Những Câu Nói Hay Nhất Của Adam Smith

--- Bài mới hơn ---

  • Dẫn Chứng Nhầm Có Thể Biểu Hiệu Một Sự Thật Sâu Sắc Hơn
  • 30 Lời Hay Ý Đẹp Của Thánh Augustinô Ở Hippô
  • Thánh Augustino: „Yêu Thương Rồi Hãy Làm Những Gì Bạn Muốn!“
  • Thánh Augustino: ” Rất Đời” Nhưng Đã Trở Nên Rất Thánh.
  • Những Câu Nói Hay Của Bác (Phần 2)
  • Adam Smith là nhà kinh tế học, nhà triết học và tác giả người Anh, đồng thời là nhà triết học đạo đức, nhà tiên phong về kinh tế chính trị, và là nhân vật chủ chốt trong thời kỳ Khai sáng Scotland, còn được gọi là “Cha đẻ của Kinh tế học” hay “Cha đẻ của Chủ nghĩa tư bản”. Smith đã viết hai tác phẩm kinh điển, Lý thuyết về tình cảm đạo đức (1759) và Cuộc điều tra về bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia (1776). Cuốn sách thứ hai, thường được viết tắt là Sự giàu có của các quốc gia, được coi là tác phẩm kinh tế học hiện đại đầu tiên của ông.

    Trong tác phẩm của mình, Adam Smith đã giới thiệu lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của mình. Smith là người đặt nền móng cho lý thuyết kinh tế thị trường tự do cổ điển. Sự giàu có của các quốc gia là tiền thân của ngành kinh tế học hiện đại. Trong tác phẩm này và các tác phẩm khác, ông đã phát triển khái niệm phân công lao động và giải thích về cách hợp lý tư lợi và cạnh tranh có thể dẫn đến thịnh vượng kinh tế. Smith đã gây tranh cãi vào thời của mình và cách tiếp cận và phong cách viết chung của ông thường bị các nhà văn khác châm biếm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Có Phải Chúng Ta Đã Nghe Nhầm Những Lời Đầu Tiên Nổi Tiếng Của Neil Armstrong Trên Mặt Trăng?
  • Phát Hiện Mới Về Phát Ngôn Của Neil Armstrong Trên Mặt Trăng
  • Hacker Anonymous Khét Tiếng Nhất Thế Giới – Những Điều Chưa Biết (Phần 1)
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Của Chàng “Cướp Biển Caribbean” Johnny Depp
  • Học Thuyết Kinh Tế Của Adam Smith

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Bất Hủ Của Bác Hồ Vị Lãnh Tụ Vĩ Đại
  • 26 Câu Nói Nổi Tiếng Của Hồ Chủ Tịch Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Đến Ngày Nay
  • 10 Điều Thú Vị Nhất Về Baymax Trong Big Hero 6
  • Softness, Warmth, And Responsiveness Improve Robot Hugs
  • Life Lessons From Disney’s Big Hero 6
  • Kết quả

    Học thuyết kinh tế của Adam Smith:

    A.Smith (1723 – 1790) là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triển của kinh tế chính trị tư sản, ông là bậc tiền bối lớn nhất của Mác. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc”.

    Về thế giới quan và phương pháp luận của A.Smith cơ bản là thế giới quan duy vật nhưng còn mang tính tự phát và máy móc, trong phương pháp còn song song tồn tại cả hai phương pháp khoa học và tầm thường. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư sản sau này.

    Học thuyết của A.Smith là một trong những học thuyết có tiếng vang lớn, nó trình bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế, xuất phát từ các quan hệ kinh tế khách quan. Học thuyết kinh tế của ông có cương lĩnh rõ ràng về chính sách kinh tế, có lợi cho giai cấp tư sản trong nhiều năm.

    + Điểm quan trọng của lý thuyết này là Adam Smith đưa ra phạm trù con người kinh tế. Ông quan niệm khi chạy theo tư lợi thì “con người kinh tế” còn chịu sự tác động của “bàn tay vô hình”.

    + “Bàn tay vô hình” là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan, ông cho rằng chính các quy luật kinh tế khách quan là một “trật tự tự nhiên”. Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên thì cần phải có những điều kiện nhất định. Đó là sự tồn tại, phát triển của sản xuất hàng hoá và trao đổi hàng hoá.

    + Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế. Ông cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng bàn tay vô hình, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn có cuộc sống riêng của nó.

    Tóm lại xã hội muốn giàu thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do. Chủ nghĩa “Laisse-fảie” tức là “Mặc kệ nó”.

    + Ông phê phán tính chất ăn bám của bọn quý tộc phong kiến, theo ông “các đại biểu được kính trọng nhất trong xã hội” như: nhà vua, quan lại, sĩ quan, thầy tu… cũng giống như những người tôi tớ, không sản xuất ra một giá trị nào cả.

    + Ông phê phán chế độ thuế khoá độc đoán như thuế đánh theo đầu người, chế độ thuế thân có tính chất lãnh địa, chế độ thuế hà khắc ngăn cản việc tích luỹ của nông dân.

    + Ông lên án chế độ thừa kế tài sản nhằm bảo vệ đặc quyền của quý tộc, coi đó là “thể chế dã man” ngăn cản việc phát triển của sản xuất nông nghiệp.

    + Ông bác bỏ việc hạn chế buôn bán lúa mỳ vì nó gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

    + Ông vạch rõ tính chất vô lý về mặt kinh tế của chế độ lao dịch và chứng minh tính chất ưu việt của chế độ lao động tự do làm thuê.

    + Ông kết luận: chế độ phong kiến là một chế độ “không bình thường”: là sản phẩm của sự độc đoán, ngẫu nhiên và dốt nát của con người, đó là một chế độ trái với trật tự ngẫu nhiên và mâu thuẫn với yêu cầu của khoa học kinh tế chính trị. Theo ông nền kinh tế bình thường là nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do cạnh tranh, tự do mậu dịch.

    + Adam Smith là người đứng trên lập trường của tư bản công nghiệp để phê phán chủ nghĩa trọng thương. Ông xác định đánh tan chủ nghĩa trọng thương là niệm quan trọng bậc nhất để đánh tan ảo tưởng làm giàu bằng thương nghiệp.

    + Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương đã đề cao quá mức vai trò của tiền tệ. Theo ông, sự giàu có không phải ở chỗ có tiền mà là ở chỗ người ta có thể mua được cái gì với tiền. Ông cho rằng lưu thông hàng hoá chỉ thu hút được một số tiền nhất định và không bao giờ dung nạp quá số đó.

    + Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương đề cao quá mức vai trò của ngoại thương và cách làm giàu bằng cách trao đổi không ngang giá. Ông cho rằng việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong thương nghiệp bằng độc quyền thương nghiệp sẽ làm chậm việc cải tiến sản xuất. Muốn làm giàu phải phát triển sản xuất.

    + Ông phê phán chủ nghĩa trọng thương dựa vào nhà nước để cưỡng bức kinh tế, ông cho rằng chức năng của nhà nước là đấu tranh chống bọn tội phạm, kẻ thù…nhà nước có thể thực hiện chức năng kinh tế khi các chức năng đó vượt quá sức của các chủ xí nghiệp riêng lẻ như xây dựng đường sá, sông ngòi và các công trình lớn khác. Theo ông, sự phát triển kinh tế bình thường không cần có sự can thiệp của nhà nước.

    + Mục tiêu phê phán của ông là đánh tan các ảo tưởng của phái trọng nông về tính chất đặc biệt của nông nghiệp, và phá vỡ những luận điểm kỳ lạ của họ về tính chất không sản xuất của công nghiệp.

    + Ông phê phán quan điểm của trọng nông coi giai cấp thợ thủ công, chủ công trường là giai cấp không sản xuất.

    + Ông đưa ra nhiều luận điểm để chứng minh ngành công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất như luận điểm về năng suất lao động, tích luỹ tư bản…

    + Adam Smith là người đầu tiên luận chứng cương lĩnh thuế khoá của giai cấp tư sản, chuyển gánh nặng thuế khoá cho địa chủ và tầng lớp lao động, ông xác định thu nhập của nhà nước có thể từ hai nguồn: một là từ quỹ đặc biệt của nhà nước, tư bản đem lại lợi nhuận, ruộng đất đem lại địa tô, hai là lấy từ thu nhập của tư nhân bắt nguồn từ địa tô. lợi nhuận, tiền công.

    + Ông đưa ra bốn nguyên tắc để thu thuế:

    – Các thần dân phải có nghĩa vụ nuôi chính phủ, “tuỳ theo khả năng và sức lực của mình”.

    – Phần thuế mỗi người đóng phải được quy định một cách chính xác.

    – Chỉ thu vào thời gian thuận tiện, và với phương thức thích hợp.

    – Nhà nước chi phí ít nhất vào công việc thu thuế.

    + Ông đưa ra hai loại thuế phải thu: đó là thuế trực thu và thuế gián thu:

    – Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập: địa tô, lợi nhuận, tiền công, và tài sản kế thừa.

    – Thuế gián thu, ông cho rằng không nên đánh thuế vào các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, nên đánh thuế vào các hàng xa xỉ để điều tiết thu nhập của những người “sống trung bình hoặc cao hơn trung bình”.

    * Lý luận về phân công lao động

    + Adam Simith cho rằng phân công lao động là sự tiến bộ hết sức vĩ đại trong sự phát triển sức sản xuất lao động.

    + Ông cho rằng phân công lao động sẽ làm tăng thêm hiệu suất lao động, tăng năng suất lao động.

    + Ông khẳng định nguyên nhân dẫn đến phân công lao động là trao đổi, nên mức độ phân công phụ thuộc vào quy mô thị trường, điều kiện để thực hiện phân công là mật độ dân số cao và sự phát triển của giao thông liên lạc.

    Adam Simith đã trình bày lịch sử ra đời của tiền tệ thông qua sự phát triển của lịch sử trao đổi, từ súc vật làm ngang giá đến kim loại vàng, ông đã nhìn thấy sự phát triển của các hình thái giá trị. Ông đã chỉ ra bản chất của tiền là hàng hoá đặc biệt làm chức năng phương tiện lưu thông và đặc biệt coi trọng chức năng này của tiền tệ, ông là người đầu tiên khuyên nên dùng tiền giấy.

    Ông đã có quan điểm đúng về số lượng tiền cần thiết trong lĩnh vực lưu thông là do giá cả quy định.

    Trong lý luận của A.Smith còn có hạn chế là: không hiểu đầy đủ bản chất của tiền, còn nhầm lẫn giá trị tiền với số lượng tiền, không thấy hết các chức năng của tiền tệ.

    * Lý luận về giá trị – lao động

    + Adam Simith đã đưa ra thuật ngữ khoa học là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khi phân tích về giá trị trao đổi ông đã tiến hành phân tích qua các bước:

    – Xét hàng hoá trao đổi với lao động: Ông cho rằng, thước đo thực tế của giá trị hàng hoá là lao động nên giá trị hàng hoá là do lao động sống mua được. Như vậy là ông đã đồng nhất giá trị là lao động kết tinh trong hàng hoá với lao động mà hàng hoá đó đổi được.

    – Xét trao đổi hàng hoá với hàng hoá: Ông viết: “giá trị trao đổi của chúng bằng một lượng hàng hoá nào đó”. Như vậy giá trị trao đổi của hàng hoá là quan hệ tỷ lệ về số lượng giữa các hàng hoá.

    – Xét trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ: Theo ông, khi chấm dứt nền thương nghiệp vật đổi vật thì giá trị hàng hoá được đo bằng tiền và giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả hàng hoá có hai loại thước đo đó là lao động và tiền tệ, trong đó thước đo là lao động là thước đo chính xác nhất của giá trị, còn tiền tệ chỉ là thước đo trong một thời gian nhất định mà thôi.

    + Adam Simith là người đưa ra quan niệm đúng đắn về giá trị hàng hoá đó là: giá trị hàng hoá là do lao động hao phí tạo ra, ông còn chỉ rõ giá trị hàng hoá bằng số lượng lao động đã chi phí bao gồm lao động quá khứ và lao động sống.

    Tóm lại trong lý luận giá trị – lao động A.Smith đã có những bước tiến đáng kể so với chủ nghĩa trọng nông và W.Petty. Cụ thể là:

    – Ông đã chỉ ra cơ sở của giá trị, thực thể của giá trị chính là do lao động. Lao động là thước đo giá trị (theo ông: lao động là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia, là thực thể giá trị của hàng hoá. Không phải vàng hay bạc mà sức lao động mới là vốn liếng ban đầu và có khả năng tạo ra mọi của cải cần thiết).

    – Ông khẳng định mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giá trị hàng hoá (đã khắc phục hạn chế của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông).

    – Trong khi phân biệt hai phạm trù giá trị sử dụng và giá trị, ông bác bỏ quan niệm cho rằng giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi. Khi phân tích về giá trị, ông cho rằng giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi trong mối quan hệ về số lượng với các hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát triển nó được biểu hiện ở tiền.

    – Lượng giá trị: là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định, không phải do lao động chi phí thực tế để sản xuất hàng hoá. Ở đây đã có sự trừu tượng hoá các dạng lao động cụ thể, các chi phí lao động cá biệt để xem xét giá trị do lao động tạo ra như một đại lượng xác định mang tính chất xã hội. Đã có sự phân biệt lao động giản đơn, lao động phức tạp trong việc hình thành lượng giá trị hàng hoá.

    – Về giá cả: theo A.Smith, giá trị là cơ sở của giá cả và có giá cả tự nhiên và giá cả thị trường. Giá cả tự nhiên là giá trị thực của hàng hoá do lao động quyết định. Giá cả thị trường (hay giá cả thực tế) thì khác với giá cả tự nhiên, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và các loại độc quyền khác (ông đã sớm nhận ra nhân tố độc quyền tư bản).

    Lý luận giá trị – lao động của A.Smith còn có hạn chế, đó là:

    – Quan niệm về lượng giá trị chưa nhất quán: trên cơ sở lý luận giá trị lao động ông đã có định nghĩa đúng giá trị là lao động hao phí để sản xuất hàng hoá. Nhưng có lúc ông lại định nghĩa giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định (gồm v+m), tức là không thấy vai trò của lao động quá khứ. Vì vậy dẫn đến sự bế tắc khi phân tích tái sản xuất.

    Một quan điểm sai lầm của Adam Simith khi ông cho rằng: “tiền công, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi, là ba bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá”. Do đó giá trị do lao động tạo ra chỉ đung trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn còn trong kinh tế tư bản chủ nghĩa thì nó do các nguồn thu nhập tạo thành là tiền công, lợi nhuận và địa tô. Điều này biểu hiện sự xa rời học thuyết giá trị – lao động.

    – Ông cũng đã phân biệt được giá cả tự nhiên và giá trị thị trường, nhưng ông lại chưa chỉ ra được giá cả sản xuất bao gồm chi phí sản xuất và lợi nhuận bình quân.

    + Adam Simith quan niệm: tư bản là những tài sản đem lại thu nhập, ông đã phân biệt được tư bản cố định và tư bản lưu động:

    – Tư bản lưu động: là tư bản không đem lại thu nhập nếu nó vẫn ở trong tay người chủ sở hữu và giữa nguyên hình thái, như: tiền, lương thực dự trữ, nguyên nhiên vật liệu, thành và bán thành phẩm.

    – Tư bản cố định: là tư bản đem lại lợi nhuận mà không chuyển quyền sở hữu, như: máy móc, công cụ lao động, các công trình xây dựng đem lại thu nhập, những năng lực có ích của dân cư.

    + Về tích luỹ tư bản: Ông khẳng định chỉ có lao động mới là nguồn gốc của tích luỹ tư bản: “tích luỹ tư bản tăng là do kết quả của sự tiết ước và chúng giảm đi là do hoang phí và không tính toán cẩn thận”.

    Đây là điểm trung tâm và là cơ sở xuất phát giải quyết các vấn đề lý luận trong học thuyết kinh tế của Adam Smith:

    – Hai yếu tố quyết định đến mức tiền lương là cầu về lao động và giá cả trung bình của các tư liệu sinh hoạt, ông cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa.

    + Lý luận về lợi nhuận, lợi tức:

    – Adam Smith chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận: là một khoản khấu trừ do công nhân tạo ra là kết quả của lao động đem lại.

    – Về lợi tức ông cho rằng lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận, được đẻ ra từ lợi nhuận. Lợi túc của tư bản cho vay được trả bằng cách lấy vào lợi nhuận thuần tuý và do mức lợi nhuận thuần tuý quyết định.

    – Ông cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận như: tiền công, quy mô tư bản, lĩnh vực đầu tư, cạnh tranh, sự can thiệp của nhà nước…

    – Ông cũng là người chỉ ra xu hướng giảm xuống của tỷ suất lợi nhuận, và cho rằng tư bản đầu tư ngày càng nhiều thì tỷ suất lợi nhuận càng thấp.

    – Adam Smith có hai luận điểm về khái niệm địa tô: một là, địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản phẩm lao động, hai là, địa tô là khoản tiền trả về việc sử dụng đất đai, phụ thuộc vào mức độ phì nhiêu của đất đai và việc người nông dân có khả năng trả tiền cho ruộng đất.

    – Về hình thức địa tô, Adam Smith đã phân biệt hai hình thái của địa tô chênh lệch I, nhưng ông lại chưa nghiên cứu địa tô chênh lệch II.

    * Lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội

    – Lý luận về tái sản xuất của Adam Smith được xây dựng trên quan điểm của giá trị hàng hoá bao gồm: tiền lương, lợi nhuận, địa tô. Trong quá trình phân tích, ông đã trình bày các khái niệm: tổng thu nhập, thu nhập thuần tuý, nhưng ông không lấy tổng thu nhập làm điểm xuất phát mà lấy thu nhập thuần tuý làm điểm xuất phát và toàn bộ lý luận tái sản xuất chỉ xoay quanh thu nhập thuần tuý.

    – Mặt khác, ông phân chia tư bản xã hội làm hai bộ phận: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, nhưng sự phân chia này chưa rành mạch, ông đã đồng nhất tư bản với của cải xã hội, chứ không phải tư bản là bộ phận dự trữ.

    – A.Smith đã hiểu một số vấn đề của lý luận tái sản xuất xã hội gần giống với lý luận về tái sản xuất xã hội mà Mác xây dựng sau này. Ông đã có gợi ý thiên tài là: phân chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực (sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng), phân biệt tích luỹ và cất trữ trong tái sản xuất mở rộng.

    – Hạn chế lớn nhất của a.Smith là ở chỗ: Cho rằng sản phẩm xã hội chỉ thể hiện ở hai phần là tiền công (v) và giá trị thặng dư (m), loại bỏ phần giá trị tư bản bất biến (c), đồng nhất thu nhập quốc dân và toàn bộ tổn sản phẩm xã hội. Theo ông giá trị tổng sản phẩm gồm: tiền công, lợi nhuận và địa tô. Từ đó dẫn đến sai lầm tiếp theo: cho rằng tích luỹ chỉ là biến giá trị thặng dư thành tư bản khả biến phụ thêm mà không có tư bản bất biến phụ thêm. Tức là bỏ qua giá trị tư bản bất biến trong phân tích tái sản xuất và không tính đến tư bản bất biến phụ thêm trong phân tích tái sản xuất mở rộng.

    Mác đặt tên cho sai lầm này là “Tín điều của A.Smith” (từ sai lầm này và đi chứng minh cho các sai lầm đã dẫn A.Smith đến chỗ bế tắc).

    + Adam Smith là người đưa lý thuyết về “lợi thế tuyệt đối”. Ông cho rằng, việc buôn bán giữa các nước diễn ra trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước khi quốc gia này có lợi thế hơn quốc gia khác về sản xuất một loại hàng hoá nào đó, ngược lại quốc gia khác lại có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng nào đó, do đó khi tiến hành trao đổi cả hai nước đều có lợi ích cao nhất. Bởi vậy mỗi quốc gia phải biết chuyên môn hoá sản xuất loại hàng hoá mà họ có lợi thế hơn.

    + Nhưng trong thực tế hiện tượng này không nhiều, bởi vậy lý thuyết này của Adam Smith có những điểm hạn chế, về sau chính Ricardo là người phát triển lý thuyết về lợi thế tuyệt đối, xây dựng lý thuyết về lợi thế so sánh.

    Những tư tưởng của A.Smith còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, cả phương pháp khoa học và phương pháp tầm thường song ông đã xác định được nhiệm vụ của kinh tế chính trị học, đã đưa các tư tưởng kinh tế có từ trước đó trở thành hệ thống, là một trong những đỉnh cao của tư tưởng xã hội thế kỷ XVIII.

    Nguồn: CN. Nguyễn Quang Hạnh (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khảo Lược Adam Smith :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Tuyên Ngôn Của Adam Smith Về Cuộc Cách Mạng Kinh Tế Năm 1776
  • Tiểu Sử Adam Khoo
  • Những Cuốn Sách Hay Nhất Của Adam Khoo Mà Bạn Nên Đọc
  • Adam Khoo Là Ai? Tiểu Sử Tác Giả “tôi Tài Giỏi, Bạn Cũng Thế”
  • Tuyên Ngôn Của Adam Smith Về Cuộc Cách Mạng Kinh Tế Năm 1776

    --- Bài mới hơn ---

  • Khảo Lược Adam Smith :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Học Thuyết Kinh Tế Của Adam Smith
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Bất Hủ Của Bác Hồ Vị Lãnh Tụ Vĩ Đại
  • 26 Câu Nói Nổi Tiếng Của Hồ Chủ Tịch Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Đến Ngày Nay
  • 10 Điều Thú Vị Nhất Về Baymax Trong Big Hero 6
  • Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Hà

    Adam Smith là một nhà cách mạng và cấp tiến trong thời đại của ông – giống như những người truyền bá lý thuyết tự do kinh tế trong thời đại của chúng ta.

    -Milton Friedman (1978, 7)

    Trong nhiều thiên niên kỷ đã qua, từ thời đại La Mã xuyên qua Đêm dài Trung cổ đến thời kỳ Phục Hưng, loài người luôn phải nhọc nhằn vật lộn mưu sinh để chỉ có được một cuộc sống tằn tiện. Họ luôn thường trực phải đấu tranh với nạn chết yểu, bệnh tật, nạn đói, chiến tranh và mức tiền công ít ỏi. Chỉ có một số ít may mắn – chủ yếu là những kẻ cai trị và tầng lớp quý tộc – mới được hưởng cuộc sống an nhàn, và ngay cả họ cũng chưa đủ tiêu chuẩn nếu so với mức sống hiện đại. Đối với một người bình thường, có quá ít sự thay đổi qua nhiều thế kỷ. Tiền công thực tế theo đầu người đã hầu như không thay đổi năm này qua năm khác, thập kỷ này qua thập kỷ khác. Trong thời kỳ này, tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 40, và nhà văn người Anh Thomas Hobbes đã có lý khi gọi đó là kiếp sống “cô độc, nghèo đói, bẩn thỉu, đần độn và ngắn ngủi” của con người (1996 , 11), 83).

    Không! Đó chỉ là một siêu kỹ thuật trong quản lý – “sự phân công lao động”. Trong một ví dụ nổi tiếng, Smith đã mô tả chi tiết các công việc của nhà máy đinh ghim, nơi mà người công nhân theo nhiệm vụ phải làm 18 thao tác riêng biệt để tối đa hoá sản lượng (1965 . (11-12). Hơn nữa, việc mở rộng thị trường thông qua thương mại toàn cầu sẽ có nghĩa là chuyên môn hoá và phân công lao động cũng có thể được mở rộng. Thông qua việc tăng năng suất, tiết kiệm và lao động siêng năng, sản lượng toàn cầu có thể tăng lên. Do vậy, quan trọng trên hết là của cải không phải là có số lượng cố định và các quốc gia có thể giàu lên không phải bằng cách bóc lột các quốc gia khác.

    Trong mô hình của Adam Smith về tự do tự nhiên, của cải được tạo ra không phải là một trò chơi có tổng bằng không. Sự xung đột về lợi ích sẽ không còn tồn tại nữa mà thay vào đó là sự hài hoà về lợi ích. Theo Jouvenel, điều này được coi như một sự “đổi mới vĩ đại” đã gây ra sự ngạc nhiên lớn cho những nhà cải cách châu Âu. “Ý tưởng mới vĩ đại này là nó có thể đem lại sự giàu có cho tất cả các thành viên của xã hội, cộng đồng và các cá nhân bằng sự tiến bộ từng bước trong việc tổ chức lao động” (Jouvenel 1999, 102). Sự phát triển này có thể diễn ra rất nhanh chóng và không bị giới hạn.

    Điều gì đã tạo nên sự tự do kinh tế mới này? Theo Smith, tự do tự nhiên bao gồm quyền được mua hàng hoá từ bất cứ nguồn nào, bao gồm cả các sản phẩm ngoại quốc mà không có những sự giới hạn về thuế hay hạn ngạch nhập khẩu. Nó bao gồm quyền được làm việc ở bất cứ công việc nào mà một người mong muốn và ở bất kỳ nơi nào anh ta thích. Smith đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách của châu Âu thế kỷ 18 khi mà người lao động phải có được sự cho phép của chính phủ (thông qua các giấy chứng nhận) để di chuyển từ thị trấn này đến thị trấn nọ, thậm chí trong một địa hạt (1965 . Ngay cả một số nhà Marxist đôi lúc cũng ca ngợi những luận điểm của Adam Smith.

    Cuộc đời của Adam Smith

    Adam Smith là ai và làm thế nào ông lại viết được một tác phẩm mang tính cách mạng về kinh tế học hiện đại như vậy?

    Các cảng biển và thương mại là những phần không thể tách rời trong cuộc đời của Adam Smith. Được sinh ra ở Kirkcaldy, trên bờ biển phía Đông Scotland gần Edinburg, vào tháng 6 năm 1723, ngay khi chào đời Smith đã có một bất hạnh lớn do cha ông qua đời cùng năm đó. Dường như Adam Smith sinh ra là định mệnh trở thành một học giả về thương mại và nhân viên hải quan. Cha ông, cũng tên là Adam Smith, là một nhân viên kiểm soát hải quan tại Kirkcaldy. Người cha đỡ đầu của ông, cũng có tên là Adam Smith, là một nhân viên thu thuế hải quan ở cùng thị trấn, và một người anh em họ của ông cũng là một thanh tra hải quan ở Alloa. Hãy thử tưởng tượng xem, tên của người anh em họ của ông cũng có tên là Adam Smith.

    Mặc dù Smith có quen biết nhiều phụ nữ, nhưng ông không hề cưới vợ. Quý bà Riccoboni, nhà tiểu thuyết người Pháp, đã viết rằng “Ông nói giọng khàn khàn với hàm răng lớn và trông ông ấy xấu xí như quỷ” khi gặp Adam Smith lần đầu tiên ở Paris vào tháng 5 năm 1766. “Ông ấy là một sinh vật đãng trí nhất”, nhưng sau cùng bà viết, “tuy nhiên ông là một người đáng yêu nhất” (trích trong Muller 1993, 16). Chúng ta biết chút ít về các mối tình đáng thương của ông. Nhà nghiên cứu tiểu sử về ông đã thuật lại rằng người đàn ông trẻ tuổi Smith đã say đắm một quý cô xinh đẹp và hoàn mỹ nhưng trong những hoàn cảnh không được biết rõ nào đó đã làm cản trở đám cưới của họ (Ross 1995, 402). Một số quý cô người Pháp đã theo đuổi nhà bác học xấu trai này, tuy nhiên đã không có một kết quả nào.

    Mặc dù David Hume thường xuyên trách cứ ông vì việc ông sống quá kín đáo, nhưng Smith đã dành thời gian rảnh rỗi cho việc tham gia rất nhiều câu lạc bộ, như Câu lạc bộ chơi bài, Câu lạc bộ Edinburg, “giới trí thức” London và Câu lạc bộ Johnson. John Rae đã nhận xét rằng “mẹ, bạn bè và các cuốn sách của ông là ba niềm vui lớn của Smith” (1895, 327).

    Ở tuổi 14 trẻ trung, Smith đã vào Đại học Glassgow, sau đó dành được học bổng tại Đại học Oxford, nơi ông đã dành 6 năm học các tác phẩm kinh điển Hy Lạp, Latin, văn học Pháp và Anh, cùng các môn khoa học và triết học. Nói về Đại học Oxford, ông đã viết trong cuốn Của cải của các quốc gia rằng “trong nhiều năm, phần lớn giới giáo sư đã và đang từ bỏ mọi thứ, thậm chí ngay cả giả vờ giảng dạy” (Smith 1965 .

    Về ngoại hình, Smith có một chiều cao trung bình và hơi quá cân. Ông không bao giờ ngồi xuống cho hoạ sĩ vẽ nhưng một số phác thảo cho thấy “một vài nét khá đẹp trai, trán rộng và đôi mắt sáng, lông mày thanh, mũi hơi khoằm với cái miệng và cằm rắn rỏi” (Rae 1895, 438). Ông tự mô tả chính mình rằng “tôi chỉ là một người bảnh bao trong các cuốn sách của mình” (Rae 1895, 438).

    Sau khi tốt nghiệp, ông nắm giữ vị trí giáo sư Triết học Đạo đức tại Đại học Glasgow từ năm 1751 đến 1763. Tác phẩm đầu tiên của ông, Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức (The theory of Moral Sentiments), được xuất bản năm 1759 và đã tạo dựng Adam Smith trở thành một nhà tư tưởng lớn của Scotland.

    Giáo sư đãng trí

    Trong những tật của mình, vị giáo sư nổi tiếng có một giọng nói khàn khàn, nặng tiếng và hay nói lắp. Ông là một thí dụ hoàn hảo về một giáo sư đãng trí. Cuộc đời của ông là một sự thường xuyên thiếu tính tổ chức và mơ hồ. Sách và các bài viết được vứt khắp mọi nơi trong lúc ông nghiên cứu. Ngay từ khi còn nhỏ, ông có thói quen tự nói chuyện một mình, “mỉm cười trong cuộc nói chuyện một cách say mê với những người bạn đồng hành vô hình” (Rae 1895, 329). Những câu chuyện về sự vụng về của ông rất nhiều: một lần ông ngã vào hầm thuộc da trong khi nói chuyện với một người bạn; một buổi sáng ông cho bánh mì và bơ vào bình trà, và sau khi uống bình trà đó, ông tuyên bố đó là tách trà tệ nhất mà ông từng uống; lần khác, ông đi dạo ra ngoài và mộng du trong bộ áo ngủ cũ kỹ và dừng lại khi đã cách vài dặm ở ngoài thị trấn. Một người cùng thời đã nhận xét, “ông ấy là người đãng trí nhất mà tôi được biết” (trích trong West 1976, 176).

    Smith đã viết cuốn kiệt tác của ông như thế nào

    Năm 1764, Charles Townsend, một nhà lãnh đạo Anh ở quốc hội đã đưa ra lời mời Smith làm gia sư cho con trai riêng của vợ mình là Henry Scott – Công tước xứ Buccleuch – với một khoản học phí và tiền trợ cấp kha khá . Họ đã tới Pháp, nơi mà Smith đã gặp Voltaire, Turgot, Quesnay và các nhà tư tưởng vĩ đại khác của Pháp. “Smith này là một người đàn ông thật tuyệt vời” Voltaire đã thốt lên. “Chúng ta không là gì khi so sánh với ông ấy” (trích trong Muller 1993, 15).

    Đó là nước Pháp mà Smith đã nhận ra rằng ông đã mất đi sở thích làm nhiệm vụ gia sư của mình và bắt đầu nghiên cứu và viết cuốn Của cải của các quốc gia. Ông đã mất 10 năm để viết cuốn sách này. Cuối cùng, khi cuốn sách được xuất bản bởi những nhà in hàng đầu của Anh, nó ngay lập tức trở thành sản phẩm bán chạy. Ngay trong lần xuất bản đầu tiên, 10.000 cuốn đã được bán hết trong vòng 6 tháng. David Hume và Thomas Jefferson thuộc trong số những người ca ngợi cuốn sách, và sau đó nó đã được tái bản vài lần và dịch ra tiếng nước ngoài trong thời gian Smith còn sống, caravat, một đôi cổ tay áo diềm đăng ten, hay một chiếc khăn tay mà không bị cấm được mặc hoặc sử dụng ở Đại Anh quốc. Tôi mong muốn mình được làm mẫu và đốt tất cả chúng đi”. Tuy nhiên, thay vào đó, ông đã dành 12 năm thực thi luật hải quan một cách khó giải thích. Đó là sự cám dỗ của công sở Nhà nước và sự ổn định về nghề nghiệp.

    Một vụ thiêu huỷ khác vào những năm cuối đời

    Một sự kiện thiêu hủy thứ hai đã xảy ra lúc cuối đời của Smith vào năm 1790. Ông đã ăn tối chủ nhật hàng tuần với hai người bạn thân nhất của mình, Joseph Black (nhà hoá học) và James Hutton (nhà địa lý) tại một quán ăn ở Edinburg. Vài tháng trước khi ông mất, ông đã khẩn khoản yêu cầu các bạn của ông hãy huỷ bỏ những giấy tờ của ông chưa được xuất bản ngoại trừ một số ít ông đã cân nhắc gần như chắc chắn để làm việc đó. (Tại sao ông không tự mình đốt những giấy tờ này là một điều bí ẩn). Đây không phải là một yêu cầu mới mẻ. 17 năm trước, khi du lịch tới London với bản viết tay Của cải của các quốc gia, ông đã dặn David Hume, người thày của ông, huỷ toàn bộ các giấy tờ vụn vặt và 18 tập sách dày của mình mà “không cần bất kỳ sự kiểm tra nào” đồng thời không để lại bất kỳ cái gì ngoại trừ những nghiên cứu chưa hoàn thành của ông về lịch sử thiên văn học.

    Smith dường như đã được đọc về trường hợp của một nhân vật đương thời có sở hữu một vài bài viết riêng tư được hé lộ cho công chúng với một tiểu sử “nói hết” và ông đã sợ điều này xảy ra tương tự với mình. Ông cũng có thể đã quan tâm tới những bức thư hoặc bài luận mà ông viết ra để bảo vệ một kẻ dị giáo như Hume trong một thời kỳ không có sự khoan dung đối với những người như vậy. Nhưng Hume đã mất trước lúc Smith làm điều đó và phải có một người thực hiện di chúc là điều cần thiết.

    Lúc sắp mất, Smith trở nên cực kỳ lo lắng về những tài liệu riêng tư của mình và đã yêu cầu nhiều lần các bạn của mình là Black và Hutton tiêu huỷ chúng. Black và Hutton luôn luôn thoái thác làm theo yêu cầu của Smith, hy vọng rằng Smith có thể thay đổi ý nghĩ đó. Nhưng một tuần trước khi mất, ông đã gửi hoả tốc tới những người bạn của mình và khẩn khoản họ hãy đốt tất cả những bản viết mà không cần biết hoặc hỏi trong đó có gì, ngoại trừ một số ít mục chuẩn bị xuất bản. Cuối cùng hai người đã buộc phải bằng lòng và đốt tất cả mọi thứ gồm 16 tập viết tay, trong đó có bản viết của Smith về luật pháp.

    Sau khi đốt toàn bộ, người giáo sư già dường như đã cảm thấy rất thanh thản. Khi những người khác đến thăm ông vào tối chủ nhật tiếp theo để ăn tối như thường lệ, ông đã từ chối không tham gia. “Các quý ông thân mến, tôi rất yêu thích sự đồng hành với các bạn, nhưng tôi tin rằng mình phải rời xa các bạn đi sang một thế giới khác”. Đó là những lời cuối cùng ông gửi tới họ. Ông mất vào thứ bảy tuần sau, ngày 17 tháng 7 năm 1790.

    Smith định nghĩa về 3 thành tố

    Smith bắt đầu cuốn sách với việc bàn luận làm cách nào sự thịnh vượng và của cải được tạo ra thông qua hệ thống thị trường tự do dân chủ. Ông nhấn mạnh 3 đặc trưng của hệ thống tự điều chỉnh hay mô hình cổ điển:

    1. Tự do: các cá nhân có quyền sản xuất và trao đổi hàng hoá, lao động và vốn nếu họ thấy thích hợp.

    2. Cạnh tranh: các cá nhân có quyền cạnh tranh trong sản xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ.

    3. Công bằng: các hoạt động của cá nhân phải công bằng và trung thực dựa trên các nguyên tắc của xã hội.

    Cần chú ý rằng Adam Smith đã kết hợp ba nguyên tắc này trong câu phát biểu sau đây: “Mọi người, khi không vi phạm luật pháp, được phép hoàn toàn tự do mưu cầu lợi ích của bản thân theo cách riêng của mình và được phép đem sự siêng năng và đồng vốn của mình cạnh tranh với bất kỳ người hoặc nhóm người nào khác” (1965 . George Stigler đã gọi đó là “vương miện nạm ngọc” của Của cải của các quốc gia và là “định đề quan trọng nhất của mọi định đề trong kinh tế học”. Ông bổ sung thêm, “Smith có một chiến thắng đặc biệt quan trọng: ông đưa vào trung tâm kinh tế học sự phân tích có hệ thống hành vi của các cá nhân theo đuổi lợi ích tư lợi dưới những điều kiện cạnh tranh” (Stigler 1976, 1201).

    Xây dựng trên mô hình cân bằng tổng quát (GE) của Walras, Pareto, Edgeworth và rất nhiều những bậc tiền bối khác, Kenneth J. Arrow và Frank Hahn đã viết một cuốn sách tổng thể phân tích “một nền kinh tế phi tập trung hoá, lý tưởng hoá”, và coi Smith như “sự diễn tả nên thơ của cấu thành cơ bản nhất về các mối quan hệ cân bằng trong nền kinh tế, sự cân bằng hoá tỷ lệ lợi nhuận…”. Hahn kỳ vọng một sự hỗn loạn vô chính phủ, nhưng thị trường đã đưa ra “một câu trả lời khác” – sự trật tự tự phát. Ở một khía cạnh rộng hơn, Arrow và Hahn phát biểu rằng tầm nhìn của Smith “hiển nhiên là đóng góp trí tuệ quan trọng nhất mà tư tưởng kinh tế đã tạo ra một sự hiểu biết chung về tiến trình xã hội” (Arrow và Hahn 1971, v, vii, 1). Không chỉ về kinh tế học phúc lợi (Luật Walras, tối ưu Pareto, hộp Edgeworth) đã khẳng định dựa trên căn cứ hình học và toán học về luận điểm cơ bản của Adam Smith, mà nó còn cho thấy rằng trong hầu hết các trường hợp sự độc quyền, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các hình thức khác phi cạnh tranh tất yếu dẫn đến sự lãng phí và không hiệu quả (Ingra và Israel 1990).

    Adam Smith nói về Bàn tay vô hình

    Thật ngạc nhiên khi Adam Smith sử dụng thuật ngữ “bàn tay vô hình” chỉ có ba lần trong các tác phẩm của mình. Các đề cập là rất ít ỏi mà các nhà kinh tế và chính trị hiếm khi đề cập đến ý tưởng bàn tay vô hình như một thuật ngữ trong thế kỷ 19. Không có sự trích dẫn tham khảo nào về nó trong lễ kỷ niệm một thế kỷ ra đời tác phẩm Của cải của các quốc gia vào năm 1876. Sự thật là, trong tập được tái bản nổi tiếng của Edwin Cannan, được xuất bản năm 1904, phần chú dẫn đã không có một mục từ riêng nào cho “bàn tay vô hình”. Thuật ngữ này chỉ trở nên một biểu tượng thông dụng trong thế kỷ 20 (Rothschild 2001, 117-18). Nhưng sự kiện mang tính lịch sử này không ám chỉ rằng phép ẩn dụ của Smith chỉ là thứ bên lề trong tư tưởng của ông; nó thực sự là nhân tố trung tâm của tư tưởng ấy.

    Sự đề cập về bàn tay vô hình được tìm thấy trong cuốn “Lịch sử Thiên văn học”, cuốn sách ông đã trình bày về những người mê tín khi họ cho rằng các hiện tượng bất thường là do các thần thánh vô hình tạo ra:

    Đối với loài người trong thời kỳ nguyên thuỷ, cũng như trong thời kỳ đầu của người Heathen cổ xưa, những hiện tượng bất thường của thiên nhiên đều được cho là từ các lực lượng siêu nhiên và quyền năng do chúa của họ tạo ra. Lửa cháy và nước chảy; vật thể nặng chìm xuống và vật thể nhẹ hơn nổi lên là quy luật của tự nhiên; chứ không phải bao giờ cũng là bàn tay vô hình của thần Jupiter được sử dụng vào những vấn đề như vậy (Smith 1982, 49).

    Lời tuyên bố đầy đủ về quyền năng kinh tế của bàn tay vô hình đã xuất hiện ở Lý thuyết Tình cảm Đạo đức, khi mà Smith đã mô tả một số chủ đất giàu có khó ưa là những người có “bản tính ích kỷ và tham lam” theo đuổi “những nhu cầu vô độ và hão huyền”. Và hơn nữa họ đã tuyển dụng vài ngàn người công nhân nghèo khổ để sản xuất những hàng hoá xa hoa:

    Phần còn lại ông ta , 183-85).

    Vì vậy, mọi cá nhân có nỗ lực hết sức để có thể sử dụng đồng vốn của mình hỗ trợ ngành sản xuất trong nước và làm cho ngành này có thể tạo ra giá trị lớn nhất; mỗi cá nhân nhất thiết phải lao động để làm cho doanh thu hàng năm của xã hội ở mức lớn nhất anh ta có thể. Nhìn chung, thực sự anh ta không có ý định thúc đẩy lợi ích chung hoặc giả cũng không biết rằng mình đã thúc đẩy lợi ích đó lên được bao nhiêu… Và bằng việc hướng ngành sản xuất vào việc tạo ra các sản phẩm có giá trị lớn nhất có thể, anh ta chỉ có ý định là thu vén cho lợi ích của riêng mình, và anh ta ở trong trường hợp này cũng như nhiều trường hợp khác, bị dẫn dắt bởi bàn tay vô hình thúc đẩy để thực hiện một mục đích mà thực ra anh ta không hề nghĩ đến. Điều đó cũng không làm cho xã hội bị tồi đi. Bằng việc theo đuổi lợi ích riêng của mình, anh ta thường xuyên thúc đẩy lợi ích của xã hội nhiều hơn khi anh ta thực sự có ý định làm như vậy. Tôi chưa bao giờ được biết nhiều điều tốt như thế từ những kẻ giả danh buôn bán vì lợi ích chung (Smith 1965 [1776], 423).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Sử Adam Khoo
  • Những Cuốn Sách Hay Nhất Của Adam Khoo Mà Bạn Nên Đọc
  • Adam Khoo Là Ai? Tiểu Sử Tác Giả “tôi Tài Giỏi, Bạn Cũng Thế”
  • Khoa Học Về Không Gian: Những Bức Hình Lịch Sử Khi Loài Người Đặt Chân Lên Mặt Trăng
  • 10 Câu Nói Để Đời Của Alexander Đại Đế
  • Khảo Lược Adam Smith :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Thuyết Kinh Tế Của Adam Smith
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Bất Hủ Của Bác Hồ Vị Lãnh Tụ Vĩ Đại
  • 26 Câu Nói Nổi Tiếng Của Hồ Chủ Tịch Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Đến Ngày Nay
  • 10 Điều Thú Vị Nhất Về Baymax Trong Big Hero 6
  • Softness, Warmth, And Responsiveness Improve Robot Hugs
  • Giới thiệu sách:

    Eamonn Butler đã viết được một tác phẩm dẫn nhập đáng khâm phục và đầy sức thuyết phục về cuộc đời và tư tưởng của Adam Smith, giúp mọi người hiểu được thực chất tư tưởng của Adam Smith là gì.

    Tác giả : Eamonn Butler

    Dịch giả : Phạm Nguyên Trường

    Số trang : 140

    Giá bìa : 26000 VNĐ

    Khổ sách : 13×19 cm

    Loại bìa : Mềm, tay gập

    Phát hành : Công ty CP Đại lý xuất bản VNN

    Năm xuất bản : 2010

    Tình trạng : Còn Sách

    Trích lời nói đầu:

    Eamonn Butler đã viết được một tác phẩm dẫn nhập đáng khâm phục và đầy sức thuyết phục về cuộc đời và tư tưởng của Adam Smith. Đây là tác phẩm dẫn nhập ngắn và hay nhất mà tôi từng biết, nó sẽ giúp mọi người hiểu được thực chất tư tưởng của Adam Smith là gì.

    Eamonn Butler tránh xa những cuộc bút chiến về kinh tế chính trị học của Adam Smith mà người ta đã viết rất nhiều suốt bao năm qua. Cuốn sách này, viết về con người và tác phẩm của Adam Smith, là một sự đánh giá chính xác công trình tổng hợp có một không hai của ông về sự tiến hoá của xã hội Anh cho đến giữa thế kỉ XVIII.

    Adam Smith (1723-1790), một nhà triết học và kinh tế học nổi tiếng người Scotland, nổi tiếng với tác phẩm An Inquiry into the Nature and Causes of The Wealth of Nations (Tìm hiểu về bản chất và của cải của các quốc gia) (1776), một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất từng được viết ra từ xưa đến nay. Smith, dựa trên nhận thức hoàn toàn mới về cách thức hoạt động của xã hội hiện đại, đã đưa tư duy của chúng ta về đời sống kinh tế từ hình thức cổ đại đến một hình thức khác hẳn.

    Tác phẩm The Theory of Moral Sentiment (Lí thuyết về cảm nhận đạo đức), ít được biết đến hơn được xuất bản mười bảy năm trước khi cuốn An Inquiry into the Nature and Causes of The Wealth of Nations (Của cải của các quốc gia) xuất hiện. Người ta đã cho rằng trong giai đoạn đó Smith đã chuyển từ quan niệm cho rằng lòng nhân từ là động cơ hành động của con người sang quan niệm cho rằng tính tư lợi phi đạo đức mới là động cơ đích thực. Nhưng từ những ghi chép của những sinh viên vô danh trong các năm 1762-1763, chúng ta biết rằng phần lớn các bài giảng của Smith đã tái xuất hiện gần như nguyên văn trong tác phẩm Của cải của các quốc gia, xuất bản vào năm 1776. Ông xuất bản các bài giảng (1751-1764) dưới tên gọi là Lí thuyết về cảm nhận đạo đức vào năm 1759. Như vậy là Adam Smith không có những quan điểm trái ngược nhau về động cơ của con người.

    Smith là nhà luân lí học. Trong thế kỉ XVIII kinh tế học chưa trở thành ngành học riêng biệt, mãi đến thế kỉ XIX nó mới trở thành một ngành học mới. Đúng là đã có rất nhiều tác giả, cả trước đây lẫn hiện nay, viết về kinh tế (Đại học Yale lưu trữ mấy ngàn tác phẩm viết từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII), và một số người đã có đóng góp đối với môn kinh tế học, nhưng không có ai khảo sát một cách qui mô và theo kiểu như Smith đã làm.

    Trí tuệ của ông không phải ở chỗ phát minh ra sự phân công lao động – “vinh quang” này thuộc về Plato, còn ở thời “hiện đại” thì thuộc về Sir William Petty (1690) – mà ở chỗ nhận ra ý nghĩa của nó như là phương tiện lan truyền của cải đến phần đông dân cư chứ không phải chỉ cho những người giàu có nhất, và làm cho tất cả mọi người đều trở thành giàu có sau một vài thế hệ.

    Điều đó lại đưa ông đến những câu hỏi như: Nếu phân công lao động là then chốt thì cái gì sẽ làm gia tăng sản lượng, phần đóng góp của mỗi người được quyết định như thế nào, và quan trọng là, đâu là chướng ngại vật trên đường dẫn tới sự giàu sang? Trong cú nhảy từ mô tả sang phân tích vấn đề, ông đã đặt nền móng cho một môn khoa học mới về kinh tế.

    […]

    1 Eamonn Butler đã viết được một tác phẩm dẫn nhập đáng khâm phục và đầy sức thuyết phục về cuộc đời và tư tưởng của Adam Smith, giúp mọi người hiểu được thực chất tư tưởng của Adam Smith là gì.

    ********* Tóm tắt (Eamonn Butler, Khảo lược Adam Smith, Phạm Nguyên Trường dịch, trang 13-14):

    • Tiến sĩ Eamonn Butler là Giám đốc Viện Adam Smith, một cơ quan nghiên cứu (think tank) có nhiều ảnh hưởng, từng chấp bút cho một loạt chính sách nhằm thúc đẩy sự lựa chọn và cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ trọng yếu. Ông có bằng kinh tế học, triết học và tâm lí học và đã bảo vệ luận án tiến sĩ triết học (PhD) tại trường đại học St Andrew vào năm 1978. Trong những năm 1970 ông còn nghiên cứu các vấn đề về hưu bổng và chăm sóc sức khoẻ cho Hạ viện Mỹ ở Washington, DC. Sau khi quay lại Anh, ông giữ chân biên tập viên tạp chí British Insurance Broker, rồi trở thành giám đốc Viện Adam Smith, mà ông đã góp công thành lập. Tiến sĩ Butler là tác giả của khá nhiều cuốn sách và bài báo viết về lí thuyết và hoạt động kinh tế, cũng như đồng tác giả của khá nhiều tác phẩm về trí thông minh và kiểm tra chỉ số thông minh (IQ).

      Của cải của các quốc gia không phải là số vàng bạc chứa trong kho, như những người theo phái trọng tiền* vẫn nghĩ, mà là tổng giá trị sản phẩm và thương mại của quốc gia đó – ngày nay chúng ta gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

    • Tự do trao đổi làm cho cả hai bên đều có lợi. Người ta sẽ không trao đổi khi nghĩ rằng mình bị thiệt. Vì vậy nhập khẩu mang lại lợi ích cho chúng ta cũng như hàng xuất khẩu của chúng ta mang lại lợi ích cho người khác. Chúng ta không cần phải làm cho người khác nghèo đi thì mình mới giàu lên. Thực ra, chúng ta sẽ được lợi nếu người tiêu dùng của chúng ta là những người giàu có.

    • Năng lực sản xuất của quốc gia phụ thuộc vào việc phân công lao động và tích luỹ tư bản. Năng suất gia tăng nhanh chóng nếu chia sản xuất thành nhiều công đoạn nhỏ, mỗi công đoạn lại được những người có tay nghề thực hiện. Người sản xuất thu được giá trị thặng dư để có thể đầu tư tiếp.

    • Thu nhập của đất nước trong tương lai phụ thuộc vào tốc độ tích luỹ tư bản. Những ngành có năng suất cao càng được đầu tư nhiều thì càng sản xuất được nhiều của cải hơn trong tương lai.

    • Khi được tự do trao đổi và cạnh tranh, thị trường tự động tập trung chú ý vào những nhu cầu thiết yếu nhất. Khi một món hàng hoá nào đó trở nên khan hiếm thì người dân sẵn sàng trả giá cao hơn. Cung cấp các hàng hoá này sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn , vì vậy người sản xuất đầu tư nhiều hơn cho việc sản xuất các loại hàng hoá đó.

    • Thịnh vượng sẽ gia tăng nhanh nhất khi có thị trường cởi mở và cạnh tranh, trao đổi tự do và không bị ép buộc. Quốc phòng, luật pháp và chế độ pháp trị là để duy trì sự cởi mở đó. Tự do và tư lợi không dẫn đến hỗn loạn mà – như được một “bàn tay vô hình” dẫn dắt – tạo ra trật tự và hài hoà.

    • Các nhóm đặc quyền sử dụng quyền lực của nhà nước nhằm làm méo mó hệ thống thị trường để thu lợi riêng. Người sử dụng lao động và người có tay nghề có thể cổ vũ cho những điều luật ngăn chặn cạnh tranh như đặt ra rào cản không cho người khác tham gia hoạt động trong những ngành nghề cụ thể nào đó.

    • Thuế khoá phải tỉ lệ thuận với thu nhập, phải xác định và dễ đóng. Mức thuế phải thấp để người ta có thể nộp, thuế phải không được gây cản trở cho doanh nghiệp, không được quá nặng vì sẽ khuyến khích trốn thuế và không được đòi hỏi nhân viên thuế vụ phải đến kiểm tra doanh nghiệp một cách thường xuyên.

    • Con người vốn có sự “thông cảm” (hay “đồng cảm”) tự nhiên với người khác. Điều đó giúp họ tiết chế hành vi của mình và tạo ra sự hài hoà. Đấy chính là cơ sở của việc đánh giá hành vi và là nguồn gốc đức hạnh của con người. Bản chất của con người là động cơ dẫn đến sự hình thành xã hội hài hoà chứ không phải là lí do sinh ra những người quá khích hay viển vông.

    * Trước đây thường dịch là trọng thương – ND

    1. Adam Smith – một nhân vật quan trọng
      • Quan niệm cũ về kinh tế học
      • Hiệu quả của trao đổi tự do
      • Chế độ xã hội trên cơ sở tự do
      • Tâm lí học của đức hạnh
      • Tư lợi và đức hạnh
      • Bản chất của con người và xã hội loài người
    2. Cuộc đời và sự nghiệp của Adam Smith
      • Kirkcaldy và Glasgow
      • Oxford và những biện pháp khuyến khích
      • Những ngày đầu trên bục giảng
      • Những chuyến du hành
      • Của cải của các quốc gia
      • Cố vấn hải quan
    3. Của cải của các quốc gia
      • Sản xuất và trao đổi
      • Tích luỹ tư bản
      • Lịch sử của các định chế kinh tế
      • Lí thuyết kinh tế và chính sách
      • Vai trò của chính phủ
      • Của cải của các quốc gia ngày nay
    4. Lí thuyết về cảm nhận đạo đức
      • Đồng cảm một cách tự nhiên là cơ sở của đức hạnh
      • Thưởng, phạt và xã hội
      • Công lí là nền tảng
      • Tự phê bình và lương tâm
      • Các qui tắc đạo đức
      • Thái độ đối với của cải
      • Tự hoàn thiện
      • Bàn về đức hạnh
      • Xây dựng xã hội đức hạnh
    5. Các bài giảng và tác phẩm khác của Smith
      • Một đề tài nhất quán
      • Smith bàn về triết lí của khoa học
      • Tâm lí học của quá trình giao tiếp
      • Smith bàn về chính phủ và chính sách công
      • Kết luận
    6. Bàn thêm về bàn tay vô hình
      • Người giàu tạo công ăn việc làm cho người nghèo
      • Nền công nghiệp trong nước và nước ngoài
      • Hậu quả không dự định trước của hành động của con người
      • Hệ thống tự du trì
      • Hành động mang tính cá nhân và kết quả mang tính xã hội
    7. Một số trích đoạn nổi tiếng của Adam Smith
    8. Thư mục chọn lọc

    Lời bạt: Adam Smith của ngày hôm nay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyên Ngôn Của Adam Smith Về Cuộc Cách Mạng Kinh Tế Năm 1776
  • Tiểu Sử Adam Khoo
  • Những Cuốn Sách Hay Nhất Của Adam Khoo Mà Bạn Nên Đọc
  • Adam Khoo Là Ai? Tiểu Sử Tác Giả “tôi Tài Giỏi, Bạn Cũng Thế”
  • Khoa Học Về Không Gian: Những Bức Hình Lịch Sử Khi Loài Người Đặt Chân Lên Mặt Trăng
  • Câu Nói Nổi Tiếng Của Joker

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Bất Hủ Của Joker, Đáng Suy Ngẫm Nhất
  • Những Câu Nói Hay Của Joker Với Triết Lý Thâm Sâu
  • 50+ Những Câu Nói Hay Nổi Tiếng Của Tỷ Phú Jack Ma
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Của Jack Ma Làm Thay Đổi Cuộc Đời Bạn
  • Những Câu Nói “để Đời” Của 10 Người Giàu Nhất Thế Giới
  • 2. JOKER – Những câu nói đi trước thời đại của Joker

    4. Ngoài ra những câu nói của họ có thể khiến cho người khác phải thay đổi tư duy, cách sống của rất nhiều người khác.

    5. Hãy Đăng Ký (Subscribe) đón nhận những video hữu ích và giá trị.

    8. Khi người nổi tiếng nói một câu dí dỏm, triết lý hay có truyền cảm hứng, mọi người thường có xu hướng trích dẫn những gì người này có thể sẽ nói dù sự thật có thể sai khác.

    10. Câu thoại của Joker nói với Batman, ngụ ý rằng cả hai là một cặp “trời sinh” dù luôn đứng ở hai chiến tuyến để đối đầu nhau.

    13. Câu nói hay Joker đã trở thành một trong những nhân vật phản diện (supervillain) được yêu thích nhất.

    14. Một trong những lý do Joker là cái tên nhân vật phản diện được nhắc đến nhiều nhất và còn có không ít “fan” là bởi những câu nói thâm sâu bất hủ của “hoàng tử tội phạm”.

    16. Những câu nói hay của Joker phiên bản The Dark Knight (2008) và Joker (2019) Joker một nhân vật phản diện hay nhất mọi thời đại từ tuyện tranh cho đến phim nhân vật Joker được rất nhiều nam diễn viên thủ vai như Cesar Romero, Jack Nicholson, Heath Ledger hay Jared Leto và ….

    18. ” Chúng mày dừng cái việc kiểm tra xem có con quỷ nào dưới gầm giường đi khi nhận ra rằng chúng nó ở chính bên trong bọn mày ” – Joker 3.

    20. Tuy nhiên phải đặt đúng bối cảnh khi câu nói này được thốt ra mới đủ hiểu ý nghĩa sâu sắc trong cái sự “điên” nhưng có tầm của gã.

    21. 12/09/2019 · Điểm qua những câu nói hay của Joker bằng tiếng Anh mang châm ngôn, lý tưởng sống khác biệt của nhân vật tội phạm phản diện trong các phần của Batman.

    22. Tổng hợp những câu nói hay của Joker đều là những câu nói nổi tiếng bất hủ và được nhiều fan trên toàn thế giới biết đến.

    24. Đó là những câu nói khiến Joker trở nên bất hủ , bạn có ấn tượng và phải suy ngẫm câu nào trong đây không.

    26. JokerNhững câu nói hay đến bất hủ của Joker Với bộ độ tím ma mị, nụ cười quái đản trên khuôn mặt đầy sẹo, đôi mắt như nhìn sâu vào tâm can người khác và khơi gợi phần đen tối trong tâm hồn của họ.

    31. Những câu nói hay của joker bằng tiếng anh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Điều Bạn Và Con Có Thể Học Được Khi Cùng Xem Phim Forrest Gump
  • Review Phim Forrest Gump: Chàng Ngốc Tuyệt Vời
  • Bài Học Từ 5 Câu Nói Nổi Tiếng Của Cựu Tt Mỹ Franklin Về Tiền
  • Những Câu Nói Hay Của Người Nổi Tiếng Về Thành Công Trong Cuộc Sống
  • Muốn Thành Công, Phải Nhớ Câu Nói Của Thomas Edison
  • 9 Câu Nói Nổi Tiếng Của Joker

    --- Bài mới hơn ---

  • 30 Câu Nói Của Karl Marx
  • 16 Bài Học Bất Hủ Cho Mọi Người Đàn Ông Từ Tiểu Thuyết Bố Già
  • Nhận Thức Bài Học Qua Câu Nói: “hãy Cho Tôi Một Điểm Tựa, Tôi Sẽ Nâng Bổng Cả Trái Đất Lên”
  • 5 Câu Nói Để Đời Nhà Toán Học Vĩ Đại Nhất Thời Cổ Đại Archimedes
  • jack Sparrow Có Thật Sự Bất Tử Như Chúng Ta Vẫn Nghĩ?
  • Cập nhật vào 03/01

    Joker – kẻ muốn chống lại loài người trong bộ phim Bat Man. Tên hề quái dị và có sức hút cực lớn với giới trẻ đã tạo ra những triết lý “không giống ai” mà khi đọc nó chúng ta đôi lúc phải “giật mình suy ngẫm”.

    Liệu những triết lý đặc biệt đó của Joker có hoàn toàn là của “quỷ dữ” hay 1 phần nó cũng bao hàm ngụ ý với tất cả chúng ta và cuộc sống này?

    1. “Nếu mày giỏi việc gì, thì đừng bao giờ làm nó miễn phí”

    2. “Họ cười tao vì tao không giống họ, tao cười họ vì họ quá giống nhau”

    Đôi khi đa số chưa hẳn đã đúng, nhưng đa số vẫn thường cười thiểu số vì họ quan niệm sai lầm rằng “bên nào đông hơn là bên đó đúng”.

    Chúng ta nhiều khi cũng hay hùa vào chê những kẻ lập dị, những người có suy nghĩ khác chúng ta.

    Nhưng chính vì chúng ta có số đông đồng tình nên sẽ không suy nghĩ được kỹ càng vấn đề mà hiển nhiên coi kết quả đó là đúng, đó là ẩn ý của Joker.

    Einstein và nhiều nhà khoa học khác đã từng ở trong tình trạng như Joker vậy, và họ có cười chúng ta không?

    3. “Không quan trọng mày là ai, đừng mất công thanh minh, những gì mày đang làm, sẽ định nghĩa con người mày”

    4. “Cách hợp lý nhất để sống trong thế giới này là phá bỏ đi những nguyên tắc”

    5. “Chúng mày có dừng ngay cái việc đang đi tìm một con quỷ dưới gầm giường trong khi nó đang ở bên trong chính chúng mày”

    Đôi khi bản thân chúng ta hay tìm những cái sai của người khác, bới móc để chê trách sai lầm của người khác nhưng quên mất rằng chính bản thân mình cũng vẫn còn những sai lầm.

    Không ai trong chúng ta hoàn hảo cả và ta cần tự nhận thức trước xem có “con quỷ trong mình” hay không trước khi đi tìm “con quỷ dưới gầm giường”

    6. “Khi không còn những thằng như tao, ai sẽ cần đến mày chứ, người hùng?”

    Đó là quy luật tự nhiên nhưng khắc nghiệt trong cuộc sống, phải có vai phản diện và vai chính diện, nếu không có Joker, chúng ta cũng chẳng cần tới Bat Man.

    Mọi thứ luôn có tính hai mặt của nó, nếu chúng ta giết hết những con sói xung quanh bầy cừu thì bầy cừu đó sẽ ngày càng lười biếng, sẽ không phát triển các khả năng và rồi chết bằng cách tự hủy hoại mình.

    7. “Thời buổi này chả trông cậy ai được. Phải tự mình làm hết mọi việc”

    8. “Khi gặp chuyện ngặt nghèo, những những con người văn minh này sẽ ăn thịt lẫn nhau. Hiểu không? Tao không phải quái vật, tao chỉ đi trước thời đại thôi”

    Đừng vội chê trách hay đánh giá người khác khi chúng ta chưa ở vào hoàn cảnh “ngặt nghèo” của họ, chỉ khi gặp những điều tệ hại nhất, bản chất thật sự của con người mới lộ ra.

    9. “Tao tin rằng những gì không thể giết chết mày sẽ làm mày khác biệt hơn”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Hàng Nhớ Lại Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
  • Ngôi Nhà Thơ Ấu Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Giờ Ra Sao
  • Câu Nói Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Đã Được Chứng Minh
  • Những Ngày Cuối Của Tt Nguyễn Văn Thiệu
  • Chủ Trương 4 Không Của Tổng Thống Thiệu Với Những Cái Không Của Đảng Csvn
  • Câu Nói Nổi Tiếng Của Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Mười Lời Thề Danh Dự Của Quân Nhân Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • 12 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Nhất Về Bố Học Tiếng Anh Văn Phòng Cùng Geo
  • Top Lời Chúc Sinh Nhật Hài Hước, Bá Đạo, Độc Đáo Nhất Hiện Nay
  • 25 Câu Nói Siêu Bựa Siêu Bá Đạo Về Tình Yêu Dễ Khiến Người Ta Tụt Hứng Nhất Mọi Thời Đại
  • Lời Tri Ân Thầy Cô Của Học Sinh, Sinh Viên Nhân Năm Cuối Ra Trường 202
  • Tục ngữ nổi tiếng của Pháp

    Điều thú vị về tục ngữ tiếng Pháp là các bản dịch theo nghĩa đen của chúng nghe có vẻ buồn cười, nhưng nhiều câu tục ngữ có một từ tiếng Anh tương đương:

    • On n’appnd pas aux vieux singes à faire des nhăn mặt. Điều này được dịch theo nghĩa đen là Bạn không thể dạy những con khỉ già làm khuôn mặt, và có nghĩa tương tự như cụm từ tiếng Anh. Bạn không thể dạy cho những con chó già những mánh khóe mới.
    • Chacun voit midi à sa porte. Điều này có nghĩa là người Mọi người nhìn thấy buổi trưa tại cửa riêng của mình; với một chút trí tưởng tượng, bạn có thể đến với tiếng Anh tương đương
    • Rien ne sert de semir, il faut partir à point. Dịch từ này thành từ có hiệu quả sang Gia dụng Không có ý nghĩa gì trong việc chạy; bạn chỉ cần đi đúng giờ, mà tương tự như câu ngạn ngữ tiếng Anh thì Chậm và ổn định sẽ thắng cuộc đua.
    • Trên ne thay đổi pas une équipe qui gagne. Cụm từ tiếng Pháp này được dịch theo nghĩa đen là Một người không thay đổi một đội chiến thắng, và có nghĩa tương tự như cụm từ tiếng Anh thông dụng. Nếu nó không bị hỏng, đừng sửa nó, Hãy hay bỏ lại một mình.
    • Il n’y a pas de fumée sans feu. Bản dịch theo nghĩa đen (Nói không có khói mà không có lửa) rất gần với cụm từ tiếng Anh tương đương với Ở đâu có khói.
    • Vaut mieux pré đèn que guérir. Câu nói nổi tiếng này trong tiếng Pháp có thể được dịch là Từ Thà tốt hơn là nên chữa bệnh, chữa bệnh và tương tự như câu ngạn ngữ tiếng Anh phổ biến. Một ounce phòng ngừa đáng giá một pound thuốc chữa bệnh.
    • Autres temps, autres mœurs. Điều này dịch sang tiếng Khác Thời gian khác, các giá trị khác, Tiếng Anh hoặc, bằng tiếng Anh, chỉ đơn giản là Thay đổi Thời gian.
    • Un malheur ne vient jamais seul. Bản dịch của bản này là một điều bất hạnh không bao giờ đến một mình, khác được nói một cách thành ngữ là Tử Khi trời mưa, trời đổ.
    • Vouloir, pouvoir. Có thể dịch là Tiếng Để muốn là có thể, Tiếng Anh và tiếng Anh có thể được nói là Tiếng Ở đâu có ý chí, có một cách.
    • Il faut réfléchir avant d’agir. Được dịch theo nghĩa đen là Một người phải phản ánh trước khi hành động, Tiếng Anh tương đương với Tiếng Anh Hãy nhìn trước khi bạn nhảy.
    • Si jeunesse savait, si vieillesse pouvait. Điều này dịch trực tiếp là thành phố nếu thanh niên chỉ biết; nếu tuổi già chỉ có thể, thì tương tự như câu tục ngữ tiếng Anh Thanh niên bị lãng phí

    Những câu nói nổi tiếng của Pháp từ các nhà văn

    Các nhà văn, nhà thơ và nhà triết học người Pháp đã cung cấp trí thông minh và trí tuệ đã lưu hành trên khắp thế giới. Một số câu nói này có thể quen thuộc:

    • Tout đến en Pháp. Câu nói này dịch ra những thứ xảy ra ở Pháp, từ những người Maximes, Réflexions morales của François de La Rochefoucauld
    • Tous đổ un, un đổ tous. Tất cả cho một, một cho tất cả, từ Ba người lính ngự lâm (Ba chàng lính ngự lâm) của Alexandre Dumas
    • Dis-moi ce que tu manges, je te dirai ce que tu es. Hãy nói cho tôi biết bạn ăn gì và tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là gì (Bạn là những gì bạn ăn) từ Physiologie du goût, Médemony IV, de l’appétit của Anthelme Brillat-Savarin
    • Rien ne sert d’être vivant s’il faut qu’on travaille. Sống còn sống không phục vụ mục đích nếu bạn phải làm việc từ Nadja, bởi André Breton
    • Trên ne voit bien qu’avec le cœur. Chúng tôi chỉ thấy tốt với trái tim của Hoàng tử từ Le Petit Prince của Antoine de Saint-Exupéry
    • La mort n’a peut-être pas plus de secret à nous révéler que la vie? Dịch là: Có lẽ cái chết không có bất kỳ bí mật nào được tiết lộ cho chúng ta hơn cuộc sống? Từ từ Phóng viên à Georges Sand của Gustave Flaubert
    • Il n’y a qu ‘un bonheur dans la vie, c’est d’aimer et d’être aimé. Dịch là: Chỉ có một niềm hạnh phúc trong cuộc sống: được yêu và được yêu. Hãy từ Corr Corrence à Lina Calmatta của Georges Sand.
    • Il vaut mieux faire que dire. Dịch là: Tiếng Làm tốt hơn là nói. Từ từ Pierre et Camille của Alfred de Musset.

    Câu nói nổi tiếng

    Có rất nhiều từ về tình yêu, sự hài hước và trí tuệ của người Pháp do người Pháp cung cấp. Cho dù bạn là một triết gia hay người yêu thích ngôn từ, những câu nói tiếng Pháp có thể nâng cao quan điểm của bạn về cả ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp. Ngay cả khi có một cụm từ tương đương trong tiếng Anh, đôi khi thật thú vị khi sử dụng từ tiếng Pháp để thay đổi tốc độ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Ý Nghĩa Được Rút Ra Từ Cuộc Sống Bạn Nên Đọc
  • Những Lời Chúc Ngày 20/10 Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Tận Hưởng Cuộc Sống: 40+ Danh Ngôn Hay
  • Danh Ngôn Về Sự Lạc Quan
  • Những Stt Hay Và Chất Về Cuộc Sống: Đời Không Như Là Mơ
  • Câu Nói Nổi Tiếng Của Ác

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Sách
  • Những Stt Tuyển Người Yêu Ngắn Hay Chất Cho Dân Fa
  • 26+Câu Stt Về Tuổi Trẻ Hay, Ý Nghĩa & Hài Hước 2022
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Tiết Kiệm Hay Nhất
  • Monkey D. Luffy Và Những Câu Nói “cực Ngầu” One Piece
  • “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên!” -tục truyền đó là lời của Archimède, một nhà cơ học thiên tài thời cổ, người đã khám phá ra các định luật về đòn bẩy. Nhưng bạn có biết muốn nâng một vật nặng bằng trái đất lên cao dù chỉ 1 cm thôi, Acsimet sẽ mất bao nhiêu thời gian không? Không dưới ba mươi nghìn tỷ năm!

    Có lần Archimède viết thư cho vua Hieron ở thành phố Cyracuse, là người đồng hương và cũng là bạn thân của ông rằng, nếu dùng đòn bẩy, thì với một lực dù nhỏ bé đi nữa, cũng có thể nâng được một vật nặng bất kỳ nào: chỉ cần đặt vào lực đó một cánh tay đòn rất dài của đòn bẩy, còn vật nặng thì cho tác dụng vào tay đòn ngắn. Và để nhấn mạnh thêm điều đó, ông viết thêm rằng nếu có một trái đất thứ hai, thì bước sang đấy ông sẽ có thể nhấc bổng trái đất của chúng ta lên.

    Nhưng, giá như nhà cơ học thiên tài thời cổ biết được khối lượng của trái đất lớn như thế nào thì hẳn ông đã không “hiên ngang” thốt lên như thế nữa. Ta hãy thử tưởng tượng trong một lát rằng Archimède có một trái đất thứ hai, và có một điểm tựa như ông đã muốn; rồi lại tưởng tượng thêm rằng ông đã làm được một đòn bẩy dài đến mức cần thiết. Nhưng kể cả khi đã có mọi thứ, muốn nâng trái đất lên cao dù chỉ 1 cm thôi, Archimède sẽ phải bỏ ra không dưới ba vạn tỷ năm! Sự thật là như thế đấy. Khối lượng của trái đất, các nhà thiên văn đã biết, tính tròn là:

    60 000 000 000 000 000 000 000 000 N

    Nếu một người chỉ có thể trực tiếp nâng bổng được một vật 600 N, thì muốn “nâng trái đất” lên, anh ta cần đặt tay của mình lên tay đòn dài của đòn bẩy, mà tay đòn này phải dài hơn tay đòn ngắn gấp:

    100 000 000 000 000 000 000 000 lần!

    Làm một phép tính đơn giản bạn sẽ thấy rằng khi đầu mút của cánh tay đòn ngắn được nâng lên 1cm thì đầu mút kia sẽ vạch trong không gian một cung “vĩ đại”, dài: 1 000 000 000 000 000 000 km. Cánh tay Archimède tỳ lên đòn bẩy phải đi qua một đoạn đường dài vô tận như thế chỉ để nâng trái đất lên 1 cm ! Thế thì ông sẽ cần bao nhiêu thời gian để làm công việc này? Cho rằng Archimède có đủ sức nâng một vật nặng 600 N lên cao một mét trong một giây (khả năng thực hiện công gần bằng 1 mã lực!) thì muốn đưa trái đất lên 1 cm, ông ta phải mất một thời gian là:

    1 000 000 000 000 000 000 000 giây, hoặc ba vạn tỷ năm!

    Archimède dành suốt cả cuộc đời dài đằng đẵng của mình cũng chưa nâng được trái đất lên một khoảng bằng bề dày của một sợi tóc mảnh….

    Không có một thứ mưu mẹo nào của nhà phát minh thiên tài lại có thể nghĩ ra cách rút ngắn khoảng thời gian ấy được. “Luật vàng của cơ học” đã nói rằng bất kỳ một cái máy nào, hễ làm lợi về lực thì tất phải thiệt về đường đi. Vì thế, ngay như Archimède có cách để làm cho cánh tay mình có được vận tốc lớn nhất có thể trong tự nhiên là 300.000 km/s (vận tốc ánh sáng) thì với cách giả sử quãng đường này, ông cũng phải mất 10 vạn năm mới nâng được trái đất lên cao 1 cm! (ST)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Sinh Nhật Độc Đáo Nhất
  • Top Những Câu Chúc Buổi Sáng Hay Hot Nhất Hiện Nay
  • Status Những Câu Nói Hay & Cảm Động Về Tình Yêu Lứa Đôi
  • Cách Chặn Ip Trên Router, Máy Chủ Điều Khiển Mã Độc Wanna Cry (C&c Ser
  • Biểu Thức Có Chứa Hai Chữ
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Của Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần 22)
  • Ba Bảo Bối Của Ông Lê Đức Thọ
  • Liệu Bạn Đã Biết Hết Ý Nghĩa Của Chiếc Mũ Rơm Huyền Thoại Của Luffy?
  • Tổng Hợp Tất Cả Các Chiêu Thức Của Luffy
  • 11 Câu Nói Nổi Tiếng Của Trang Tử Mà Bạn Cần Biết Để Thấy Cuộc Sống Nhẹ Nhàng Hơn
  • Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được, nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

    Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

    Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy.

    Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

    Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm hăng.

    Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề quan hệ tới đời sống của dân, dầu khó đến đâu mặc lòng. Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý…

    Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

    Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

    Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân tộc ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn bè ta. Đồng thời viết để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết về cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt thì có chừng mực, chớ có phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy.

    Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng lên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những anh hùng vô danh….

    Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm.

    Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi.

    Chúng ta phải nhớ rằng: người tài ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở… Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển.

    Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được, nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

    Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

    Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy.

    Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng.

    Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

    Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm hăng.

    Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề quan hệ tới đời sống của dân, dầu khó đến đâu mặc lòng. Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý…

    Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

    Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

    Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân tộc ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn bè ta. Đồng thời viết để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết về cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt thì có chừng mực, chớ có phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy.

    Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng XHCN. Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc”, nghĩa là khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng lên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy tốt là những anh hùng vô danh….

    Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm.

    Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi.

    Chúng ta phải nhớ rằng: người tài ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở… Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù ít bạn. Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển.

    Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người đó có tài mà không dùng đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, thì không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm vào những địa vị lãnh đạo. Như thế rất có hại…

    Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi…. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ. Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ. Hao phí vật liệu, là xa xỉ. Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ… Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

    Cần Kiệm Liêm Chính

    Báo Cứu quốc, 6-1949

    Hồ Chí Minh toàn tập

    Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tình thần và lực lượng, sức mạnh và của cải để giữ vững quyền độc lập, tự do ấy…

    Để thật sự bình quyền, phụ nữ phải ra sức phấn đấu, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ, có quyết tâm thì nhất định học được…

    Cuộc kháng chiến vĩ đại của ta là một kho nguyên liệu vô tận cho những tác phẩm xuất bản mà đồng bào ta đang chờ đợi. Tương lai rực rỡ của Tổ quốc là cái nền tảng không bờ bến cho sự phát triển tài năng của mọi người.

    Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quí hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh, chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, chống lại “bệnh cá nhân”.

    Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

    Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả.

    Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể.

    Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và giải phóng loài người.

    Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần – Kiệm – Liêm – Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

    Admin Quản trị hệ thống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Gì Khiến Chuyên Lê Hồng Phong Tp Hcm Đặc Biệt Đến Thế?
  • Đây Chính Là Những Nhân Vật Cực Kỳ Thành Công Trưởng Thành Từ Ngôi Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • 22673:dũng Khí Của Đồng Chí Lê Hồng Phong Trước Quân Thù
  • Danh Ngôn Kiến Trúc Sư Nổi Tiếng Nhất Mọi Thời Đại: Những Câu Nói Để Đời
  • ===Vietsechia.com=== We Learn More When We Learn Together: Bài Học Về Dịch Vụ Khách Hàng Từ Những Câu Nói Nổi Tiếng …
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Của Jim Rohn.

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Bất Hủ Của “thám Tử Lừng Danh” Sherlock Holmes
  • Sự Thật Về Cái Chết Và 9 Câu Nói Nổi Tiếng Của Sherlock Holmes
  • 60 Câu Nói Nổi Tiếng Và Sâu Sắc Của Ts Lê Thẩm Dương Nên Đọc Một Lần
  • Còn Cái Lai Quần Cũng Đánh!
  • Còn Cái Lai Quần Cũng Đánh !
  • Những câu nói nổi tiếng của Jim Rohn.

    Tất cả các cả diễn giả nổi tiếng nhất thế giới bây giờ như Anthony Robbins, T.Harv.Eker, Brian Tracy, Jack Confield , Les Brown… đều từng là học trò của Jim Rohn

    “Nếu bạn thay đổi tất cả mọi thứ sẽ thay đổi cho phù hợp với bạn, đừng chờ đợi mọi sẽ thay đối cho bạn vì nó sẽ không thay đổi, thay đổi chính bản thân mình…. và mọi thứ sẽ thay đổi theo bạn”

    “Để có được nhiều hơn,… bạn phải trở thành con người tài giỏi hơn”

    “Đừng ước rằng mọi chuyện sẽ dể dàng hơn; Hãy ước bạn tài giỏi hơn.

    Đừng ước rằng bạn sẽ có ít rắc rối trong cuộc sống; Hãy ước bạn có nhiều kỹ năng hơn.

    Đừng ước cuộc sống của bạn có ít thử thách; Hãy ước bạn khôn ngoan hơn.”

    “Chúng ta không nhận được gì từ thời gian, chúng ta nhận được những gì mà chúng ta đã làm trong thời gian đó″

    “Làm việc chăm chỉ cho chính mình hơn làm việc cho cộng việc của mình”

    “Nếu bản thân bạn không có giá trị… bạn sẽ không kiếm được nhiều tiền”

    “Trở thành con người có giá trị là chìa khóa để thành công”

    “Để hấp dẫn những mẫu người hấp dẫn, bạn phải là một người hấp dẫn. Để hấp dẫn những người có sức mạnh, bạn phải là một người có sức mạnh. Để hấp dẫn những người trung thành, bạn phải là một người trung thành. Thay vì tìm kiếm những người như thế, hãy thay đổi chính bản thân mình và rồi bạn sẽ hấp dẫn họ”

    “Sau khi đã trở thành triệu phú, bạn có thể cho tất cả tiền của mình đi làm không thương tiếc bởi vì bây giờ tiền không quan trọng nữa, cái quan trọng là khối óc của bạn đã được rèn luyện trong quá trình trở thành triệu phú”

    “Nếu bạn làm việc chăm chỉ vì công việc của bạn, bạn sẽ chỉ đủ tiền để sống; Nhưng nếu bạn làm việc chăm chỉ cho chính bản thân bạn, bạn sẽ có một gia tài”

    “Giáo dục ở trường học sẽ làm cho bạn đủ tiền để sống, nhưng tự giáo dục cho mình sẽ làm cho bạn một gia tài”

    “Khi bạn biết mình cần gì, và mong muốn nó đủ lớn, bạn sẽ tìm ra cách để biến điều đó thành hiện thực”

    Quotes by Jim Rohn

    Translate by Jad Le

    --- Bài cũ hơn ---

  • 50 Câu Nói Của Jim Rohn Sẽ Giúp Bạn Hành Động Nhanh Hơn, Hạnh Phúc Nhiều Hơn
  • Những Câu Nói Để Đời Của Tỷ Phú Jack Ma
  • Những Câu Nói Nổi Tiếng Của Tào Tháo
  • Những Câu Nói Hay Nổi Tiếng Nhất Của Tào Tháo
  • Những Câu Nói Hay Của Khổng Tử Vẫn Còn Nguyên Giá Trị Đến Ngày Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100