Chữ Hiếu Trong Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Cha Mẹ
  • Những Câu Thư Pháp Nói Về Cha Mẹ
  • Dịch Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Sang Tiếng Anh
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lí Qua Thơ , Ca Dao – Tục Ngữ
  • Bài Tập 1 66 Với Ca Dao Người Bình …
  • Công Cha như núi Thái Sơn,

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Tinh thần hiếu đễ của người Á Đông nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng đã thấm sâu vào xương tủy của mọi người, và phát khởi ra sự sinh hoạt bên ngoài tạo nên những nét đẹp cao quý, thành ca dao, tục ngữ, thành đặc tính tinh thần Đông Phương. Có lẽ chỉ có người Á Đông mới có tục lệ chúc thọ cho ông bà, cha mẹ và cũng có lẽ chỉ có người Á Đông mới yêu chuộng tinh thần “đại gia đình” – Ông bà, cha mẹ, con cháu, chắt, chút chít… sống quây quần đầm ấm trên cùng một mảnh đất gia tiên, bao bọc bởi lũy tre xanh, hàng dậu bông bụt – Và vì thế nên tình thân được nẩy nở, đơm hoa kết trái để luôn luôn gần gũi, thương yêu và đùm bọc với nhau.

    Có hình ảnh nào đẹp hơn cảnh gia đình xum họp trong những buổi chiều nhàn nhã, gió hiu hiu nhẹ thổi vừa đủ để bà nằm võng đu đưa, tay ôm đứa cháu nhỏ nhè nhẹ hát ru cháu dưới bóng mát của hàng cây sau vườn; ông ngồi kể truyện cổ tích với đàn cháu vây quanh vừa lắng tai theo dõi vừa nhổ tóc sâu, thỉnh thoảng lại chen vào những câu hỏi thơ ngây làm câu chuyện thêm rộn ràng giữa hương thơm của hoa cau, hoa bưởi ngạt ngào trong không gian miền thôn dã. Hoặc những buổi tối: “… Cha tôi ngồi xem báo, me tôi ngồi đan áo, bên cây đèn dầu hao…”

    Tinh thần chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam được diễn đạt qua những câu thơ sau đây của Trần Kế Xương càng làm nổi bật những đức tính hy sinh của người mẹ, người vợ:

    – Quanh năm buôn bán ở ven sông.

    Nuôi đủ năm con với một chồng…

    Mẹ đã tảo tần thức khuya, dậy sớm lo việc tang tầm, thu vén nhà cửa, không những lo cho con mà còn phải lo cho người chồng thư sinh chỉ biết việc bút nghiên:

    – Canh một dọn cửa dọn nhà,

    Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,

    Canh tư bước sang canh năm,

    Trình anh dậy học chớ nằm làm chi.

    Lỡ mai Chúa mở khoa thi,

    Bảng vàng kia cũng sẽ đề tên anh.

    Hay là:

    – … Nửa đêm về sáng gánh gồng nuôi con…

    – Nuôi con buôn bán tảo tần,

    Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

    Những khi trái nắng trở trời,

    Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn đời vất vả triền miên,

    Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con.

    Tấm lòng của mẹ thật bao la, mênh mông như trời bể, mặc thân gầy yếu, hao mòn chỉ mong cho con được khôn lớn, mẹ đã vắt cạn dòng sữa thơm cho con được no đủ:

    – Bồng con cho bú một hồi,

    Mẹ đã hết sữa con vòi, con la.

    Lại còn những khi con đau ốm, mẹ nào được an giấc:

    – Con ho lòng mẹ tan tành,

    Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

    Mẹ đã đem hết sức mình để bảo bọc, che chở cho con được an lành, bình yên:

    – Nuôi con chẳng quản chi thân,

    Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    Tấm lòng mẹ trải rộng bao la, không nghĩ gì đến sức khỏe bản thân chỉ nhất mực lo cho con, dù suốt đêm không chợp mắt:

    – Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

    Năm canh chày thức đủ vừa năm.

    Nào đã hết, ngoài việc chăm nuôi, cho con bú mớm, mẹ phải thay cha nuôi dạy con cái:

    – … Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân…

    Mẹ còn phải năng động hơn, xông xáo hơn để giáo dục, truyền đạt cho con những kinh nghiệm cá nhân mong con khôn ngoan, thành đạt trong xã hội:

    – Ví dầu cầu ván đóng đinh,

    Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

    Khó đi, mẹ dắt con đi,

    Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

    Vì thế người mẹ được ví: “Mẹ già bằng ba hàng dậu”. Hạnh phúc thay cho những ai còn có mẹ để chia xẻ niềm vui, nỗi buồn, để được mẹ lo lắng chăm sóc như ngày còn thơ, để được hầu hạ gần gũi với mẹ. Có mẹ để thấy mình vẫn trẻ thơ như ngày nào:

    – Có cha có mẹ thì hơn,

    Không cha không mẹ như đờn đứt giây.

    Đờn đứt giây còn tay nối lại,

    Cha mẹ mất rồi con phải mồ côi.

    Nào đã hết, mẹ vẫn lo toan vất vả trong phận dâu con, có sức chịu đựng nào bằng bổn phận người con dâu đè nặng trên hai vai của mẹ, dẫu chồng có lơ là, lạnh nhạt, nhưng vẫn không thất xuất trách nhiệm cá nhân, qua những câu ca dao sau đây:

    – Gió đưa bụi chuối sau hè,

    Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

    Con thơ tay ẵm tay bồng,

    Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng rơm.

    Chữ hiếu không những chỉ thể hiện trong bổn phận người con, mà còn ràng buộc cả người con dâu nữa. Cụ bà Phan Bội Châu đã thay cụ ông hầu hạ, thuốc thang cho thân sinh cụ ông nay đau, mai ốm trong cảnh gia đình túng thiếu với các con thơ dại trong suốt thời gian cụ ông lo việc nước. Gương hy sinh, tiết liệt của người phụ nữ Việt Nam điển hình qua tinh thần trách nhiệm của cụ bà Phan Bội Châu làm rạng rỡ giá trị thiêng liêng tình nghĩa gia đình.

    Người xưa ra đi lo việc nước đã nhắn nhủ vợ nhà:

    – Anh đi, em ở lại nhà,

    Vườn dâu em bón mẹ già em trông.

    – Con cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non,

    – Nàng về nuôi cái cùng con,

    Để anh trẩy hội nước non Cao Bằng.

    Bằng tâm tình của người chồng phải vắng nhà buôn bán phương xa, đã ân cần nhờ cậy vợ lo toan mọi việc và chăm sóc mẹ già sao cho tròn câu hiếu kính:

    – Nhà anh chỉ có một gian,

    Nửa thời làm bếp, nửa toan làm buồng.

    Anh cậy em coi sóc trăm đường,

    Để anh buôn bán trẩy trương thông hành.

    Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh,

    Để anh buôn bán thông hành đường xa.

    Liệu mà thờ kính mẹ già,

    Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười.

    Vai trò của người mẹ quan trọng biết là chừng nào:

    – Mồ côi cha ăn cơm với cá,

    Mồ côi mẹ, lót lá mà nằm.

    – Gió đưa bụi trúc ngã quì,

    Vì cha con phải lụy dì, dì ơi!

    Phải chăng vì thế con cái thường có khuynh hướng thương yêu và thân cận với mẹ hơn? Nói như thế không có nghĩa là vai trò của người cha không quan trọng:

    – Con có cha như nhà có nóc,

    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

    – Còn cha gót đỏ như son,

    Đến khi cha mất, gót con đen sì.

    Còn cha nhiều kẻ yêu vì,

    Một mai cha thác ai thì nuôi con?

    Sự chăm sóc của cha có thể không chăm chút tỉ mỉ bằng mẹ, nhưng hoàn cảnh bắt buộc cha cũng vẫn lo cho con được no dạ:

    – Nghiêng bình mở hộp nút ra,

    Con ơi, con bú cho cha yên lòng.

    Cha tuy già nhưng không quản ngại, cũng vẫn phải lo sinh kế trong vai trò cột trụ của gia đình, vì thế hình ảnh người cha cũng rất đậm nét trong tâm khảm của mọi người trong nhà:

    – Cha tôi tuy đã già rồi,

    Nhưng còn làm lụng để nuôi cả nhà.

    Sớm hôm vừa gáy tiếng gà,

    Cha tôi đã dậy để ra đi làm.

    Vắng bóng người cha làm cho gia đình trống vắng, quạnh hiu:

    – Vắng đàn ông quạnh nhà.

    Hơn thế nữa, trong vai trò giáo huấn đàn con, người cha bao giờ cũng coi trọng và nghiêm minh hơn, do đó ảnh hưởng giáo dục người cha thường tốt đẹp và tác dụng nhiều hơn mẹ:

    – Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Hoặc:

    – Mẹ đánh một trăm, không bằng cha hăm một tiếng.

    – Mẹ dạy thời con khéo,

    Cha dạy thời con khôn.

    Dẫu thương yêu, gần gũi với mẹ nhiều hơn con cũng không quên được công ơn dưỡng dục của cha, bao giờ cũng hằn sâu trong tâm trí:

    – Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ,

    Đạo làm con chớ hững hờ,

    Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.

    Biết bao nhiêu áng văn thơ, ca dao, tục ngữ tán thán công đức Cha và Mẹ, cái hạnh phúc có được cha mẹ vẹn toàn để nhất tâm hiếu kính đã làm cho bao nhiêu người con thiếu vắng cha mẹ phải ước ao ngậm ngùi:

    – Ân cha nặng lắm ai ơi!

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    – Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,

    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

    Nhớ ơn chín chữ cù lao,

    Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình?

    – Ngày nào em bé cỏn con,

    Bây giờ em đã lớn khôn thế này.

    Cơm cha, áo mẹ, công thầy,

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.

    – Làm trai đủ nết trăm đường,

    Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ song thân.

    Thức khuya dậy sớm cho cần,

    Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

    “Xảy nhà ra thất nghiệp”, mẹ cha có biết lòng con thương nhớ khôn nguôn, tâm hiếu kính mang mang, luôn tưởng nhớ đến công ơn sinh dưỡng của đấng sinh thành:

    – Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

    Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

    – Ngó lần nuột lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuột lạt, em thương mẹ già bấy nhiêu.

    – Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    – Gió đưa cây cửu lý hương,

    Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.

    Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,

    Đã bưng lấy bát, lại dằn xuống mâm.

    Phải xa nhà lòng đau như cắt, biết có ai sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, để con khắc khoải nhớ thương:

    – Lòng riêng nhớ mẹ, thương cha,

    Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu?

    Trong vòng binh lửa dãi dầu,

    Bơ vơ lưu lạc, bạn bầu cùng ai?

    – Ra đi bỏ mẹ ở nhà,

    Gối nghiêng ai sửa, mẹ già ai nâng?

    – Một mai cha mẹ yếu già,

    Bát cơm đôi đũa, kỷ trà ai dâng?

    – Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

    Cha mẹ có hay lòng con như muối xát, chỉ mong sao cha mẹ được đầy đủ, mong được sáng thăm tối viếng, mong dâng đến cha mẹ miếng ngon vật lạ tỏ lòng hiếu kính phụng thờ mẹ cha:

    – Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

    Giã gạo cho trắng đặng nuôi mẹ già.

    Đói lòng ăn hột chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    – Đây bát cơm đầy nặng ước mong,

    Mẹ ơi, đây ngọc (1) với đây lòng,

    Đây tình con nặng trong tha thiết,

    Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong.

    (1) Hạt gạo là hạt ngọc.

    – Lên chùa thấy Phật muốn tu,

    Về nhà thấy mẹ công phu sao đành?

    Mẹ già ở túp lều tranh,

    Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

    – Cau non khéo bửa cũng dày,

    Trầu têm cánh phượng để thầy mẹ xơi.

    – Ai về tôi gởi buồng cau,

    Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai về tôi gửi đôi giầy,

    Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

    Cha mẹ nuôi con ơn sâu nghĩa nặng, dẫu nhọc nhằn vất vả con cũng chẳng ưu tư:

    – Dấn mình gánh nước làm thuê,

    Miễn nuôi được mẹ, quản gì là thân .

    Làm con ăn ở sao cho phải đạo, mình biết hiếu kính mẹ cha đó là tấm gương tốt cho con cái noi theo “sóng trước làm sao, sóng sau như vậy”, có hết lòng thờ phụng mẹ cha mới mong sanh con hiếu nghĩa:

    – Nếu mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc con cũng hiếu với ta khác gì.

    Nếu mình ăn ở vô nghì,

    Đừng mong con hiếu làm gì uổng công.

    Hoặc:

    – Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ nghịch nào con có khác chi!

    Xem thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì!

    – Người xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác gì mình đã hết tình nuôi con.

    Suốt một đời sống trong tình thương của cha mẹ, biết bao công khó cho con được nên người, bao lo lắng hy sinh, nhọc nhằn mong con được đầy đủ không thua bạn, kém bè. Nay cha mẹ không còn, đau đớn biết dường nào, dù nuối tiếc bao nhiêu cũng không làm sao được. Bạn hỡi! Ngay bây giờ hãy làm bất cứ điều gì có thể làm được cho cha mẹ để sau này có muốn cũng không thể nào thực hiện được:

    … Độ nhỏ tôi không tin,

    Người thân yêu sẽ mất.

    Hôm ấy tôi sững sờ,

    Và nghi ngờ trời đất.

    Từ nay tôi hết thấy,

    Trên trán mẹ hôn con.

    Những khi con phải đòn,

    Đau lòng mẹ la lẫy.

    Kìa nhờ ai sung sướng,

    Mẹ con vỗ về nhau.

    Tìm mẹ, con không thấy,

    Khi buồn biết trốn đâu?…

    Hiếu đễ không phải là những lời đãi bôi, những xót xa không thật từ cửa miệng, những ao ước bâng quơ không bao giờ thực hiện, mà chữ Hiếu phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, bằng những chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng xuất phát tự đáy tâm hồn với lòng thương quý chân thật.

    Mùa Vu Lan là mùa báo Hiếu, mùa cho các người con tưởng nhớ đến công đức sinh thành của cha mẹ, mong muốn làm điều gì tốt đẹp hơn để đền đáp xứng đáng công ơn dưỡng dục của mẹ cha. Nhớ ơn và báo Hiếu luôn luôn là những suy tư triền miên, sâu đậm trong thâm tâm mọi người con Việt.

    – Phụng dưỡng Cha và Mẹ,

    Là công đức tối thượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Hay Và Ý Nghĩa
  • 100 Câu Thành Ngữ Tiếng Nghệ
  • Những Danh Ngôn Xin Lỗi Ý Nghĩa
  • Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ, Ca Dao
  • Sự Giao Thoa Giữa Văn Hóa Xứ Đoài Và Văn Hóa Thăng Long
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ N

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Tình Yêu Nam Nữ Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Top Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • 100+ Lời Cảm Ơn Chúc Mừng Sinh Nhật Gửi Đến Mọi Người
  • 10 Bài Thơ Chúc Tết Cho Bé Hay, Dễ Học Thuộc, Ngắn, Chúc Tết Ông Bà Bố
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ N (phần 3) & O & P& Q N Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ O – P & Q O 1. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài 2. Ở đâu cũng có anh hùng Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên 3. Ở đâu mà chẳng biết ta Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên Lôi Xưa kia ta ở trên trời Ðứt dây rơi xuống làm người thế gian 4. Ở đời có bốn cái ngu Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu 5. Ở đời muôn sự của chung Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi 6. Ở hiền gặp lành 7. Ở sao cho vừa lòng người Ở rộng người cười, ở hẹp người chê Cao chê ngổng, thấp chê lùn Béo chê béo trục béo tròn Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra 8. Ở xa anh tưởng là tiên Lại gần mới biết em chẳng hiền hơn ai 9. Ở xa mỏi chân, ở gần mỏi miệng 10. Ốc tưởng rằng ốc vắn Dè đâu ruột ốc trường Lươn chê lịch, lịch chê lươn nhớt! 11. Ôi, ba bảy lá gan, lá tươi lá héo Ruột chín chiều, chiều nở chiều teo 12. Ơn dưỡng dục chưa thỏa tình báo bổ Nghĩa minh linh nguyện gắng sức tài bồi 13. Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì cày ruộng nơi thì bừa sâu Công ơn chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu 14. Ông chết, thì thiệt thân ông Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai Bà chết, thì thiệt thân bà Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu 15. Ông nói gà, bà nói vịt Ông bảo làm thịt, bà bảo để nuôi 16. Ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng Vôi nào là vôi không nồng Gái nào là gái có chồng chẳng ghen P 1. Phải duyên phải kiếp thì theo Cám còn ăn được, nữa bèo như anh 2. Phấn son tô điểm sơn hà Làm cho rỡ mặt đàn bà nước Nam 3. Phong lưu là cạm ở đời Hồng nhan là bẫy những người tài hoa 4. Phượng hoàng đậu nhánh vông nem Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi Ngã tư Chợ Gạo nước hồi Tui chồng, mình vợ còn chờ đợi ai 5. Phượng hoàng đậu nhánh sa kê Ông thần ổng hổng vật mấy thằng dê cho rồi 6. Phượng hoàng ở chốn cheo leo Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà Bao giờ gió thuận mưa hòa Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng Q 1. Qua đình ngã nón trông đình Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu! 2. Quan văn mất một đồng tiền Xem bằng quan võ mất quyền quận công 3. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Lấy anh từ thuở mười ba Ðến năm mười tám thiếp đà năm con Ra đường thiếp hãy còn son Về nhà thiếp đã năm con với chàng 4. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên, cái bút thật là của em 5. Quân tử là quân tử Tàu Ăn cơm thì ít, ăn rau thì nhiều 6. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại Quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn 7. Quít làm, cam chịu . Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ N (ph n 3) & O & P& Q N Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ O – P & Q O 1. Ở bầu thì tr n, ở ống thì dài 2. Ở đâu cũng có anh hùng Ở. Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu! 2. Quan v n mất một đồng ti n Xem bằng quan võ mất quy n qu n công 3. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ v n v n Nay anh học g n, mai anh học xa Lấy anh từ. Phượng hoàng đậu nhánh vông nem Phải dè n m ngoái cưới em cho rồi Ngã tư Chợ G o n ớc hồi Tui chồng, mình vợ c n chờ đợi ai 5. Phượng hoàng đậu nhánh sa kê Ông th n ổng hổng vật mấy thằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Câu Châm Ngôn Tiếng Anh Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Hay Và Ý Nghĩa Nhất Tặng Người Yêu Ngày Valentine
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Nhất
  • Stt Ngày Cuối Tuần Đầy Cô Đơn Và Ảm Đạm
  • Lời Phật Dạy Về Nghệ Thuật Giữ Gìn Sắc Đẹp
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ M M 1. Má hồng hồng, muốn chồng thành dịch 2. Má ơi, con má hư rồi Còn đâu má gả, má đòi bạc trăm 3. Má ơi, con má hư rồi Má đừng trang điểm phấn giồi uổng công 4. Má ơi, con má luông tuồng Có ngày thiên hạ lột truồng ô danh 5. Má ôi, con má phá thai Nước da tái mét, trong ngoài đều hay 6. Má ôi, con má thất tình Ăn khay trầu quế, uống chình rượu hương 7. Má ơi, đừng gả con xa Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâủ 8. Mai thích Huế, xế thích Quảng 9. Mâm thau chùi sáng Ðể nằm trên ván Bóng lộn thấy hình Cháo đậu xanh kia, đường cát nọ Nhớ mình quên ăn 10. Màn hoa lại trải chiếu hoa Bát ngọc thì phải đũa ngà, mâm son 11. Mày thì cong tợ trăng non Mặt thuôn trứng ngỗng, ngó mòn lông nheo 12. Mạch trong nước chảy ra trong Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn 13. Măng non nấu với gà đồng Chơi nhau một trận, xem chồng về ai 14. Mắng mèo, chửi chó 15. Mắt long lanh vốn kẻ đa tình Tướng ngoe nguẩy là người dâm đãng Mình xà uốn khúc Trường túc bất chi lao Hồng diện, đa dâm đa thủy 16. Mặt em rỗ có ngày lì Tay anh cán vá, ông nội em trì cũng không ra 17. Mặt má bầu, ngó lâu muốn chửi Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua 18. Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló Nè em Hai ôi, lại đây cho anh tỏ một đôi lời Nước bèo gặp gỡ vậy thôi Mai anh ra cửa biển, em sống đời biệt ly 19. Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló Quới nương em ơi, anh xin tỏ với nàng Con gái ông Bang, con gái ông Phủ Qua cũng không màng Chỉ chuộng con bạn ngọc biết đá vàng, thủy chung 20. Mật lắm, ruồi nhiều 21. Mật ngọt, chết ruồi 22. Mất lòng trước đặng lòng sau 23. Mất trâu mất ruộng không màng Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa 24. Máu chảy ruột mềm Môi hở răng lạnh 25. Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa 26. Mây xưa cũng bỏ non về Em xưa cũng giả câu thề đó đây Nhớ đành biết mấy tầm tay Chim bay biển Bắc, hoa gầy bãi Ðông! 27. Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng 28. Mẫu đơn nở cạnh bờ ao Ðôi ta trinh tiết đợi nhau suốt đời 29. Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang 30. Mẹ cha trượng quá khuôn vàng Ðền bồi sao xiết muôn vàn công ơn 31. Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con thảo 32. Mẹ gà con vịt chắt chiu Mấy đời dì ghẻ mà yêu con chồng 33. Mẹ già lo bảy lo ba Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên 34. Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp mật, như đường mía lau 35. Mẹ già ở túp lều tranh Sớm khuya tối viếng mới đành dạ con 36. Mẹ mong gả thiếp về vườn Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh 37. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể Con nuôi mẹ, con kể từng ngày 38. Mèo khen mèo dài đuôi Chuột khoe chuột nhỏ dễ chui, dễ trèo 39. Mèo mù vớ cá rán 40. Minh mông nổi nước Su đước rườm rà Ở đây anh tính sao rả Sắm bông hột lựu đặng mà cưới em! 41. Miếng ngon là miếng dữ Miếng cử là miếng lành 42. Miếng trầu giải phá cơn sầu Ăn cơm chẳng đặng, ăn trầu giải khuây 43. Miếng trầu là đầu câu chuyện Con trâu là đầu cơ nghiệp 44. Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi 45. Mình có thương, mình cắt tóc mình thề Chỉ trời, vạch đất chớ hề bỏ nhau 46. Mình đành, cha mẹ chẳng đành Cũng như gáo nước tưới hành không tươi 47. Mình nói dối ta mình chửa có chồng Ta đi qua ngõ, mình bồng con ra Con mình kheó giống con ta Con mình bảy rưỡi, con ta ba phần . Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ M M 1. M hồng hồng, muốn chồng thành dịch 2. M ơi, con m hư rồi Còn đâu m gả, m đòi bạc tr m 3. M ơi, con m hư rồi M đừng trang đi m phấn. đa d m đa thủy 16. M t em rỗ có ngày lì Tay anh cán vá, ông nội em trì cũng không ra 17. M t m bầu, ngó lâu muốn chửi M t chữ điền, tiền rưỡi cũng mua 18. M t trời vừa lặn, m t trăng. cuốc m c ra làng kiện thưa 24. M u chảy ruột m m M i hở răng lạnh 25. M y xanh thì nắng, m y trắng thì m a 26. M y xưa cũng bỏ non về Em xưa cũng giả câu thề đó đây Nhớ đành biết m y

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
    Nội dung
    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Phân loại

    Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa đứt cương

    Ba vương ngũ đế

    Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Đem về trồng bí trồng bầu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi

    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

    Khi đi nhớ cậu cùng cô

    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

    Trên đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình.

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Tục ngữ Việt Nam

    Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

    Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

    Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

    Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu
  • Cùng Lắng Nghe Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Và Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Những Stt Hay Khi Đăng Ảnh Câu Like Được Yêu Thích 2022
  • Khái Quát Chung Về Định Danh Ngôn Ngữ
  • LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

    Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

    Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

    Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

    Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

    Chữ tác đánh chữ tộ

    Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

    Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

    Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

    “Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

    Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

    Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

    “Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

    Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

    Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

    Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

    Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

    Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

    Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

    Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

    “Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

    Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

    Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

    Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

    Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

    Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

    Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

    Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

    Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

    Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

    Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

    Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

    Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

    Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

    Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

    Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

    Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

    Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

    Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

    Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

    Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

    Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

    Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

    Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

    Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

    Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

    Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

    Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

    Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

    Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

    Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

    Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

    Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

    Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

    Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

    “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

    “Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

    “Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

    “Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

    “Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

    “Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

    “Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

    “Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

    “Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ , ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

    Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

    “Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

    “Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

    Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

    Râu ông nọ cắm cằm bà kia

    Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

    Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

    Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

    Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

    Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

    Chẻ một câu tục ngữ làm hai

    Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

    Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

    – Muốn sang thì bắc cầu kiều,

    – Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

    – Một cây làm chẳng nên non,

    – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

    – Người khôn con mắt đen sì,

    – Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

    – Nói lời thì giữ lấy lời,

    – Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

    – Vàng thì thử lửa thử than,

    – Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

    – Thứ nhất thì tu tại gia,

    – Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

    – Khúc sông bên lở bên bồi,

    – Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

    – Sự đời nghĩ cũng nực cười,

    – Ai ơi đã quyết thì hành.

    – Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

    Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

    Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

    Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

    Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

    Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

    Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

    Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

    Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

    Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

    Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

    Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

    Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Đầy Phong Phú Và Sinh Động
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Cách Ứng Xử, Giao Tiếp, Kinh Nghiệp Số
  • Những Dòng Stt Tâm Trạng Buồn Chán, Cô Đơn
  • 99 + Stt Hay Về Tình Bạn Thân Đầy Up Những Ý Nghĩa Về Tình Bạn Đẹp
  • Tải Bài Hát Dòng Status Buồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ngày đăng: 11/07/2014, 06:21

    Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ H & I H 1. Hà Nội, ba sáu phố phường Hàng mật, hàng đường, hàng muối trắng tinh Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen 2. Hàm chó, vó ngựa 3. Hát bội làm tội người ta Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con 4. Hát hay không bằng hay hát 5. Hèn lâu mới gặp thầy Hai Thuận tay điếu hút, điếu vấn, điếu vắt lỗ tai 6. Hèn mà làm bạn với sang Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ 7. Hổ phụ sanh hổ tử, lân mẫu xuất lân nhi 8. Hổ xuống bình nguyên bị chó lờn 9. Hoa thơm, ai chẳng muốn đeo Người khôn, ai nỡ cứ theo nặng lời 10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề 11. Hoành hoạch, hoành hoạch Giặt áo chồng tao Giặt áo phải giặt cho sạch Phơi áo thì phơi trên sào Ðừng phơi hàng rào rách áo chồng tao 12. Họa hổ họa bì, nan họa cốt Tri nhân tri diện, bất tri tâm 13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai 14. Học ăn, học nói, học gói, học mở 15. Học đi đôi với hành 16. Học hành thi cử mà chi Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì 17. Học thầy không tầy học bạn 18. Học trò đi mò cơm nguội Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời 19. Học trò thò lò mũi xanh Cầm miếng bánh đúc, chạy quanh nhà thầy 20. Hỏi vợ thì cưới liền tay Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha 21. Hôm nay có đám giỗ gần Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm 22. Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường Thấy em nằm đất. anh thương Anh đi mua gỗ đóng giường tám thang Bốn góc thì anh bịt vàng Bốn chân bịt bạc, tám thang chạm rồng 23. Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen Em bắt được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có, Mẹ già chưa khâu Áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy sang khâu cho dùm Khâu rồi anh sẽ trả công Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho Giúp em một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm Giúp em đôi chiếu em nằm Ðôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo Giúp em quan tám tiền cheo Quan hai tiền cưới, lại đèo buồng cau 24. Hòn đất mà biết nói năng Thì thầy địa lý hàm răng không còn 25. Hỗn như gấu 26. Hơn nhau manh aó, tấm quần Cởi ra mình trần, ai cũng như ai 27. Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi 28. Hỡi người kẻ đóng then gài Có hay, có biết kẻ ngoài trùng dương 29. Huệ nhớ thương Lan, héo vàng xác Huệ Anh quá thương nàng, trối kệ thị phi 30. Hút sách là chuyện chẳng lành Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây 31. Hùm dữ chẳng ăn thịt con I 1. Ích kỷ hại nhơn 2. Im hơi, lặng tiếng 3. Im lặng là vàng 4. Im như thóc 5. Im thin thít miệng mình 6. Im thin thít như thịt nấu đông . l i 10. Hoa thơm ai chẳng nâng niu Ngư i khôn ai chẳng mến yêu m i bề 11. Hoành hoạch, hoành hoạch Giặt áo chồng tao Giặt áo ph i giặt cho sạch Ph i áo thì ph i trên sào Ðừng ph i h ng. Ca dao tục ngữ bắt đầu bằng chữ H & I H 1. H N i, ba sáu phố phường H ng mật, h ng đường, h ng mu i trắng tinh Từ ngày ta ph i lòng mình Bác mẹ i rình đã mấy mư i phen 2. H m. rách áo chồng tao 12. H a h h a bì, nan h a cốt Tri nhân tri diện, bất tri tâm 13. Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai 14. H c ăn, h c n i, h c g i, h c mở 15. H c i đ i v i h nh

    --- Bài cũ hơn ---

  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Trong cuộc sống, bất cứ điều gì cũng mang thông điệp muốn truyền tải cả. Đối với sinh vật bậc cao như con người, ngôn ngữ được sinh ra bởi nhu cầu trao đổi thông tin và giao tiếp. Một số cảm xúc như yêu, ghét, giận, hờn có thể được hoa mỹ thông qua một số cách thức sử dụng từ ngữ rất đặc biệt. Trong tiếng Việt, hình ảnh những câu ca dao, tục ngữ đã trở nên quá quen thuộc. Chúng chứa đựng dòng chảy của lịch sử qua từng câu từng chữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được ca dao, tục ngữ xuất phát từ đâu trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam.

    Ca dao, tục ngữ là ra đời để người xưa lưu giữ những bài học kinh nghiệm sống của mình cho con cháu. Ca dao, tục ngữ là những câu nói truyền miệng ngắn gọn, có vần điệu và rất dễ nhớ. Ngoài những bài học răn dạy, đôi lúc, ca dao, tục ngữ còn là nơi gửi gắm tình cảm, bày tỏ quan điểm của tầng lớp nhân dân, sĩ phu trước hiện thực xã hội. Đó là lý do lí giải cho việc ca dao, tục ngữ mang dòng chảy lịch sử.

    Thời điểm mà truyền thông chưa phát triển trong xã hội như bây giờ thì ca dao, tục ngữ là một trong những hình thức để truyền thông tin được áp dụng rất rộng rãi. Không phải tất cả các câu tục ngữ, ca dao đều do tầng lớp nhân dân sáng tác mà trong đó có thể do tầng lớn tri thức, cụ thể là những người học Nho nhưng thi cử không đậu đạt để được làm quan. Họ trở thành thầy đồ, thầy thuốc, thầy bói… sống hoà vào cuộc sống của giới bình dân. Vì vậy, một số câu ca dao, tục ngữ cũng mang nét Nho giáo khá đậm đặc như:

    – Thương người như thể thương thân (Gia Huấn Ca của cụ Nguyễn Trãi).

    – Đồ sở khanh (nhân vật trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du).

    – Máu Hoạn Thư (Truyện Kiều).

    – Cô kia tát nước bên đàng, / Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi ? (Từ bài thơ Tiếng Hát Trong Trăng trong tập thơ “Tiếng thông reo” của thi sĩ Bàng bá Lân xuất bản năm 1935).

    Một số câu nói truyền lại kinh nghiệm sống, để răn dạy như:

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn .

    – Ăn đi trước, lội nước đi sau .

    – Cày sâu tốt lúa.

    – Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim .

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

    Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

    Lệ Như Thích Trung Hậu

    ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

    Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

    Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

    Phật lịch 2545

    Tân Tỵ 2001

    Gs. Cao Huy Thuần.

    (Paris)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam Chọn Lọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Hay Và Ngọt Ngào Nhất Trong Ngày Lễ Tình Nhân 14/2
  • Những Câu Nói Về Bản Thân Mình Hay Nhất
  • 16 Danh Ngôn Hay Về Nghệ Thuật
  • Lời Chúc Sinh Em Bé Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Trích Dẫn Từ Các Cuốn Sách Hay Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1)
  • Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

    Ca dao, tục ngữ là sự kết tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu trong dân gian. Đây là loại hình văn nghệ truyền miệng từ đời này qua đời khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.

    Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc” là công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu, khoa học, tập hợp khá nhiều tinh hoa của tục ngữ, ca dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm cung cấp một nguồn “sử liệu” về văn học dân gian cho độc giả.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cuốn sách tập hợp những câu ca dao tục ngữ muôn đời của dân tộc ta được đúc kết lại.

    Cuốn sách văn học- tiểu thuyết có các phần như:

    Phần I. Tình cảm, tình yêu đôi lứa

    -Hôn nhân và tình cảm gia đình

    – Tục ngữ, ca dao về lao động nghề nghiệp

    – Tục ngữ ca dao ca ngợi Bác Hồ…

    Nó không dừng lại ở những trang giấy thông thường mà đó là nguồn tư liệu quý giá giúp cho người đọc với nhiều đối tượng khác nhau có được cái nhìn sâu rộng hơn về loại hình văn hóa dân gian của Việt Nam bao đời nay.

    Ca dao, tục ngữ có những lối giáo dục chân thực, hóm hỉnh tạo nên đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Trong đời sống hàng ngày, câu ca dao, tục ngữ vẫn được ông bà, cha mẹ truyền tụng khuyên răn con cháu. Loại hình văn hóa truyền miệng này như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ hôm nay và mai sau.

    Đấy là một cuốn sách có giá trị về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể Người – Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cần thiết và hữu ích, nhất là cho lớp người trẻ tuổi, những người sẽ quyết định vận mệnh tương lai của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Ngày 8/3 Ý Nghĩa, Hài Hước Nhất
  • Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
  • 115 Dòng Danh Ngôn & Stt Ý Nghĩa Về Sự Thay Đổi Trong Cuộc Sống
  • Đập Vào Mặt Bạn Đểu, Bọn Khốn Nạn Những Câu Nói Khinh Bỉ Hay Nhất
  • Top 100 Stt Bựa Về Cuộc Sống Đăng Facebook Câu Được “ngàn Like”
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100