm một tuổi một già, Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.

“Cái tuổi nó đuổi xuân đi”, nên các cô gái thường mang tâm lý:

Ai ơi, trẻ mãi ru  mà, Càng đo đắn  mãi càng già mất duyên.

Mướp  già thì mướp có xơ, Gái già thì gái nằm trơ một mình.

Cau già lỡ lứa bán trăm, Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Thành ngữ “Già kén kẹn hom” cũng dùng để nói chớ có kén chọn mà lỡ duyên thế này. Kén của con tằm nếu để quá lâu sẽ dính chặt vào hom (những búi rơm, rạ hoặc cây rang, cây bổi…), khó gỡ ra. Ở đây chơi chữ  “kén” trong ‘kén tằm’ đồng âm với “kén’ trong “kén chọn”. Ý của thành ngữ này là nếu quá kén chọn sẽ dễ dẫn đến quá lứa, lỡ thì.

Trường hợp lứa đã quá, thì đã lỡ, có cô than:

Cau già dao bén thì ngon, Người già trang điểm phấn son cũng già.

Thế nhưng cũng có cô rất lạc quan:

Cau già khéo bổ thì non, Nạ dòng  trang điểm lại giòn  hơn xưa.

Gà già khéo ướp lại tơ, Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

Còn như khi không thể để bản thân lỡ thì mà lo bến đỗ trước, và rồi phải từ chối chàng trai từng ước hẹn, các cô cũng rằng:

Anh về kiếm vợ kẻo già, Kiếm con kẻo muộn, em đà  có đôi.

Trong cuộc sống, người ta thường dặn nhau lúc còn trẻ khỏe phải biệt lo liệu, đừng để đến già kẻo mà:

Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già, Chẳng lo liệu trước ắt là lụy  sau.

Tre già nhiều người chuộng, Người già ai chuộng làm chi.

Thế nhưng, cũng vì sợ tuổi già đến, chưa kịp chơi cho thỏa đã không còn sức, nên mới có câu:

Ai ơi chơi lấy kẻo già, Măng  mọc có lứa người ta có thì. Chơi xuân kẻo hết xuân đi, Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

Và tâm lý muốn lớn nhanh để chơi ai cũng có, nhưng lại sợ:

Muốn cho mau lớn mà chơi, Mới lớn vừa rồi, già lại theo sau.

Duyên nợ với người già

Mặc dù người Việt có câu:

Chồng già vợ trẻ là tiên, Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời.

nhưng nhìn chung người Việt thường muốn sánh duyên cùng người có tuổi tác tương xứng.

Ông già tôi chẳng lấy ông đâu, Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

Sở dĩ không muốn lấy chồng già là vì:

Con gái lấy phải chồng già, Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng.

rồi bị xóm giềng cười nhạo:

Nhà bà có ngọn mía mưng, Có cô gái út mà ưng ông già.

Chuyện cười nhạo đôi khi thái quá, khiến các cô phải ném hết thẹn thùng mà phản bác:

Tiếng đồn em lấy chồng già, Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng ? – Tre già còn dẻo hơn măng, Ớt cà ra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ.

Nhưng không muốn lấy chồng già chủ yếu là do những chuyện trái khoáy khác:

Vô duyên lấy phải chồng già, Ra đường bạn hỏi rằng cha hay chồng? Nói ra đau đớn trong lòng, Chính thực là chồng có phải cha đâu. Ngày ngày vác cối giã trầu, Tay thời rót nước, tay hầu cái tăm. Đêm đêm đưa lão đi nằm, Thiếp đặt lão xuống, lão nằm trơ trơ. Hỡi ông lão ơi! Ông trở dậy cho thiếp tôi nhờ, Để thiếp tôi kiếm chút con thơ bế bồng. Nữa mai người có thiếp không, Xấu hổ với chúng bạn, cực lòng mẹ cha.

Gà tơ xào với mướp già, Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi. Ra đường, chị giễu  em cười, Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông, Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên, Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

Ngược lại, các ông cũng không ham gì vợ già:

Vô duyên lấy phải vợ già, Ăn cơm phải đút, xin bà nuốt nhanh. Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Vừa chơi, vừa phá tung hoành tứ tung.

Thế nhưng, nếu đã vào thế lấy vợ già, các ông cũng cố mà tìm ra điểm tốt:

Canh bầu  nấu với cá trê, Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Có phúc lấy được vợ già, Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh. Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi.

hòng giữ cho gia đạo bình an. Đó có lẽ cũng là một biểu hiện của tinh thần luôn cố gắng lạc quan thường thấy ở người Việt.

Nếu các cô không ham chồng già thì ngược lại, các ông già cũng không ham gì vợ trẻ, bởi:

Người già mà lấy vợ tơ, Như liều thuốc độc để hờ bên thân.

Con gái mà lấy chồng già, Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn.

Thế nhưng, cũng có khi, ông già thương thật, nên khi bị người mình để bụng thương chê, các cụ liền nói đạo lý:

– Ông già tui chẳng ưa đâu, Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài. – Con tôm con tép còn râu, Huống chi  em bậu  câu mâu  sự đời. Thương nhau vừa dặm vừa dài, Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?

Có khi, các cụ vội vã phân bua, thể hiện:

Già thì già tóc già râu, Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!

Càng già càng dẻo càng dai, Càng gãy chân chõng , càng sai chân giường.

Cười nhạo người già

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có kính trọng, nể vì thì cũng có chế giễu, nhạo báng. Có khi người ta cất lời chê già khó tính:

Ai làm cho chuối không cành, Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già. Mẹ già như mẹ người ta, Thì anh có vợ trong nhà đã lâu. Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu, Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

Hoặc càm ràm mấy câu như “Già sinh tật, đất sinh cỏ’, hay “Trẻ đeo hoa, già đeo tật”. Cũng có khi dân gian lên tiếng đánh thẳng vào những thói hư tật xấu, thường là chê trách cái nết không chuyên chính:

Bà già đã tám mươi tư, Ngồi bên cửa sổ đưa thư kén chồng.

Bà già tuổi tám mươi hai, Ngồi trong quan tài hát ghẹo ông sư.

Bà già đi chợ Cầu Đông, Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? Thầy bói gieo quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!

Ấy vậy mà, đâu đó vẫn có thể bắt gặp những câu ca dao nửa chê trách, nửa cảm thông:

Già thì bế cháu ẵm  con, Già đâu lại muốn cau non trái mùa. – Già thì lễ Phật đi chùa, Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

“Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn” vừa là lời chống chế của người già, vừa là lời bênh vực của dân gian dành cho người già. Rằng thói đó âu cũng là lẽ thường.

Về cánh các ông già, các nết không đứng đắn cũng không thoát được con mắt tinh tường và cái miệng thẳng thừng của dân gian:

Ông già bạc phếu râu tôm Thấy dâu quét bếp còn lườm mắt dê

Ông già ông đội nón cời, Ông ve  con nít ông Trời đánh ông.

Điểm qua một vài thành ngữ, tục ngữ, ca dao như thế, mới thấy cái nhìn của dân gian đối với người già, tuổi già vô cùng đa diện, đặc sắc, có khen có chê, có nể có khinh. Điều đó không chỉ cho thấy thái độ của dân gian mà còn biểu hiện khả năng dùng từ, đặt câu biến hóa, lời lẽ khi khen, khi yêu thì chân thành, cảm động, khi chê, khi ghét thì chua chát, sâu cay.

Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam / 2023

Những câu ca dao tục ngữ của cha ông khi nói về văn hóa ăn uống Việt nam:

1. Địa phương nào, món ăn nấy .

* Chẳng ai nhớ cháo làng GhềNhớ cơm phố Mía, nhớ chùa Đông Viên.

* Dưa La, cà Láng , nem Báng, tương BầnNước mắm Van Vân, cá rô Đầm Sét.

* Yến xào Vĩnh SơnNam sâm Bố TrạchCua gạch Quảng KhêSò nghêu Quan HàRượu dâu Thuần Lý

* Nem cá Hoa VàngBánh tổ Hội AnKhoai lang Trà KiệuThơm rượu Tam kỳ

* Muốn ăn bánh ích lá gaiLấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

* Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còngVề sông ăn cá ,về đồng ăn cua.

2. Tập quán lễ nghi qua mỗi món ăn

*Anh thương em chẳng nại sang giàuMứt hồng đôi lượng , trà Tàu đôi cân.

* mâm trầu hủ ruợu đàng hoàngCây mai đến nói, phụ mẫu nàng thì xong.

* Tay bưng quả nếp vô phòngđèn hương đôi ngọn , chữ bá tòng cầu hôn.

*Tiếng đồn con gái Phú YênCon trai Bình Thuận đi cưới một thiên cá mòi.

* Mẹ tôi tham thúng xôi dềnTham con lợn béo, tham tiền Cảnh HưngTôi đã bảo mẹ “đừng”.Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vàoBây giờ chồng thấp vợ caoNhư đôi đũa lệch so sao cho vừa.

3. Tình yêu quê hương xứ sở.

*Rủ nhau xuống bể mò cuaĐem về nấu quả mơ chua trên rừngAi ơi, chua ngọt đã từngNon xanh, nước biếc ta đừng quên nhau.

* Ta về ta lấy cần câuCâu con cá bống ,nấu canh tập tàng.

*Năm tiền một khúc cá buôiGiã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

* Má ơi đừng đánh con đauĐể con bắt ốc hái rau má nhờMá ơi đừng đánh con hoàiĐể con bắt ốc hái xoài mà ăn.

*Đói lòng ăn đọt chà làĐể cơm nuôi mẹ , mẹ già yếu răng.

* Rượu nằm trong nhạo chờ nemAnh nằm phòng vắng chờ em một mình .

* Bữa ăn có cá cùng canhAnh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng.

* Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốnDựa lưng nàng như uống chén rượu ngon.

Về tầm quan trọng của ăn uống

* Trời đánh còn tránh bữa ăn * Có thực mới vực được đạo * Dân dĩ thực vi tiên (người dân lấy ăn làm đầu) * Ăn được ngủ được là tiên

Về cách ăn và thái độ trong ăn uống

* Ăn trông nồi, ngồi trông hướng * Miếng ăn là miếng nhục * Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp * Ăn cây nào rào cây nấy * Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Về đặc sản các vùng miền

* Ăn Bắc mặc Nam. (Bắc ở đây là miền Bắc, còn Nam là miền Nam Việt Nam). * Ăn Bắc mặc Kinh. (Bắc ở đây là miền Bắc, còn Kinh là xứ Huế). * Bánh cuốn Thanh Trì, bánh gì (giầy) Quán Gánh. * Bánh giầy làng Kẻ, bánh tẻ làng So * Bánh đúc làng Kẻ, bánh tẻ làng Diễn * Giò Chèm, nem Vẽ, chuối Xù. * Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần. Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét * Ổi Định Công, hồng làng Quang, chè vối cầu Tiên, rượu hũ làng Ngâu, bánh đúc trâu làng Tó… * Kẹo mạch nha An Phú, kẻ Lủ thì bán bỏng rang, khoai lang Triều Khúc,… * Cháo Dương, tương Sủi v.v.

Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì Tương Bần, húng Láng có gì ngon hơn? Vải Quang, húng Láng ,ngổ Đầm Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây Thanh Trì có bánh cuốn ngon Có gò Ngũ nhạc có con sông Hồng

Bí quyết nấu nướng

Con gà cục tác lá chanh Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi Con chó khóc đứng khóc ngồi Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Về các món ăn kỵ nhau

Trứng vịt, lẫn tỏi, than ôi?Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!

Mật ong, sữa, sữa đậu nành?Ăn cùng tắc tử – phải đành xa nhau!

Gan lợn, giá, đậu nực cười?Xào chung, mất sạch bổ tươi ban đầu!

Thịt gà, kinh giới kỵ nhau?Ăn cùng một lúc, ngứa đầu phát điên!

Thịt dê, ngộ độc do đâu?Chỉ vì dưa hấu, xen vào bữa ăn!

Ba ba ăn với dền, samBụng đau quằn quại, khó toàn vẹn thân!

Động kinh, chứng bệnh rành rành?Là do thịt lợn, rang chung ấu Tầu!

Chuối hột ăn với mật, đường?Bụng phình, dạ trướng, dọc đường phân rơi!

Thịt gà, rau cải có câu?Âm dương, khí huyết thoát vào hư vô!

Trứng vịt, lẫn tỏi, than ôi?Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!

Cải thìa, thịt chó xào vô?Ăn vào, đi tả, hôn mê khôn lường!

Sữa bò, cam, quýt, bưởi, chanh?Ăn cùng một lúc, liên thanh sấm rền!

Quả lê, thịt ngỗng thường thường?Ăn vào cơ thể đùng đùng sốt cao!

Đường đen pha sữa đậu nành?Đau bụng, tháo dạ, hoành hành suốt đêm!

Thịt rắn, kị củ cải xào?Ăn vào, sao thoát lưỡi đao tử thần!

Nôn mửa, bụng dạ không yên?Vì do hải sản ăn liền trái cây!

Cá chép, cam thảo, nhớ rằng?Ăn chung, trúng độc, không cần hỏi tra!

Nước chè, thịt chó no say?Thỉnh thoảng như thế, có ngày ung thư!

Chuối tiêu, môn, sọ phiền hà?Ruột đau quằn quại, như là dao đâm!

Khoai lang, hồng, mận ăn vô?Dạ dày viêm loét, tổn hư tá tràng!

Ai ơi, khi chưa dọn mâm?Nhắc nhau nấu nướng, sai lầm hiểm nguy!

Giàu Vitamin C chớ có tham (1)Nấu cùng ốc, hến, cua, tôm, nghêu, sò!

Ăn gì? ăn với cái gì?Là điều cần nhớ, nên ghi vào lòng!Chẳng may ăn phải, vài giờ?Chúng tạo chất độc bảng A chết người!Quý nhau mời tiệc lẽ thường!Thức ăn tương phản, trăm đường hại nhau!———————