Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyện Ăn Chay, Mặn Trong Phật Giáo
  • Phật Dạy: Có 5 Nguyên Tắc Cần Nhớ Trong Đời Để Cuộc Sống An Lạc, Yên Ổn
  • Lời Phật Dạy Về Sáu Pháp Lục Hòa
  • Công Đức Bố Thí Là Gì
  • Quan Điểm Phật Giáo Về Tử Vi, Bói Toán
    1. Vi sinh vật

               Khi Phật trông thấy các Tỳ-kheo dùng gáo múc nước sạch trong chum (lu, vại, khạp đựng nước) để uống, Ngài dạy: “Các ông phải niệm chú trước khi uống nước ấy, vì trong nước đó có nhiều sinh vật rất nhỏ bé”.

            Rồi Ngài dạy các Tỳ-kheo đọc câu chú: “Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha, Án chạ tất ba ra ma ni tóa ha”.

             Ngài nói: “Mỗi lần uống nước đều nên đọc câu chú ấy ba lần để chúng-sanh nhỏ bé ấy được siêu thoát”.

            Ngày ấy, cách nay trên 2500 năm, không ai thấy hoặc biết được trong nước có sinh vật nhỏ bé. Cho đến thế kỷ thứ 17, nhà sinh vật học Aton Van Leeuwenhock (1632- 1723) đã khám phá nhiều loại Vi sinh vật (Micro-organism) trong nước, trên không, dưới đất, trong cơ thể… như sinh vật đơn bào (Protozoans), vi trùng (microbes), thực vật không chân không lá, tảo trong nước (algae, fungus), vi khuẩn (bacteria), sinh vật bé nhỏ hơn vi khuẩn (virus) …”.

    1. Âm thanh

             Có một lần Phật bảo các Tỳ-kheo: “Âm thanh của ta, các ông, và của mọi người không mất, nó sẽ còn mãi mãi”.

             Ngày nay chúng ta đã giữ được âm thanh, có đài phát thanh, truyền hình, vô tuyến điện thoại, băng, đĩa, CD… Ngoài ra, các nhà khoa học còn cho biết họ đã nhận được nhiều tín hiệu từ rất xa ngoài hành tinh của chúng ta, mặc dù chưa tín hiệu nào được xác nhận chính thức…

                       

    1. Hình ảnh

          Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, trang 24-27 kể rằng khi đức Phật cho bà Vi-Đề-Hy, chánh hậu của vua Tần-Bà Sa-La coi cảnh cõi nước chư Phật hiện bóng rõ nơi tòa quang minh, rất rõ ràng và nghiêm đẹp…

            Như vậy chữ ”hiện bóng” tức là hình ảnh hiện lên, và tòa quang minh tức là màn ảnh, thì ngày nay, là màn ảnh của băng video (hay DVD)…

            Trong Kinh Duy-Ma-Cật, khi Phật bảo Ngài Duy-Ma-Cật thị hiện cõi nước Diệu-Hỷ có Vô-Động Như-Lai, các Bồ-Tát, và đại chúng nước ấy cho đại chúng xem.

            Ngài Duy-Ma-Cật liền lấy tay phải trấn cõi nước Diệu-Hỉ để vào cõi Ta-Bà, cõi Ta-Bà không thấy chật hẹp, vẫn y nguyên như trước.

            Qúy vị thấy thần thông của chư Phật và đại Bồ-Tát Duy-Ma-Cật rõ ràng là những máy truyền hình. Thí dụ ta mở máy truyền hình để xem trận đấu quốc tế có hàng nghìn người coi trận đấu trên một sân banh rộng lớn, sân banh rộng lớn và hàng nghìn người coi đâu có chèn ép gì mình, dẫu cho cả nước Mỹ hay cả thế giới chiếu lên màn ảnh đó, những quang cảnh to lớn đem bỏ vào phòng mình đâu có chật?

    1. Mùi hương

           Kinh Pháp-Hoa Phật dạy: “Người thụ trì Kinh này trọn được tám trăm công đức sẽ ngửi được trăm nghìn thứ mùi trong Tam Thiên Đại Thiện thế giới”.

             Về Khoa học, sách Đạo Phật và Khoa Học, trang 72 ghi: “Ngày nay các nhà khoa học đã chế được máy ngửi mười nghìn thứ mùi khác nhau”.

     

    1. Nguyên tử và từ trường

           (Kinh Lăng-Nghiêm của Hòa-Thượng Thích-Duy-Lực dịch, trang 103). Đức Phật dạy:

            “Nếu lấy một vật chia chẻ mãi tới còn bằng đầu sợi tóc, gọi là mao trần. Lấy hạt bụi bằng mao trần này chia chẻ còn bằng hạt bụi bay trong hư không, gọi là khích du trần. Hạt bụi bay lại chia chẻ nữa thành vi trần nhỏ, rồi hạt vi trần nhỏ này lại chia ra nữa cho tới khi không còn chia được nữa, gọi là cực vi trần, lân hư trần”.

          Ngài dạy tiếp: “Không bao giờ tìm cầu được thực tại cuối cùng của vật, vì những vật mà ta thấy chỉ là tổng tướng ảnh tượng được kết hợp bởi vô vàn vô số những cực vi, nó xuất hiện trong biên giới giữa vật và tâm, nó hiện diện khắp nơi; hư không, không phải là không có gì, mà trong đó có đủ loại quang minh cùng các loại chúng-sanh cư ngụ” (Đạo Phật và Khoa Học, trang 14, 20, 21).

              Về Khoa học. Các nhà khoa học (Đạo Phật và Khoa Học, trang 13) đã tìm ra từ phân tử tới nguyên tử mà Neil Bohr (1885-1950), Vật lý gia Đan-Mạch là một trong những khuôn mặt sáng giá trong việc đề xướng thuyết nguyên-tử. Nguyên tử trong đó có Dương điện tử (Proton), Trung hoà tử (Neutron), và Âm điện tử (Electron) chạy chung quanh.

          Nhưng nhà khoa học Muray Gellman cho rằng Dương điện tử và Âm điện tử còn có hạt vi phân gọi là Quark hay là cực vi, hạt ảo.

               Nhà bác học vật lý nổi tiếng Albert Einstein (1879-1955) người gốc Đức nói: “Vũ trụ phân tích đến cùng chẳng còn gì là vật chất mà chỉ còn lại là những rung động hay những làn sóng mà thôi”.

         Lời bàn

            Xem như vậy, lời Phật dạy về vi sinh vật, âm thanh, hình ảnh , mùi hương từ hơn hai mươi lăm thế kỷ đã được chứng minh; còn Phật nói cực vi trần, lân-hư-trần, quang minh… mà các nhà khoa học khám phá ra Nguyên-tử, Cực vi, Hạt ảo, từ trường… đâu có khác gì nhau.

     

                                    Theo Thư Viện Hoa Sen

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tu Cái Miệng Để Không Gieo Khẩu Nghiệp
  • Con Người Sinh Ra Là Để Nhận Cái Chết
  • Lời Khuyên Của Đức Phật Để Các Người Nữ Nên Tránh Về Tình Yêu Và Tình Dục
  • 36 Lời Phật Dạy Về Tình Yêu Để Hạnh Phúc Tròn Đầy
  • Đức Phật Dạy Về: Nhân Quả Đẹp, Xấu, Nghèo, Sang Hàn Của Phụ Nữ
  • Về Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Về Tình Cảm Gia Đình
  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • 90 Câu Nói Hay Về Ý Nghĩ Và Tầm Quan Trọng Của Việc Đọc Sách
  • Những Câu Nói Stt Hay Về Sự Thất Bại Bằng Tiếng Anh Trong Cuộc Sống Đáng Suy Nghĩ
  • Tổng Hợp Những Câu Châm Ngôn Ý Nghĩa Về Cuộc Sống Bằng Tiếng Anh (Phần 3)
  • Về xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam

    13:56 – 17/09/2018

    Gia đình phát triển bền vững không chỉ là niềm hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà mà còn là nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn sự phát triển lành mạnh, an toàn của xã hội và sự ổn định dân số của mỗi quốc gia. Vì vậy, gia đình luôn là một mối quan tâm đặc biệt của Đảng ta. Tại Đại hội XI của Đảng, vấn đề vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn.

    Về vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới

    Thứ nhất, gia đình là tế bào của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định gia đình là tế bào của xã hội. Kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển, Đảng ta nhận thức sâu sắc về vai trò của gia đình đối với xã hội. Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội”(1). Rõ ràng,muốn có một xã hội phát triển lành mạnh thì trước hết từng “tế bào” phải phát triển bền vững. Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội. Không có gia đình tái tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, nhiều giá trị mới được tiếp thu, nhưng nhiều giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam cũng đang mất đi. Tình trạng ly hôn, bạo hành gia đình gia tăng; chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, hưởng thụ có xu hướng tăng lên… Những hạn chế này đang làm cho nhiều “tế bào” có nguy cơ rơi vào khủng hoảng, làm cho nền tảng xã hội thiếu vững chắc.

    Từ những tiêu chí quan trọng của gia đình văn hóa Việt Nam được đề xuất tại Đại hội VIII của Đảng và được cụ thể hóa thành Chiến lược xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam, đến Đại hội XI, Đảng ta đã có sự phát triển nhận thức mới về gia đình, đó là: No ấm, tiến bộ, hạnh phúc là những điều kiện cơ bản, quan trọng để gia đình phát triển lành mạnh. Muốn có một “tế bào lành mạnh”, một “nền tảng vững chắc” thì phải xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.

    Thứ hai, gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước.Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”(2) góp phần chăm lo xây dựng con ngườiViệt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính(3).

    Đảng ta nhận thức rõ rằng, con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹp nếu có một môi trường xã hội tốt. Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình, mỗi tế bào của xã hội. Các gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm của gia đình mình, phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích. Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai có chất lượng cao.

    Đây là điểm mới trong tư duy Đại hội XI của Đảng ta về vai trò của gia đình đối với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho xã hội. Từ những người lao động chân tay giản đơn đến những người lao động trí óc… đều được sinh ra, được nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình.

    Đảng ta nhấn mạnh, gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách cho con người. Theo quan điểm của Đảng, gia đình no ấm, bố mẹ thuận hòa, hạnh phúc là điều kiện, môi trường quan trọng, trực tiếp tạo nên các thế hệ sau có chất lượng cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần đắc lực vào chiến lược phát triển nguồn lực con người có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay.

    Thứ ba, gia đình có vai trò giữ gìn, lưu truyền, phát triển văn hóa dân tộc. Đảng ta nhấn mạnh gia đình là nơi tiếp thu, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Thông qua các câu chuyện cổ tích, qua các câu ca dao, tục ngữ, cha mẹ, ông bà là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi con người. Qua lao động, qua việc xử lý các mối quan hệ hằng ngày, gia đình đã truyền thụ cho con trẻ những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần tự lực, tự cường, anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất… Đảng ta chỉ rõ: Trong giai đoạn hiện nay để “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội, mà xét đến cùng, đó là trách nhiệm của mỗi gia đình, mỗi con người cụ thể.

    Để xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

    Để đạt được mục tiêu: ” Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong thời gian tới ngoài nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, chú ý đến kinh tế trang trại và kinh tế hộ, Đảng ta chỉ rõ cần tập trung vào một số khâu chủ yếu sau:

    Một là, sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ(4). Để hoàn thiện Chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022, cần làm rõ một số nội dung sau:

    – Nâng cao nhận thức của toàn xã hội cũng như mỗi cá nhân về vai trò, vị trí đặc biệt của gia đình đối với xã hội và trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực trong gia đình, ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình. Cấp ủy và chính quyền các cấp phải đưa nội dung công tác xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và chương trình kế hoạch công tác hằng năm của các bộ, ngành, địa phương.

    – Xây dựng gia đình Việt Nam phải trên cơ sở kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của thời đại về gia đình. Đề cao trách nhiệm của mỗi gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng nhân cách cho mỗi thành viên trong gia đình nhằm hướng tới những phẩm chất của con người Việt Nam mà Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra.

    Hai là,xây dựng gia đình văn hóa phải gắn với các phong trào khác, như xây dựng khu dân cư văn hóa, làng, xóm văn hóa… Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận với các kiến thức kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, kỹ thuật và phúc lợi xã hội, giúp các gia đình có kỹ năng sống, chủ động phòng, chống sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam(5). Đây là điểm mới trong nhận thức của Đảng ta về nhiệm vụ xây dựng, phát triển nguồn lực con người trong bối cảnh hiện nay.

    Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Để mỗi tế bào xã hội mạnh khỏe thì công tác chăm sóc sức khỏe, trước hết là sức khỏe của bà mẹ, trẻ em, thực hiện gia đình ít con là biện pháp quan trọng cần được quan tâm. Về vấn đề này, Đảng ta chỉ rõ: Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật về dân số, duy trì mức sinh hợp lý, quy mô gia đình ít con. Có chính sách cụ thể bảo đảm tỷ lệ cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình. Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng dân số…(6). Đồng thời, phải tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em các cấp; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác gia đình.

    Bốn là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật xây dựng gia đình văn hóa. Chúng ta đã có Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000); Luật Bình đẳng giới (năm 2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2008); Pháp lệnh Dân số – Kế hoạch hóa gia đình; Chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 – 2022… Tuy nhiên, gia đình luôn vận động và biến đổi theo sự vận động của xã hội, vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục ban hành, bổ sung một số chính sách mới phù hợp với điều kiện xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đồng thời, phải đổi mới nội dung và giải pháp truyền thông về gia đình, nâng cao hiểu biết về các văn bản luật này, cùng các kiến thức, kỹ năng về cuộc sống gia đình.

    Năm là, tiếp tục sự nghiệp giải phóng phụ nữ nhằm thực hiện bình đẳng giới. Hiện nay, phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đẳng so với nam giới, do vậy, họ chưa phát huy hết vai trò của bản thân trong xây dựng gia đình, đồng thời hạn chế sự đóng góp của họ cho toàn xã hội. Phụ nữ cần tiếp tục được giải phóng, được chia sẻ về công việc gia đình, hỗ trợ về các dịch vụ gia đình để họ có thời gian phát triển sự nghiệp.

    Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ(7). Đồng thời, phải nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật, chính sách đối với lao động nữ. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ(8).

    Qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn cầu hóa hiện nay, Đảng ta càng nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắc của xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi xây dựng gia đình văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2022. Với tinh thần, nhận thức và biện pháp đó, chúng ta hy vọng trong thời gian tới vị trí, vai trò của gia đình ngày càng được khẳng định và các gia đình Việt Nam ngày càng “khỏe mạnh” hơn để giữ vững nền tảng xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho Việt Nam “cất cánh” nhanh và bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Tiếng Anh Hay Ngày Gia Đình Việt Nam
  • 35 Câu Danh Ngôn Hay Và Ý Nghĩa Nhất Nhất Về Tình Yêu
  • Tổng Hợp Những Câu Danh Ngôn Tình Yêu Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • 20 Câu Danh Ngôn Về Thầy Cô Giáo Hay Và Ý Nghĩa Cho Báo Tường 20/11
  • Danh Ngôn Về Bóng Tối
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Thơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hồ Chí Minh: Văn Hóa Và Đạo Lý Của Một Dân Tộc
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Của Con Gái P3
  • Câu Nói Hay Lê Thẩm Dương
  • Thành Ngữ Tiếng Anh Liên Quan Tới Mùa Đông
  • Mùa Hè Xanh Trong Tôi
  • Check Also

    Next

    Bạn thấy không, chân dung văn hóa người Việt là do các nhà thơ tạo tạc.

    Nghĩa láng giềng luôn là điều canh cánh bên lòng người Việt, sau tình gia đình. Vẫn là Nguyễn Bính: “Bờ rào cây bưởi không hoa/ Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo”. Thi nhân chân quê sẽ sống mãi trong tâm hồn Việt, dù xã hội Việt Nam đô thị hóa cỡ nào, dù người Việt rời xa quê cũ tới chân trời góc biển nào. Vì ông đã rải các hàng thơ xuống mọi cung bậc của người-nhà-quê ẩn hiện trong mỗi con dân Việt: “Thầy ơi! Đừng bán vườn chè/ Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng”. Và không thể nào quên câu-thơ-bảng-hiệu made by Nguyễn Bính: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê”.

    Với cả cuộc đời sôi động trong và ngoài nước, Du Tử Lê là thi sĩ “toàn tòng”. Cho nên nỗi hoài hương của ông bao trùm lên tất cả: “Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè/ Nắng Trương Minh Giảng, lá hè Tự Do/ Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè/ Nhớ pho tượng lính, buồn se bụi đường”.

    Vì thế, sự tinh tế trong ứng xử là điều dân Việt coi trọng. Không chỉ tinh tế trong đại sự, mà cả trong tiểu tiết: “Dịu dàng như thể tay tiên/ Giữ hờ mép áo làm duyên qua đường”. Thưa, đó là dáng vẻ đi đứng của con gái nhà lành thời chàng Nguyễn Bính đang nổi như cồn vì sự đam mê thơ truyền thống trong khi say đắm người đẹp tân thời. “Mép áo” chiếc áo cánh, có thể chẳng bị cơn gió bạo nào, nhưng “tay tiên” vẫn thả nhẹ xuống ra vẻ “giữ hờ” khi người đẹp băng qua đường trước bao ánh mắt người lạ. Làm duyên là một nét độc đáo và ấn tượng trong sinh hoạt thường nhật của người phụ nữ Việt Nam. Với người Việt, đẹp xấu chưa biết, trước hết phải duyên.

    Việt Nam lại là đất nước thi ca, như thi sĩ Nguyễn Bính từng viết: “Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”. Đúng vậy, so với các ngôn ngữ khác, tiếng Việt có khá nhiều thanh điệu (6 thanh điệu), như đôi cánh nâng thi ca tung bay đến chân trời của tâm hồn.

    kannada girls sex chúng tôi west indies open sex indian bus groping chúng tôi tv 5 monde asie schedule tmailxnxx chúng tôi wwxxvideo com mywapking video chúng tôi chúng tôi beautiful sexy aunty chúng tôi bhabhi saree navel

    sixwap com chúng tôi chettu kinda pleader songs download www.gonzo xxx chúng tôi chúng tôi xvideos new tamil lady boy xnxx chúng tôi nesapron houjou no reizoku elf 3 chúng tôi porn hantai kumari kandam chúng tôi unconscious sex video

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Thú Vị Về Hoa Mười Giờ Mà Bạn Chưa Biết
  • Vẻ Đẹp Ngây Thơ Trong Sáng Tuổi Học Trò
  • Hiểu Đúng Câu Nói : “Dân Thanh Hóa Ăn Rau Má, Phá Đường Tàu”
  • Hoa Thược Dược Và Nhiều Điều Chắc Chắn Bạn Chưa Biết?
  • Ngôn Ngữ Riêng Của Hoa Cẩm Chướng
  • Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • 999 Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Hay Nhất Tận Đáy Lòng
  • Những Lời Chúc Cho Bà Bầu Sắp Vượt Cạn Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Status Cảm Động Cho Những Cặp Đôi Đang Yêu Xa
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tự Lập, Tự Chủ
  • Những Câu Nói Hay Nhất Về Mùa Hè
  • Đề tài: Văn hóa ẩm thực Việt Nam qua ca dao, tục ngữ

    MỤC LỤC

    1

    KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.

    2

    NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNG

    NGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA CON

    NGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNG

    II.1 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.

    II.1.1 Ẩm thực miền Bắc

    II.1.2 Ẩm thực miền Trung

    II.1.3 Ẩm thực miền Nam

    II.2

    Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

    ăn uống của người Việt Nam

    2.2.1. Trong phạm vi cộng đồng

    2.2.2. Cách ứng xử trong gia đình

    Kết luận

    1

    MỞ ĐẦU

    Nói đến ca dao là nói đến niềm tự hào của dân tộc mình.Ca dao là văn

    chương dân gian đã trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong những

    giai đoạn xã hội lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến ngày nay. Ít có người biết

    đến được chính xác các tác giả, dù vậy ca dao đã là vũ khí chống lại những xâm

    nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Ca dao Việt Nam là thành trì

    bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Những câu ca dao tục ngữ, lời hò, hát dặm, bài vè

    thường đề cặp đến nhiều khía cạnh khác nhau như xã hội, gia đình, tín ngưỡng,

    tình yêu, thiên nhiên …Ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, làm giàu thêm

    tiếng Mẹ Đẻ, chúng ta nên cố gắng và trân trọng gìn giữ.

    1, KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.

    Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn,

    nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người

    Việt trên đất nước Việt Nam. Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực

    Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ

    biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong

    cộng đồng người Việt.

    Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước

    khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu

    hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món

    hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về

    bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn

    gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu

    dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các món

    măng, chân cánh gà, phủ tạng động vật …).

    *Nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực Việt Nam

    – Hòa đồng đa dạng

    2

    Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miền

    khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây là điểm nổi bật về ẩm thực của

    nước ta – Dùng ít mỡ

    Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ, không dùng nhiều

    thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ như món của

    người Hoa.

    – Đậm đà hương vị

    Khi chế biến thức ăn, người Việt thường dùng nước mắm để nêm, lại kết

    hợp với rất nhiều gia vị khác… nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món đều có nước

    chấm tương ứng phù hợp với hương vị riêng.

    – Tổng hoà nhiều chất, nhiều vị

    Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt,

    tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiều

    vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…

    – Ngon và lành

    Ngon lành là cụm từ thể hiện tinh thần ăn uống của người Việt. Ẩm thực

    Việt Nam chính là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trưng

    riêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến kèm với các

    gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị,

    chỉ có người Việt Nam mới có…

    – Dùng đũa

    Gắp là một nghệ thuật, phải gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thức

    ăn… Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay

    nướng, người Việt cũng ít dùng dĩa để xiên thức ăn như người phương Tây.

    – Cộng đồng

    Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trong

    bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏ

    từ bát chung ấy.

    3

    -Hiếu khách

    Người Việt có thói quen mời trước khi ăn. Lời mời thể hiện sự giao

    thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…

    – Dọn thành mâm

    Người Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong

    một bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mang

    món đó ra.

    2

    NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNG

    NGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA

    CON NGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNG

    II.3 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.

    Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió

    mùa.Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung,

    Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định

    những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét,

    khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đa

    dạng. Đây là một văn hóa ăn uống sử dụng rất nhiều loại rau (luộc, xào, làm

    dưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt là canh chua, trong khi đó số

    lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịt

    được dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc,

    hến, trai, sò v.v. Những món ăn chế biến từ những loại thịt ít thông dụng hơn

    như thịt chó, thịt dê, thịt rùa, thịt rắn, thịt ba ba… thường không phải là nguồn

    thịt chính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liên

    hoan nào đó với rượu uống kèm. Người Việt cũng có một số món ăn chay theo

    đạo Phật được chế biến từ các loại thực vật, không có nguồn thực phẩm từ động

    vật. Tuy nhiên, trong cộng đồng thì lại có rất ít người ăn chay trường, chỉ có

    các sư sãi trong các chùa hoặc người bị bệnh nặng buộc phải ăn kiêng.

    *) Có 3 vùng nguyên liệu.

    4

    II.3.1 Ẩm thực miền Bắc

    Là một khu vực nằm ở địa đầu Tổ quốc, miền Bắc có nguồn tài nguyên

    thiên nhiên độc đáo và đa dạng. Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản

    của vùng, do phù sa của hệ thống Sông Hồng và Sông Thái Bình bồi đắp. Diện

    tích này dùng để trồng cây ngắn ngày như lúa, hoa màu lương thực, cây công

    nghiệp hàng năm. Diện tích này tiếp tục được mở rộng ra biển với các biện

    pháp quai đê, lấn biển, thực hiện phương thức ” lúa lấn cói, cói lấn sú, vẹt, sú

    lấn biển”.

    Đặc trưng khí hậu của vùng là có một mùa đông lạnh, từ tháng 11 đến

    tháng 4 năm sau, và có tiết mưa phùn trong mùa khô. Đó là điều kiện hết sức

    thuận lợi cho việc tăng vụ trong năm: vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụ

    hè thu, vụ mùa.

    Mạng lưới sông ngòi trong vùng tương đối phát triển. Ở vị trí hạ lưu

    sông Hồng và sông Thái Bình với nhiều chi lưu nên vùng có một mạng lưới

    sông tương đối dày đặc.

    Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến

    luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hợp với khẩu vị người từng vùng,

    người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền

    Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền

    Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở

    Ra đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai giãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường đêm nao…

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng

    thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương.

    ” Ai chẳng nhớ cháo làng Ghề

    Nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Đông Viên

    5

    Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt :

    “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần

    nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”

    Ca dao đã ca tụng những vùng đặc sản rau của Hà Nội. Đó là vùng Kẻ

    Láng, Kẻ chợ ngày xưa :

    “…Đi đâu mà chả biết ta

    Ta ở Kẻ Láng vốn nhà trồng rau

    Rau thơm, rau húng, rau mùi,

    Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoa

    Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà,

    Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên.”

    ” Dưa la húng Láng, nem Báng, tương Bần

    Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”

    Rau được trồng ở vườn, song trong vườn lại còn có nhiều loại cây ăn quả

    như nhãn, hồng, bưởi, cau, sung…những loại cây này đều đã đi vào ca dao tục

    ngữ:

    “Ớt cay là ớt Định Công

    Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang

    Ai về ăn ổi Đinh Quang

    Ăn ớt Vĩnh Thạnh ăn măng Truông dài”

    II.3.2 Ẩm thực miền Trung

    Mảnh đất miền Trung vốn cằn cỗi là thế và cũng không được thiên nhiên

    ưu ái như các vùng đất khác, chính vì vậy, con người nơi đây luôn biết trân

    trọng và biến những sản vật tuyệt vời đó thành những món ăn mang những

    hương vị rất riêng, mà ai đã một lần thưởng thức nó sẽ không thể nào quên.

    Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương

    vị riêng biệt nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu

    sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ thiên về màu đỏ và nâu sậm.

    6

    Xứ Thanh : Những thực phẩm như cá mè sông Mực (Nông Cống) rất

    béo đến nỗi dân quê phải ao ước trầm trồ :

    ” Cá mè sông Mực chấm với nước măm Do Xuyên

    Chết xuống âm phủ còn muốn trở viền (về) mút xương”

    Ẩm thực Xứ Nghệ đậm đà, mộc mạc, như tính cách người Xứ Nghệ.

    Người Xứ Nghệ tuy mang vẻ ngoài thô kệch, quê mùa, nhưng tâm hồn lãng

    mạn, nên hương vị ẩm thực Xứ Nghệ cũng thi vị như tâm hồn người Xứ

    Nghệ.Thi vị của Ẩm thực Xứ Nghệ người đời không thể không công nhận, vì

    từ rất lâu, nó đã gắn liền với ca dao:

    ” Nhà Từa rau vác, Giao tác cà ngải, Phúc hải bền môn”.

    Đây là ba thứ rau cà nổi tiếng của ba thôn được nhắc đến một cách vần

    vè để nói về những bữa ăn kham khổ của dân lao động.

    ” Cá rô bầu nón kho với nước tương Nam Đàn

    Gạo tháng mười đánh tràn không biết no”

    “Nhứt Thanh Chương tương Nam Đàn”

    Quả tình món nhứt mới là món thực phẩm của xứ Nghệ cũng chỉ là loại

    dưa muối chua mà thôi, nhưng nguyên liệu chủ yếu là mít non. Nhút này phải

    chấm với tương Nam Đàn mới thực là đúng vị.

    ” Quê ta mía ngọt Nam Đàn

    Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài

    Họ nói đến sản vật quê hương là để tỏ niềm tự hào với của cải tự nhiên,

    với vật phẩm dồi dào, với đời sống tất nập.Nhà cách mạng Hồ Chí Minh nửa

    đời buôn ba khắp thế giới, không bao giờ quên được không khí và cảnh sắc quê

    mình.

    “Sa Nam trên chợ dưới đò

    Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên”

    Xứ Quảng:

    7

    ” Đường về phố Hội còn xa

    Trên trăng, dưới nước, còn ta …với mỳ!”

    Khi mỳ Quảng gắn với sông nước lênh đênh thì còn được gọi ” mỳ ghe”,

    đơn giản là người bán trên ghe phục vụ cho khách đi thuyền trên bến sông nào

    đó. Các bến đò dọc sông Vu Gia, Thu Bồn … nơi nào cũng có “mỳ ghe” mãi

    mãi là nỗi nhớ của những người con xứ Quảng xa quê. Hình ảnh đó đã đi vào

    ca dao:

    ” Thương nhau cho bát chè xanh

    Làm tô mỳ Quảng mời anh xơi cùng”

    Ăn 1 tô mỳ Quảng xong, phải uống 1 bát chè xanh Tiên Phước thì sướng

    đến mê tơi.

    ” Ẳm em đi dạo vườn cà

    Trái non ăn mắm trái già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua

    Gửi về cho mẹ làm dưa tốn tiền”.

    Ở miền Trung người ta hay muối cà, muối rau không chỉ làm dưa mà còn

    làm mắm.

    ” Lửa gần rơm như cơm gần mắm

    Ăn cơm mắm thấm về lâu

    Cá bống kho tiêu cá thiều kho nghệ”.

    Bước vào miền Trung cổ kính, ca dao Việt Nam sẽ giúp chúng ta thưởng

    thức những món ăn của xứ Cố Đô:

    Yến sào Vĩnh Sơn.

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu Quan Hà

    Rượu dâu Thuần Ly.ù

    8

    Những ân tình hình như bị bỏ quên mỗi khi nhắc đến món rượu dâu rừng

    có vị chua chua, ngọt ngọt của miền Trung. Biết bao chàng trai đắm say men

    rượu thay men tình:

    “Mang

    bầu

    đến

    quán

    rượu

    dâu.

    Say sưa quên biết những câu ân tình.”

    Xứ Huế, đất Đế Đô, đất Thần Kinh không làm sao bỏ quên những câu ca dao

    bất hủ của các món như:

    “Ốc gạo Thanh Hà

    Thơm rượu Hà Trung.

    Mắm ruốc Cửa Tùng.

    Mắm nêm Chợ Sãi.”

    Các món ăn theo ca dao cùng nhau vượt núi, vượt đèo Hải Vân:

    “Nem chả Hòa Vang.

    Bánh tổ Hội An.

    Khoai lang Trà Kiêu.

    Thơm rượu Tam Kỳ.”

    Với đồi núi cao ngất, biển cả mênh mông, ca dao Việt Nam lại mang

    những món hải sản để trao đổi với những rau trái:

    “Ai về nhắn với họ nguồn.

    Mít non gửi xuống cá nguồn gửi lên.

    Măng giang nấu với ngạch nguồn.

    Đến đây nên phải bán buồn cho vui.

    Cá nục nấu với dưa hường.

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi.

    Thương em vì cá trích vè.

    Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.”

    Ca dao ngọt ngào hương vị khi về tới xứ Quảng, Qui Nhơn:

    9

    “Kẹo gương Thu Xà

    Mạch nha Thi Phổ.

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.”

    Ca dao qua các món sơn hào, hải vị khi bước vào Khánh Hòa:

    “Yến sào Hòn Nôi.

    Vịt lội Ninh Hòa.

    Tôm hùm Bình Ba.

    Sò huyết Cam Ranh.

    Nai khô Diên Khánh.”

    Thêm vào những món ăn của miền Trung qua ca dao Việt Nam còn có

    các món gỏi:

    Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.

    Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.

    Trên non túc một hồi còi,

    Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

    Không đi thì sợ quan đòi.

    Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.

    II.3.3 Ẩm thực miền Nam

    Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam Địa hình trên toàn vùng

    Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông

    Nam giáp biển Đông, phía bắc và tây bắc giáp Campuchia và một phần phía tây

    bắc giáp Nam Trung Bộ.

    Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và

    cận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài,

    nhiệt độ và tổng tích ôn cao.Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm

    thấp và ôn hòa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 – 82%.Khí hậu hình

    thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ

    10

    tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Về mùa vụ sản xuất có

    khác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

    ” Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng Điện Bà Tây Ninh

    Bánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đuốc”.

    “Ba phen quạ nói với diều.

    Cù lao Ông chưởng có nhiều cá tôm.

    Tháng tư cơm gói ra Hòn.

    Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.”

    Ca dao không những qua thực đơn mà còn có những điệu hò ru con của

    các bà, các mẹ:

    “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.

    Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

    Ví bằng con cá nấu canh.

    Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”

    Ca dao còn giúp những món rau cải được tăng thêm sư thèm muốn cho

    người dùng:

    “Mẹ mong gả thiếp về vườn.

    Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

    Khoan khoan mổ một con gà

    Bí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.”

    Cũng như các ông thường thèm chút rượu đi đôi với:

    “Đốt than nướng cá cho vàng.

    Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

    Bậu ra bậu lấy ông câu.

    Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.

    Kho tiêu, kho ớt, kho hành.

    11

    Kho ba lượng thịt để dành mà ăn…”

    Qua những lời ca dao ngọt ngào đậm chất trữ tình chúng ta có thể thấy

    được sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng nguyên liệu, cách ăn của ẩm

    thực 3 miền. Mỗi 1 vùng miền có 1 nét riêng thể hiện đậm chất con người và

    văn hóa Việt Nam.

    *) Phân loại theo gia vị.

    Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộn

    nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia vị)

    để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:

    *

    Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa

    là, mùi tàu v.v.;

    *

    Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá

    *

    Gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo

    non;

    đắng, nước cốt dừa…

    Khi thưởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách

    tổng hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: người Việt ít khi ăn món nào riêng

    biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món ăn

    từ đầu đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các nước

    khác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước mắm. Nước mắm

    được sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn của người Việt. Ngoài ra

    còn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu (làm từ đậu nành). Bát nước

    mắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến nay làm khẩu vị đậm đà hơn, món

    ăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người Việt

    Mắm là một món ăn mang đầy tính… thách thức, ai có can đảm

    mới dám làm bạn với mắm để mà gắn bó với nó suốt đời. Vì vậy, không có gì

    lạ khi thứ thực phẩm “nặng mùi” này đi liền với… tình nghĩa vợ chồng, từ thuở

    tóc còn xanh, mới xây tổ uyên ương đã nghe sực nức cái mùi “độc chiêu”:

    12

    “Nước chanh giấy hòa vào mắm mực

    Rau mũi viết lộn trộn giấm son

    Bốn mùi hiệp lại càng ngon

    Như qua với bậu, chẳng còn cách xa”

    Hay là mùi mẫn hơn:

    “Mắm cua chấm với đọt vừng

    Họ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.”

    Cho đến khi răng long đầu bạc chống gậy lụm cụm, mà bạn tôi gọi là

    “đôi bóng nhỏ đi vào… Thiên Thai” thì mắm là cái tình chung thủy có mùi vị

    rất đời và khó tả

    ” Con cá làm nên con mắm

    Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi”

    Các cô chưa chồng mà còn kén bị so sánh với hũ mắm để lâu trong nhà

    “Liệu cơm mà gắp mắm ra

    Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi.”

    “Trai ba mươi tuổi đang xinh

    Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm”

    Đừng sợ, mắm là mặt hàng dự trữ lâu, không sợ thiu. Nhiều chàng coi bộ

    cũng ưa mấy cái hũ mắm hơn mấy cô non tơ nheo nhẻo trên thị thành

    “Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn

    Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu.”

    “Anh than cha mẹ anh nghèo

    Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum”

    Thì ra mắm cũng có thứ sang trọng, đắt tiền khiến cho mấy anh với

    không tới, chớ đừng làm bộ chê. Dầu mình có lớn tuổi hơn thì hũ mắm cũng

    vẫn có người mơ :

    “Mắm ruốc trộn lẫn mắm nêm

    Ban ngày kêu chị, ban đêm kêu mình.”

    13

    Vả lại, mấy ảnh cũng đi cưới vợ bằng mắm, chớ có chi lạ:

    “Tiếng đồn con gái Phú Yên

    Ghe anh đi cưới một thiên mắm mòi

    Không tin giở thử lên coi

    Rau răm ở dưới, mắm mòi ở trên.”

    Ai biểu đi cưới vợ bằng mắm, đến khi chung sống rồi thì hũ mắm cũng

    làm khổ đời trai

    “Em còn bánh đúc bẻ ba

    Mắm tôm quệt ngược, cửa nhà anh tan”

    Mắm tôm là thứ gia vị mặn mà của nhiều món ăn phía bắc, tại sao người

    ta lại thường ví nó với sự bất hòa, thô kệch:

    “Vợ chồng ta bánh đa bánh đúc

    Vợ chồng nó… một cục mắm tôm”

    Mắm là sự dầm ấm trong gia đình:

    “Giàu thì thịt cá bĩ bàng

    Nghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu”

    II.4

    Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

    ăn uống của người Việt Nam.

    2.2.1. Trong phạm vi cộng đồng

    Việc ứng xử khi ăn uống trong cộng đồng người Việt được đặt ra 1 cách

    nghiêm ngặt. Dân gian có câu: ” miếng ăn quá khẩu thành tàn” để chỉ rõ cái sự

    ăn nếu không được giáo dục cẩn thận sẽ bị người đời chê cười.

    Nếu trong ăn uống ở gia đình trọng thực tức là bảo đảm nhu cầu dinh

    dưỡng được đưa lên hang đầu thì mục đích ăn uống nơi đình đám không hoàn

    toàn như vậy. Tác giả Trần Từ cho rằng : mục đích của nó là bữa cơm cộng

    cảm. Dụng cụ trong đình đám , lễ hội cũng khác thứ dùng hàng ngày. Chẳng

    hạn, mâm phải là mâm thau hoặc mâm gỗ sơn, dùng đũa sơn, bát đĩa men,

    thùng đựng cơm bằng gỗ tiện sơn son.

    14

    ” Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”

    Ở đây không chỉ nói về chuyện ăn đủ mà quan trọng hơn là cái miếng ăn

    ấy biểu trưng cho địa vị của mỗi người.

    ” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Không chỉ bao hàm nghĩa đùm bọc, đỡ đần nhau trong hoạn nạn mà còn

    phản ánh sự chia sẻ thức ăn.

    ” Ăn cá nhả xương

    Ăn đường nuốt chậm”

    Cá là loại động vật nhiều xương vì thế ăn quá vội sẽ dễ bị hóc, còn

    đường là loại gia vị chế biến từ thực vật dễ tan trong nước, nếu ăn từ từ thì mới

    cảm nhận được vị thơm ngọt của nó. Nghĩa đen của nó thật dễ hiểu nhưng

    nghĩa bóng của nó còn truyền tải hiệu quả hơn nhiều.Câu này khuyên người ra

    nên linh động trong mọi việc có cách ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, có vứt bỏ

    những khó khăn, căng thẳng thì mới thưởng thức được những cái vui của cuộc

    sống.

    “Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”.

    Có thể hiểu ăn mặn ăn chay chỉ là vẻ bề ngoài, hay cách ứng xử của con

    người, còn nói ngay nói dối là bên trong, tức là đạo đứa của con người cần phải

    giữ gìn. Câu tục ngữ này truyền tải ý nghĩa đả kích những người thích giả đạo

    đức ngoài mặt mà tâm địa đen tối, nham hiểm, làm những việc ngoài mặt trái

    với tâm địa của mình.

    ” Ăn một miếng tiếng một đời”

    Con người tất phải ăn nhưng là loại động vật thượng đẳng nên goài

    miếng ăn là vật chất ra còn phải lưu ý tới tinh thần tức danh dự, nhân phẩm.

    Tuy nhiên cũng không ít người sẵn sàng lao vào tranh đoạt miếng ăn mà bỏ qua

    tư cách của mình vì vậy thành ngữ có câu:

    ” Miếng ăn là miếng tồi tàn”

    15

    Sử dụng 2 từ “ăn” là vật chất, “miếng” là tinh thần. Câu ca chê trách

    những người chỉ biết ăn mà quên đi phẩm giá.

    ” Ăn ốc nói mò”

    Câu tục ngữ chê trách những người không biết được nguyên nhân sự việc

    nào đó mà sự dụng trí tưởng tượng của mình đoán già đoán non rồi đưa ra kết

    luận khiến sự việc sai lệch đi.

    ” Ăn tùy nơi tùy chốn”

    Đây là một triết lý nhân sinh sâu sắc của người xưa đúc kết thành tục

    ngữ, nhằm khuyên bảo người ta nên ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, tùy nơi tùy

    lúc.

    ” Ăn không lo của kho cũng hết”

    Con người bắt buộc phải để ăn để sống, để bồi bổ cho sức lực đã mất đi

    do lao động nhưng nếu ăn mà không làm việc thì biết lấy đâu ra mà ăn? Vì vậy

    nếu chỉ biết ăn mà không biết làm, không biết lo lắng, cân bằng giữa làm và ăn

    thì của cải bao nhiêu cũng hết. Cũng với ý nghĩa này, kho tàng tục ngữ có câu:

    ” Miếng ăn mấy núi cũng lở”

    Tuy không thể nhắc nhở đến việc phải lo toan nhưng rất tự nhiên khiến

    người ta phải tính toán, sắp xếp.

    Ngoài ra, kho tàng ca dao tục ngữ của ta còn có nhiều câu khuyên răn,

    nhắc nhở con người ứng xử cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, đạo đức xã

    hội.

    ” Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi”

    ” Ăn miếng chả trả miếng nem”

    ” Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành”

    ” Ăn nên đọi nói lên lời”

    ” Ăn nhạt mới biết thương đến mèo”

    ” Ăn no tức bụng”

    ” Ăn ớt sụt suỵt ăn ớt ghê răng”

    16

    ” Ăn quả chín dành quả xanh”

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay dần sàng”

    ” Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

    ” Ăn theo thưở ở theo thì”

    ” Ăn phải mùi chùi phải sạch”

    ” Ăn quả vả trả quả sung”

    ” Ăn ráy ngứa miệng”

    ” Ăn tám lạng trả nửa cân”

    ” Ăn thì mau chán, việc cần thì đủng đỉnh”

    ” Ăn lắm không biết miếng ngon

    Nói lắm sẽ hết lời khôn hóa rồ”

    ” Miếng ăn là miếng nhục”

    ” Cơm ăn chẳng hết thì treo

    Việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng”

    ” Cơm ăn mỗi bữa một lung

    Hơi đâu mà giận người dưng thêm gầy”

    2.2.2 Cách ứng xử trong gia đình.

    Cung cách ứng xử trong gia đình của người Việt biểu hiện lõ nhất qua 2

    bữa cơm chính. Đây là 2 bữa mà mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu đông

    đủ.

    ” Người ăn không bực bằng người trực nồi cơm”

    Câu nói này ở mức độ nào đó cũng phản ánh khía cạnh trên. Mọi người

    gắng chờ đủ nhau trước khi ăn. Nếu nhà ít người và cũng không phong kiến thì

    tất cả ngồi quay quanh 1 mâm cơm. Vị trí đặt mâm cũng tùy từng nhà hoặc tùy

    theo từng buổi hoặc từng mùa. Nếu bếp rộng rãi người ta đặt ngay mâm cơm ở

    1 gian. Vào mùa đông các gia đình thích ăn cơm trong bếp, đôi khi còn do điều

    kiện khác, có mâm cơm khách đặt trên nhà thì có mâm cơm của vợ con gia chủ

    17

    thường đặt dưới bếp. Có người khách đến thăm lúc đang dùng bữa, vợ con ý tứ

    bưng mâm xuống bếp. Khi trời hè vào bữa tối người ta thích ngồi ăn ở hiên hay

    ngoài sân cho mát.

    Trong bữa ăn ai ngồi đầu nồi thì đánh cơm, ai trẻ nhất trong mâm thì

    phải mời trước, mời lần lượt từ người nhiều tuổi hoặc người có vị trí.

    ” Ăn chậm nhai kĩ “

    Là 1 thói quen của người Việt nói chung đến mức được tổng kết trong 1

    câu tục ngữ ” Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa” là nhắc nhở đến cung cách ứng

    xử.

    ” Ăn trông nồi ngồi trông hướng”.

    Nồi cơm ở đây là biểu hiện cho văn hóa của người phương Đông. Thông

    thường tùy theo số miệng ăn mà nấu, vì vậy dù có đói đến đâu cũng phải tế nhị

    mà xem xét cơm còn hay không để biết dừng lại nhường cho những người

    khác. Lý luận xưa kia rất nghiêm khắc với tôn ti trật tự, thậm chí còn quy định

    cả chỗ ngồi cho từng người. Vì vậy là người có đầu óc thì phải biết quan sát

    trước khi ngồi xuống, không để phạm sai lầm . Câu tục ngữ này khuyên bảo

    con người ta phải biết quan sát, cân nhắc trước khi muốn thực hành bất cứ việc

    gì, chứ không riêng gì việc ăn uống hay ngồi đúng nơi đúng chỗ.

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm của con cái với cha (mẹ).

    Sự phụng dưỡng không đòi hỏi phải cao sang. Cung cách phụng dưỡng

    mới nói lên được lòng hiếu thảo:

    “Anh đi vắng cửa vắng nhà,

    Giường loan gối quế, mẹ già ai nuôi!

    Cá rô anh chặt bỏ đuôi,

    Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già.”

    “Ba tiền một khứa cá buôi,

    Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.”

    Người Huế có thêm một cách phụng dưỡng rất địa phương:

    18

    “Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,

    Gạo de An-cựu mà nuôi mẹ già.”

    Con cái ăn gì thì cha mẹ già ăn thứ đó, không đòi hỏi phải cao sang. Với

    gia đình bình dân thì cơm với cá là món ăn căn bản cho cha mẹ. Nếu có một

    chút hy sinh quyền lợi căn bản của chính mình, như nhịn phần cơm của mình

    để nuôi cha mẹ, thì lòng hiếu mới trọn vẹn.

    “Đói lòng ăn hột chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    Đói lòng ăn trái ổi non,

    Nhịn cơm nuôi mẹ, cho tròn nghĩa xưa”

    Ngày nay chúng ta vẫn còn tiết kiệm từng miếng ăn, từng mảnh áo, để

    có ít tiền gởi về cho cha mẹ ở nơi xa. Đáng kính thay lòng hiếu thảo của người

    con Việt Nam.

    Lòng hiếu của người bình dân thiết tha, đậm đà và thực tế hơn cảnh cắt

    thịt của mình cho cha mẹ ăn, hay ôm gốc măng mà khóc như trong Nhị thập tứ

    hiếu của Nho gia.

    Nếu phải xa nhà vì công việc làm ăn, người chồng dặn dò người vợ trẻ

    một vài phương cách phụng dưỡng mẹ già thay mình.

    “Liệu mà thờ kính mẹ già,

    Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ, liệu bài lo toan.’

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm vợ chồng.

    ” Tay bưng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

    Tình yêu đôi lứa không phải bao giờ cũng hòa thuận, suôn sẻ, có khi

    sóng gió bão bùng, có lúc ấm vui hạnh phúc nhưng cũng có khi thì đắng cay,

    19

    đau khổ. Lấy vị mặn của muối, vị cay của gừng để truyền tải 1 ý nghĩa. Một khi

    đôi trai gái chấp nhận chung sống với nhau thì cũng phải chấp nhận những

    xung đột tình cảm trong quá trình ấy. Dù đắng cay ngọt bùi như thế nào cũng là

    lẽ thường tình, không vì thế mà rời bỏ nhau được. Đây là câu ca dao thể hiện

    được đạo lý phải giữ được lòng chung thủy trong tình yêu vợ chồng bằng

    những món thực vật hàng ngày.

    ” Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”

    Câu nói này thể hiện một cách tinh tế tình cảm vợ chồng. Râu tôm và

    ruột bầu là những thứ người ta hay loại bỏ khi chế biến, nhưng ở câu nói này lại

    là thứ thức ăn “ngon”, bởi lẽ nó chứa đựng tình cảm yêu thương, đồng cam

    cộng khổ của đôi vợ chồng nghèo. Tuy khó khăn nhưng họ vẫn biết đùm bọc

    yêu thương nhau, thế nên những thứ tưởng chừng như không ăn nổi thì họ lại

    “gật đầu” tấm tắc khen ngon. Qua đây, người ta khuyên những đôi vợ chồng

    nên biết cùng nhau vượt qua khó khăn, có thế mới có ngày hạnh phúc, bên nhau

    trọn đời.

    *) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm nam nữ.

    ” Ăn cơm hồ sen, uống nước hồ sen

    Anh quen em những thưở đi men trên giường”

    ” Ăn trầu người như chim mắc nhạ

    Uống rượu người như cá mắc câu

    Thương em chẳng nói khi đầu

    Để cho bác mẹ ăn trầu khác nơi

    Đau lòng em lắm, anh ơi

    Riêng em chỉ quyết đợi người lấy thôi”

    20

    ” Ăn chi cho má em hồng

    Gọi chi cho tóc như đồng nước xanh

    Vì chưng ăn miếng trầu xanh

    Cho nên má đỏ tóc xanh đến giờ”

    ” Ăn cơm cũng thấy nghẹn

    Uống nước cũng thấy nghẹn

    Nghe lời em hẹn ra bãi đứng trông

    Biển xanh bát ngát nhìn không thấy người”

    ” Ăn cơm dừa ngồi gốc cây dừa

    Cho em ngồi với cho vừa một đôi”

    ” Ăn cơm ba chén lung lung

    Uống nước cầm chừng, để dạ thương em”

    ” Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi”

    ” Ăn trầu phải mở trầu ra

    Một là thuốc độc, hai là bùa yêu”

    ” Ăn bát cơm trắng nhớ bát cơm lang

    Đường kia nồi nọ dặn em khoan lấy chồng”

    Những câu ca dao tục ngữ này 1 phần thể hiện tình cảm sâu sắc của các

    đôi trai gái đang yêu nhau, 1 phần thể hiện sự tiếc nuối, kém duyên của những

    đôi không đến được với nhau tuy tình cảm đã mặn mà. Phần khác là chê trách,

    phê phán xã hội phong kiến lạc hậu đã không cho họ được kết duyên với nhau,

    khiến họ phải xa lìa nhau, khiến họ đau khổ mà chỉ biết gửi gắm tình cảm vào

    những câu ca ngắn ngủi.

    21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Nhất Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình
  • Những Câu Nói Hay Và Ý Nghĩa Nhất Về Tình Yêu Bằng Tiếng Anh
  • Tập Hợp Những Câu Nói Hay, Stt Hay Về Sự Lừa Dối Trong Tình Yêu
  • Khám Phá Những Câu Nói Hay Về Mưa Ý Nghĩa Nhất Mọi Thời Đại
  • Top 200 Lời Chúc Đầy Tháng Và Thôi Nôi Bé Yêu Hay Nhất Tháng 9 2022
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Đình làng thường cổ kính, trang nghiêm và là công trình kiến trúc văn hoá mang tính dân tộc. Kiến trúc đình làng vì vậy cũng mang đậm dấu ấn văn hoá độc đáo và tiêu biểu cho điêu khắc truyền thống. Thường được xây dựng ở nơi cao ráo, thoáng mát, nóc có tượng đôi rồng lượn tranh lấy quả châu, trên các thanh xà ngang là những bức hoành phi câu đối. Điện thờ là nơi thiêng liêng nhất để thờ thần, thành hoàng làng hoặc những người có công đóng góp, xây dựng giúp dân làng vượt qua khó khăn.

    Là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam trong lịch sử. Điêu khắc cũng phát triển mạnh ở nhiều kiến trúc tôn giáo khác, nhưng không ở đâu biểu hiện hết mình như ở đình làng. Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân đất Việt.

    Đình làng ở Việt Nam xây dựng dựa trên kiến trúc truyền thống của Châu Á, được dựng bằng những cột lim tròn, to và thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Kèo, xà ngang, xà dọc được làm bằng gỗ lim, tường xây bằng gạch nhưng cũng có khi không xây tường. Mái đình lợp ngói múi hài 4 góc có 4 đầu đao cong vút lên như đuôi chim phượng uốn cong. Sân đình lát gạch, trước đình có hai cột đồng trụ vút cao, trên đình có một con nghê lúc nào cũng nhe răng cười. Gian giữa có hương án thờ vị thần của làng. Chiếc trống cái được đặt trong đình thúc giục người dân về đình tụ tập để bàn tính công việc của làng, của nước.

    Có thể nói thế kỷ 16 – 18 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của đình làng với những tên đình danh tiếng như: đình Thổ Hà (Bắc Giang), đình Tây Đằng và Chu Quyến (Ba Vì, Hà Nội), đình Hoành Sơn (Nam Đàn, Nghệ An), đình Thổ Tang ( Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)… Có lẽ, những đình cổ nhất nước ta vẫn là những ngôi đình mang kiến trúc theo hình chữ Nhất như đình Tây Đằng, đình Lỗ Hạnh. Riêng đình Lỗ Hạnh, nguyên xưa là chữ nhất, nhưng qua các đời sau tu bổ đã thêm hậu cung nên đình thành chữ Đinh.

    Theo quan niệm kiến trúc, đình là một kiến trúc công cộng, rộng mở để chờ đón bất cứ người con nào của đất Việt. Với ý nghĩa như thế, đình làng Việt Nam chính là nơi không phân biệt giàu sang nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhất văn hóa hiện thực của đời sống nhân dân.

    Đình làng trong văn học

    Khi nói đến văn hoá làng – nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, người ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng “Cây đa, bến nước, sân đình” làm nên biểu tượng của làng quê. Trong sâu thẳm tâm thức người Việt, hình ảnh mái đình cây đa luôn ở vào cung bậc nhạy cảm nhất và có sức gợi nhớ mãnh liệt. Đình làng – một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in vào tâm khảm mỗi con người và toả sáng trong bài ca dao mà ai cũng biết đến:

    “Hôm qua tát nước đầu đình

    Để quên chiếc áo trên cành hoa sen”

    Hình ảnh đình làng hiện lên thân thuộc và gần gũi, gắn bó với cuộc sống đời thường của từng người dân quê. Tuy nhiên, trong câu ca dao trên, đình làng chỉ là cái cớ, chỉ là hư ảo. Đình làng thường được xây dựng và tôn tạo tại vị trí trung tâm nhất của làng. Xung quanh đình thường có những cây cổ thụ bóng râm mát, một hồ sen và một khoảng sân rộng rãi. Cây cổ thụ như biểu tượng thiêng liêng của sức sống vững bền, chở che cho dân làng. Vậy thì cạnh đình làng đâu phải cánh đồng để chàng trai kia đi tát nước. Chắc chắn rồi, chàng trai vác gầu ra đấy không phải để tát nước. Chàng đang ngóng chờ người thương nên phải giả vờ vác gầu đi tát nước. Một tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng nhưng luôn giấu kín ở trong lòng. Đó là sự kín đáo, nhuần nhị trong cách thể hiện tình cảm của những đôi trai gái ngày xưa:

    “Qua đình ngả nón trông đình,

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.

    Thực vậy, trong cộng đồng cư dân người Việt có lẽ không có cái gì gắn bó, thân thiết hơn là mái đình làng. Đình làng không chỉ là nơi thờ phụng thành hoàng làng, những người có công với dân làng mà còn là nơi diễn ra những sinh hoạt cộng đồng của người dân. Vào những ngày có công việc quan trọng, đình làng là nơi tụ họp, diễn ra các lễ nghi truyền thống. Mỗi năm lại có các ngày lễ lớn, có lễ hội diễn ra tại đình làng. Vào ngày thường nhật, đình làng là nơi trò chuyện của các cụ già, nơi vui chơi của các cháu nhỏ, thậm chí còn là nơi hẹn hò của các cặp nam thanh nữ tú. Mái đình luôn luôn là nơi bắt đầu của những mối tình thơ mộng:

    “Trúc xinh trúc mọc đầu đình,

    Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”

    Ngay cả việc miêu tả nhan sắc của một cô gái đẹp, người ta cũng liên tưởng tới hình ảnh cây trúc và mái đình làng quê. Một sự so sánh tưởng chừng phi lý nhưng rất hợp lý, cái hợp lý của thế giới tình yêu, và ngẫu nhiên tác tạo nên một bức tranh đầy thi vị: cây trúc – mái đình – người đẹp. Nghĩa là khi bước vào trong bức tranh ấy, người đẹp càng đẹp càng xinh hơn:

    “Trăng thanh nguyệt rạng mái đình

    Chén son chưa cạn sao tình đã quên?”

    Ca dao tục ngữ diễn tả nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội, bao gồm các đề tài hài hước, châm biếm, gia đình và trữ tình. Nhưng nhất là về trữ tình, đã được các thanh niên nam nữ thời xưa, dùng để tỏ tình, thổ lộ tình yêu thầm kín của mình với người mình yêu. Thông qua ca dao, mái đình cứ ẩn ẩn hiện hiện giống như một ẩn dụ của văn hóa làng:

    “Toét mắt là tại hướng đình

    Cả làng toét mắt, riêng mình em đâu”.

    Đình làng thường quay mặt về hướng Nam. Chỉ có những trường hợp đặc biệt vì lý do phong thủy, đình mới quay mặt theo hướng khác. Thông qua cách bố trí mỗi ngôi đình, ta có thể thấy được những quy tắc địa lý – tín ngưỡng của người Việt xưa, thường được gọi là phép phong thuỷ. Người Việt xưa tin rằng, thế đất và hướng đình tốt xấu có thể tác động tới sự thịnh suy, lành dữ của cả làng. Vì thế, khi dựng đình, bao giờ người ta cũng rất chú trọng tới sự hài hoà của hai yếu tố Âm và Dương. Tuy nhiên, ở câu ca dao này còn có ngụ ý chính để nói về cái tốt, nhưng là tốt riêng rẽ thì trở thành xấu và ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường.

    Hình ảnh đình làng trong ca dao, tục ngữ Việt Nam rất đa dạng, là biểu tượng rất đặc trưng trong văn học dân gian về làng quê. Cái nôi đưa ta đi đến những chân trời mới và chào đón ta ngày trở về với quê hương bản quán, đó chính là mái đình làng thân thuộc!

    Theo Phạm Thị Nhung – NTBD

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Trong Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt Nam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Đểu Về Con Gái Độc Và Hay Nhất Trên Facebook
  • Stt Tâm Trạng Tại Sao Cứ Phải Cố Gắng Gượng Cười Và Giả Vờ Mạnh Mẽ Hả Cô Gái ?
  • Những Câu Nói Hay Cảm Động Nhất Về Hạnh Phúc Gia Đình
  • 27 Câu Nói Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • Đôi Dòng Stt Bày Tỏ Cảm Xúc Khi Người Yêu Cũ Có Người Yêu Mới
  • Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

    CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.

    1.1 Định nghĩa về văn hóa của UNESCO

    Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và cảm xúc,

    quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

    Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương , những lối sống, những quyền cơ

    bản của con người và hệ thống những giá trị những phong tục, tín ngưỡng. Văn hóa đem

    3

    lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa giúp cho chúng ta trở

    thành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính có phê phán và dấn thân một cách có đạo

    lý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là

    một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không

    mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình mới mẻ, vượt trội bản

    thân.

    1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,

    phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và

    ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn

    hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và

    là công cụ tư duy của con người.

    1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

    Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ

    ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào

    ngôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với

    biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu

    ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.

    1.4 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ.

    -Thành ngữ là một cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, nghĩa của

    chúng có tính hình tượng, gợi cảm.

    – Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ kinh nghiệm, luân lí, là những câu nói

    hoàn chỉnh, tục ngữ được coi như một tác phẩm văn học trọn vẹn bởi nó luôn mang ba

    chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.

    4

    CHƯƠNG 2 . TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO,

    TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ.

    1. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết.

    Có thể nói nhân hậu, đoàn kết là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc

    ta. Khó có một dân tộc nào trên thế giới có ý thức dân tộc mạnh mẽ cùng truyền thống

    đoàn kết như dân tộc ta.Trải qua 4000 năm lịch sử, dân tộc ta từ khi dựng nước đã phải

    giữ nước do đó ý thức dân tộc luôn được đặt lên trên hết, điều này được thể hiện rõ nét

    trong văn hóa nước ta, mà biểu hiện của nó được thể hiện một cách rõ nét trong kho tang

    thành ngữ tục ngữ.

    Thành ngữ tục ngữ ca dao về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được thể

    hiện một cách rõ nét qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như:

    – Lá lành đùm lá rách : người có lòng giúp người khác trong cơn khó khăn. Hoạn nạn

    – Chết cả đống còn hơn sống một mình : tinh thần đoàn kết, sống chết có nhau.

    – Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ : tinh thần đoàn kết, đòng cam cộng khổ.

    – Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết : đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.

    – Đồng tâm hiệp lực ( đồng sức đồng lòng): cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mục

    tiêu chung

    – Thương người như thể thương thân: tinh thần nhân đạo cao cả, coi trọng giá trị

    con người.

    – Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    – Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    – Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước thì thương nhau cùng.

    Chúng ta có lẽ không xa lạ gì với những câu tục ngữ, thành ngữ trên, ông cha ta

    đã sử dụng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để thể hiện thông điệp của mình. Đây được

    xem như những lời răn dạy, những bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời. Những

    “bầu”, những “bí” hay “lá lành”, “lá rách” đều mang ý nghĩa biểu tượng cho con người

    5

    Việt Nam, những đồng bào cùng chung sống trong mái nhà chung. Đất nước Việt Nam

    là một đất nước nhỏ, dân tộc Việt Nam là tổng hòa mối quan hệ của 54 dân tộc anh

    em .Nếu không có sự đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau thì dân tộc này,

    đất nước này làm sao có thể có được hòa bình êm ấm, tự do tự chủ.

    Thành ngữ, tục ngữ còn nói lên bài học về lòng nhân hậu vị tha.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Hiền như Bụt: Khen người nào rất hiền lành.

    – Lành như đất: Khen người nào rất hiền lành.

    – Ở hiền gặp lành: Ăn ở tốt với người khác thì lại có người đối xử tốt với mình.

    Khuyên sống hiền lành, nhân hậu thì sẽ gặp điều tốt đẹp may mắn.

    – Uống nước nhớ nguồn: Biết ơn người đã đem lại những điều tốt đẹp cho mình, sống

    có nghĩa có tình, thủy chung.

    – Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấy

    có giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.

    – Muôn người như một: Mọi người đều đồng ý như nhau, đoàn kết một lòng.

    – Nhường cơm sẻ áo: Nói lên tình cảm thân thiết giữa con người với nhau. Gúp đỡ, san

    sẻ cho nhau lúc gặp khó khăn hoạn nạn.

    Bên cạnh những thành ngữ mang ý nghĩa tốt cũng có không ít thành ngữ phê phán

    những thói xấu của một số người trong xã hội như :

    6

    – Con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.

    – Trâu buộc ghét trâu ăn: Nói những kẻ ghen ghét gièm pha người có quyền lợi hơn

    mình.

    2. Truyền thống trung thực , tự trọng.

    – Cây ngay không sợ chết đứng: Người ngay thẳng chẳng sợ sự gièm pha, bày đặt để

    nói xấu hay chèn ép của kẻ ghen ghét.

    – Chết trong còn hơn sống đục: phương châm cao thượng của người biết tự trọng.

    – Chết vinh còn hơn sống nhục: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Chết đứng còn hơn sống quỳ: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm: Dù đói khổ vẫn phải sống trong sạch, lương thiện.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề: Dù nghèo đói, khó khăn vẫn phải giữ nền nếp.

    – Thẳng như ruột ngựa: Có lòng dạ ngay thẳng.

    – Tốt danh hơn lành áo: Danh dự thanh danh còn hơn cái vỏ bề ngoài.

    – Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Chê người vì một mối lợi nhỏ mà phẩm chất sa

    sút.

    – Đục nước béo cò: phê phán kẻ cơ hội.

    3. Truyền thống biết ơn ,uống nước nhớ nguồn.

    Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn.

    Truyền thống ấy được thể hiện qua việc biết ơn, kính trọng đấng sinh thành, tôn trọng

    7

    người có lòng giúp đỡ, dìu dắt, dạy bảo ta nên người. Truyền thống ấy được cha mẹ, ông

    bà răn dạy ngay từ thuở còn trong nôi, theo thời gian, truyền thống ấy được bồi đắp, giữ

    gìn rồi trở thành quan niệm sống, lối suy nghĩ, trở thành văn hóa của cả một dân tộc. Từ

    xưa đến nay, tryền thống uống nước nhớ nguồn luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt

    Nam, được hun đúc qua nhiều đời, nhiều thế hệ và vẫn luôn vẹn nguyên giá trị cho tới

    ngày nay.

    Tục ngữ, thành ngữ về biết ơn gia đình, tổ tiên và những người có lòng giúp đỡ mình:

    – Ăn quả nhớ người trồng cây: nhớ ơn tổ tiên, ông bà.

    – Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy: nhớ ơn ông bà cha mẹ và người thầy.

    – Uống nước nhớ nguồn: luôn ghi nhớ công ơn, tổ tiên, gốc rễ.

    – Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

    – Chim có tổ, người có tông:

    – Lá rụng về cội.

    – Ơn trả nghĩa đền : phải biết ơn, ghi nhớ công ơn, đền đáp những người đã giúp đỡ

    mình.

    – Ơn sâu nghĩa nặng : ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình

    – Tiên học lễ, hậu học văn : trước hết phải biết đạo lí, học cách đối nhân xử thế rồi

    sau đó mới học kiến thức.

    – Kính lão, đắc thọ : Tôn trọng, yêu quý người già thì được sống lâu.

    – Kính già, già để tuổi cho.

    – Tối lửa tắt đèn : mối quan hệ thân thuộc giữa hàng xóm, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.

    Ca dao tục ngữ thể hiện lòng kính trọng người thầy.

    – Không thầy đố mày làm nên.

    – Tôn sư trọng đạo: kính trọng thầy và coi trọng những kiến thức, cái đạo của thầy

    truyền lại, theo nho giáo.

    – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư : một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    – Một chữ nên thầy: đồng nghĩa với nhất tự vi sư bán tự vi sư.

    – Trọng thầy mới được làm thầy: phải kính trọng thầy thì mới có thể nhận được sự

    8

    kính trọng từ người khác.

    – Tầm sư học đạo: tìm thầy, tìm người giỏi để theo học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 101+ Hình Ảnh Kèm Câu Nói Hay Về Đứa Bạn Thân Sâu Sắc & Ý Nghĩa
  • 30 Lời Chúc Ngủ Ngon Cho Bạn Gái Lãng Mạn Nhất
  • Chùm Stt Thất Vọng Về Đàn Ông, Buồn Não Nề Hay, Sâu Sắc Nhất
  • Tổng Hợp Những Stt Đểu Và Chất Về Tình Yêu
  • 60 Lời Chúc Ngày Của Mẹ Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất
  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dòng Họ Khỉ
  • Một Số Lễ Hội Mùa Xuân Qua Mấy Vần Ca Dao
  • Dịp Tết Nguyên đán đến hết tháng giêng, lệ cúng đình làng đang diễn ra khắp cả nước như một tín ngưỡng văn hoá đáng quý của người Việt. Xung quanh chuyện cái đình có nhiều điều thú vị….

    Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu

    Chẳng biết từ bao giờ cái đình đã đi vào tâm thức dân gian Việt Nam như một hình ảnh gắn bó mật thiết với cuộc sống và tình yêu lứa đôi. Đình miếu là chốn tôn nghiêm, nơi hội tụ và lưu giữ hồn quê. Đình miếu còn là điểm tựa tinh thần, biểu trưng cho vẻ đẹp lãng mạn thanh khiết của những tâm hồn chân chất yêu nhau:

    Trúc xinh trúc mọc đầu đình

    Em xinh em đứng một mình cũng xinh

    Một sự so sánh tưởng chừng phi lý nhưng rất hợp lý, cái hợp lý của thế giới tình yêu, và ngẫu nhiên tác tạo nên một bức tranh đầy thi vị: trúc-đình-người đẹp. Nghĩa là khi “bước vào” trong bức tranh ấy, người đẹp càng đẹp càng xinh hơn.

    Mỗi làng đều có một ngôi đình để thờ đức thành hoàng, phúc thần, đồng thời đây cũng là nơi hội họp việc làng về hành chính, xã hội, tôn giáo. Nhà văn Sơn Nam trong công trình biên khảo Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, rất chí lý khi cho rằng: “Xây dựng đình làng là nhu cầu tinh thần, có đình thì mới tạo được thế đứng, gắn bó vào cộng đồng dân tộc và càn khôn vũ trụ, bằng không thì chỉ là lục bình trôi sông, viên gạch rời rạc, một dạng “lưu dân tập thể”, mặc dầu làng lắm gạo nhiều tiền”. Để dựng một ngôi đình, dân làng hết sức cẩn trọng trong việc xem phong thủy, nhất là hướng đình vì nó có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của cả làng: đức tin, trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán, bệnh hoạn, học hành, thăng tiến… Ca dao miền Bắc có câu:

    Toét mắt là tại hướng đình

    Cả làng toét cả, một mình em ru?

    Đình làng thường quay mặt về hướng Nam. Chỉ có những trường hợp đặc biệt vì lý do phong thủy, đình mới quay mặt theo hướng khác. Cũng do việc chọn hướng đình mà từng xảy ra mâu thuẫn giữa các làng với nhau. Nhà văn hóa Toan Ánh trong tác phẩm Tín ngưỡng Việt Nam có dẫn lại lời của nhà nghiên cứu người Pháp Chapuis kể rằng, tại huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị, dân làng Mai Xá Chánh nhận thấy hướng đình làng Mai Xá Thị chuẩn bị xây có một đao đình “khắc” với đình làng của họ nên đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ. Sự việc căng thẳng đến mức chính quyền phải đưa binh lính về can thiệp mới tạm yên ổn!

    Lễ cúng đình.

    Nếu như ở đồng bằng sông Hồng, đất tự ngàn xưa của tổ tiên, việc xây dựng đình miếu trong mỗi làng là điều hiển nhiên, thì đối với vùng đất mới phương Nam, việc xây đình lập miếu không phải dễ dàng mà cần phải có “tư thế pháp nhân”. Trước hết phải được nhà nước phong kiến công nhận làng mới, sau đó mới xin phép xây đình miếu, nhận sắc thần vua ban. Từ luật lệ ấy đã nảy sinh những tiêu cực về thủ tục giấy tờ, phải qua nhiều cửa nhiều con dấu con triện, bọn quan lại cường hào có cơ hội hành dân. Khi nghiên cứu đến vấn đề này, nhà Nam bộ học Sơn Nam đã phải thốt lên: “Lập làng để đóng thuế cho nhà nước đã là tốn thời giờ, huống gì xin lập đình. Xin một sắc thần, đòi hỏi thủ tục, đút lót.

    Lúc hưng thịnh, vua quan nhà Nguyễn thận trọng: đợi ba năm mới ban sắc một loạt, lựa ngày lành, vận hội tốt. Ta nghe trường hợp dân làng nôn nóng, cử vài bô lão ra tận ngoài Huế để khiếu nại nhắc nhở, chẳng nệ tốn kém, nhưng vô hiệu quả. Thế là ngày tết, đầu năm, xong vụ mùa, tuy đủ ăn mà dân làng ấy thấy mình như mồ côi. Đem tiền bạc, phí thời giờ đến đình làng kế cận để vui chơi thì quả là buồn tủi.

    Năm Tự Đức thứ 5 (1852), có lẽ đoán trước thời nguy khốn của đất nước, vua và các quan hấp tấp ban bố đồng loạt nhiều sắc thần cho các làng Nam bộ. Vài làng có sắc thần từ trước, nhưng đã mất hoặc muốn chắc ăn, cũng xin thêm một sắc nữa”. Mới biết cái đình quan trọng như thế nào trong xã hội người Việt xưa. Loại bỏ những yếu tố tiêu cực thì việc đình miếu luôn là một thiết chế văn hóa phong tục tốt đẹp mà đến nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tâm linh của dân tộc.

    Từ quê lên phố, phong tục ấy vẫn được người Việt lưu giữ và luôn dành cho đình miếu những tình cảm tốt đẹp. Theo dọc chiều đài đất nước, ở đâu chúng ta cũng có thể gặp những đình miếu được thờ phụng rất trang nghiêm, luôn có người coi sóc hay đến cúng tế, gắn bó mật thiết với người dân quanh vùng. Riêng tại TP HCM, hiện nay có đến 260 ngôi đình, trong đó có nhiều ngôi đình cổ nổi tiếng gắn liền với sự hình thành,phát triển của thành phố và cả vùng đất Nam bộ.

    Nhiều ngôi đình đã đi vào lịch sử khi “tham dự” vào các sự kiện lớn, như đình Tân Trào, đình Hồng Thái, đình Đình Bảng, đình Phú Cường, đình Chí Hòa, đình Bình Hòa, đình Bình Đông, đình Bình Trị Đông, đình Tân Thông Hội, đình Mỹ Trà… Và gần như tất cả đình làng trên cả nước đã trở thành điểm xuất phát, hội họp của các lực lượng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đưa đất nước thoát khỏi bóng đêm nô lệ, giành lấy ánh sáng độc lập tự do!

    Đình làng không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là một tài sản văn hóa, lịch sử thiêng liêng vô giá của người Việt

    PHAN PHÚ YÊN

    Nguồn: citinews.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam
  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Rừng Trong Văn Học Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Dí Dỏm Về Răng Miệng
  • Rắn Và Thành Ngữ Ca Dao
  • Tục Ngữ Nói Về Con Rắn
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín Hay Gặp Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Rừng trong văn học Việt Nam

    Thái Công Tụng

    1. Dẫn nhập

    Con người từ thời cổ đại cách đây mấy trăm ngàn năm cũng phải dựa vào rừng mà sống: rừng đã là nơi cung cấp chỗ trú ẩn, chỗ nương tựa, chỗ săn bắn, vật liệu làm nhà.. Do đó con người tôn thờ cây như một cái gì linh thiêng, chứa đựng những linh hồn.

    2. Vai trò của rừng.

    Có thể nói rừng liên hệ đến con người qua 4 khía cạnh chính sau đây :

    2.1 cung cấp :

    -rừng cung cấp gổ củi: gổ làm bàn ghế giường tủ; củi nấu ăn, nung trong lò gạch, làm than .

    – rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ củi như nấm, mật ong, măng tre, mây, hoa lan, dược thảo, trầm v.v. Người lính thú đời xưa ở các đồn hẻo lánh cũng chỉ dựa vào rừng m à sống:

    Ba năm trấn thủ lưu đồn

    Ngày thời canh điếm tối dồn việc quan

    Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

    Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai

    Miệng ăn măng trúc măng mai

    – rừng cung cấp thuốc trị bệnh

    Xưa kia, con người nhờ các loại cây cỏ trong rừng để chữa bệnh vì cây cỏ có chất làm lành vết thương, giải nhiệt, giải độc, mụn nhọt, trị cảm cúm, trị ho .. Ngày nay, dù khoa học có tiến bộ nhưng rừng vẫn là nơi các thực vật cung cấp nguyên liệu để khảo cứu, trích các tinh dầu

    Nạn sốt rét gây tàn phá làm chết rất nhiều sinh mạng. Cây quinquina (Cinchona sp) cho chất quinine và các thuốc trị sốt rét như chloroquine, quinacrine, primaquine đều từ quinine mà ra .

    Trong quãng 3000 cây chứa các đặc tính chống ung thư thì có đến hơn 2000 cây từ rừng nhiệt đới .

    2.2 rừng cho nhiều loại trái cây ăn được

    Nhiều loài cây trong rừng có trái ăn được: sim, mồng quân, dâu rừng, trái giẻ (noyer; walnut), trái mơ ..

    Trái sim có nhiều miền duyên hải Trung Việt:

    Đói lòng ăn mớ trái sim

    Nhịn ăn khát nước đi tìm người thương

    Trái mơ cũng có trong thơ Nguyễn Bính :

    Thơ thẩn đường chiều một khách thơ

    Say nhìn xa rặng núi xanh lơ.

    Khí trời êm ả và trong trẻo

    Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

    2.3 điều hoà : rừng hút được chất CO2 và nhả ra oxy; rừng cản dòng nước lũ, giữ lại một phần lượng nước mưa và như vậy, giảm xói mòn, lũ lụt, giúp nước ngầm phong phú hơn. Trong thời kỳ biến đổi khí hậu như hiện nay mà thủ phạm là các khí thải CO2 do sự sử dụng các nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu hoả và hơi đốt thì rừng giúp giảm các khí đó vì với hiện tượng quang hợp, cây rừng có thể hút được các loại khí CO2. Thực vật rừng cũng có khả năng bốc và thoát hơi nước nên trong khí quyển có nhiều hơi nước bốc lên cao làm nguồn nước mưa . Nếu phá rừng thì mỗi khi mưa to, gió, bão, lại càng dễ bị lụt hơn . Lý do là vì nhờ cây rừng có thể giảm được sức mạnh của dòng chảy. Tại nhiều miền duyên hải nhiệt đới, có loại rừng ngập mặn với cây bần, cây đước. Loại rừng này giúp chận lại các trầm tích phù sa và cũng giúp cản trở dòng nước mặn ngoài biển vào nội điạ . Rừng ngập mặn che chở cho cả một hệ sinh thái đa diện dưới chân nó: cua, tôm, cá, cá sấu và chim cò, khỉ, ong trên cây

    Trong bài Lời nguyện của rừng, có những câu sau, đề cao vai trò đều hoà đọc ghi nhận :

    Để ta sống, ta điều hòa mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi. 

    Để ta sống, ta ngăn luồng vũ bão; chận cát bay làn gió bốc tung trời. 

    Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian. 

    Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thủy nộ lầm than. 

    2.4 rừng đóng góp vào các giá trị văn hoá, như tâm linh, thẩm mỹ, giải trí, sức khoẻ và giáo dục

    Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’

    Các tôn giáo lớn luôn luôn nhắc nhở đến cây: cây bồ đề trong Phật giáo, rừng trúc ở đó Phật Thích Ca truyền đạo; cây sồi trong Thánh Kinh

    Rừng có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của con người, và nhất là con người thời đ ại ngày nay . Với dân số tăng nhanh, với công nghiệp hoá, đô thị hoá, loài người đã mất đi không gian thiên nhiên, chỉ sống với cao ốc beton, chung đụng với ô nhiễm, với tiếng đ ộng nhà máy, tiếng động xe cộ, máy bay v.v. do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên. :

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn, người đến chốn lao xao.

    Lắm khi con người ngày nay sống hối hả ở đô thị cũng chỉ muốn những niềm vui đơn giản như đi dạo dọc theo hàng me xanh lướt thướt như trong câu thơ : Con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về., tìm lại chút bình yên thư thái

    Vào rừng, thở không khí trong lành, nhìn sao ban đêm, nhìn suối, nghe nước róc rách, bướm lượn nhởn nhơ, chuồn chuồn, nghe côn trùng rỉ rả, mặt trăng lên, sao đêm nở đày trời, giúp ta tránh được các căng thẳng của cuộc sống máy móc đô thị, giúp ta quên đi những nôi nhọc nhằn của thể chất và của tâm linh, ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây (thơ Hồ Dzếnh), tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp.

    Ta cũng thấy trước cảnh vật bao la của vũ trụ rằng con người chỉ là một thành phần nhỏ bé và từ đó cảm thấy khiêm tốn hơn .Mà khiêm tốn giúp cho con người đến đức tin chân thật và đức tin chân thật mới hưóng dẫn con người đến được nơi có Thượng Đế ngự trị dễ đi vào nội tâm hơn, cõi lòng lắng xuống .

    Hãy đọc Bà Huyện Thanh Quan:

    Dừng chân đứng lại :trời, non, nước

    Một mảnh tình riêng ta với ta

    Chỉ có hai câu thơ cổ điển trên mà bao gồm mọi yếu tố môi sinh: nào là dừng chân trên đất (thổ quyển), nhìn trời tức mây trôi, gió thổi (khí quyển), nhìn non tức là núi có đá là căn nguyên của đất (thạch quyển), nhìn nước tức sông suối, biển (thủy quyển) và sinh vật, tức tác giả bài thơ (sinh quyển)

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

    đến những nương dâu bát ngát trong cảnh khi người vợ lính chiến xa chồng:

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai !

    Trong văn học dân gian, cũng nhiều ca dao tục ngữ đề cập đến rừng

    Tình yêu trai gái cũng sử dụng thiên nhiên để so sánh:

    Chim xa rừng thương cây nhớ cộí

    Người xa nguời tội lắm người ơi

    Nỏ thà không biết thì thôi

    Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi, răng đành

    Tình yêu trai gái đôi khi cũng mãnh liệt như trong hình ảnh này :

    Yêu người như suối cuộn rừng sâu, như con tàu say gió v.v (bài Phượng Yêu)

    Một môi trường hài hoà, êm ả giúp con người thảnh thơi trí óc để có thể có tư duy sáng tạo, tư duy thiền:

    .. Thu ăn măng giá, đông ăn trúc

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắm

    Nhìn xem phú qúy tựa chiêm bao

    Chúng ta đang ở Quebec, thấy mùa thu với lá nửa vàng nửa đỏ, sau đó từ đầu tháng 10 trở đi là lá bắt đầu rụng: Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về

    Lá rụng vào thu cũng là cảm xúc cho bao nhiêu nhạc sĩ, thi sĩ viết lên nhiều bài thơ, bài nhạc để đời :

    Rừng thu thay lá mưa bay buồn rầu

    Rừng đông buốt giá mưa bay dạt dào

    Rừng thu lá úa em vẫn chưa về

    Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ

    Kiếp người cũng được ví như mùa thu với những chữ quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai trong bài Nhìn những mùa thu đi “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai”.

    Thơ của Hoàng Ngọc Ẩn Rừng lá thay chưa cũng nói đến sự vô thường của kiếp người:

    Anh đi rừng chưa thay lá

    Anh về rừng lá thay chưa

    Phố củ bây chừ xa lạ

    hắt hiu đợi gió giao mùa

    Khi nàng Kiều tiễn chân Thúc sinh về quê vợ, cụ Nguyễn Du đã lồng vào cảnh mùa thu:

    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

    Người về chiếc bóng năm canh

    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

    Cũng khi trời vào thu thì nhiệt độ hạ thấp, nước ngầm trong đất bị đông lại nên thực vật phải thich nghi với sự thay đổi khí hậu bằng cách rụng lá, nhưng trước đó, lá cây từ từ chuyển màu từ xanh sang màu vàng, màu đỏ, –nhuốm màu quan san – như mọi rừng ôn đới có lá rụng (temperate deciduous forest ) ở Canada.

    Loại rừng này có ở các vùng miền hạ lưu sông Dương Tử, sông Hoàng hà, nghĩa là các vùng khí hậu ôn đới . Loại rừng này cũng có nhiều bên Âu Châu (Pháp, Đức ..) và ngoài cây phong (tên Latin là Acer, họ Aceraceae), còn có nhiều loại cây khác như cây sồi (chêne; oak), cây sồi rừng (hêtre), cây tần bì (frêne; ash), cây lê đá (sorbier), cây đào gai (aubépine), cây hồ đào ( noyer; walnut); cây dẻ (chataignier; chesnut); cây dương (peuplier; poplar); cây du (orme; elm), cây dẻ (marronnier; common-horse chesnut). Loại rừng này hiện diện ở các vùng núi phía Montreal, Sherbrooke, Hull, Trois Rivieres) …Gần mặt đất, trong loại rừng ôn đới này có nhiều loài dương sĩ, thảm cỏ tươi, thảm cỏ mục. Động vật thì gặp các loài chồn, chim, sóc ..

    Tưởng cũng cần nói thêm là trên thế giới, tùy theo khí hậu, ta có những loại rừng khác nhau. Vài ví dụ: tại Việt Nam, Indonesia, Mã Lai cũng như vùng Amazone bên Brésil, có rừng mưa nhiệt đới (tropical rainforest), có nhiều tầng cây con chằng chịt.

    Cũng có loại rừng khô nhiệt đới (tropical seasonal forest) khi có mùa khô kéo dài như các rừng Đông Bắc Ấn độ, Đông Bắc Thái Lan.

    Trên kia là nói về rừng ôn đới trong đó có cây phong là cây chiếm dạng ưu thế .Nhưng ở ven sông, thường có nhiều đất ẩm thì thực vật cảnh hay quần xã thực vật thường gặp là một loại rừng khác, có tên là rừng ở bờ nước (riparian forest) với những rặng liễu:

    Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang 

    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

    (thơ Xuân Diệu)

    hoặc cây liễu như trong câu Kiều:

    Sông Tần một giải xanh xanh

    Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

    2.5 rừng có vai trò hỗ trợ như giúp tạo ra đất, làm nhiều khối đá đầu tiên vỡ ra . Thực vật với rễ cây có thể xuyên qua các khe nứt của đá và dần dà làm đá bể ra, tạo điều kiện dễ dàng cho đất hình thành ; rễ cây và vi sinh vật thải vào môi trường chất CO2 và các acid khác nhau để huỷ hoại các khoáng chất trong đá, giúp sự phong hoá dễ dàng hơn

    3. Kết luận

    Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu do sự phát thải  các khí độc của các nhà máy, xe cộ, kéo theo nhiều hệ quả như băng hà tan, nước biển dâng, bão lụt tăng thì vai trò bảo vệ môi tr ường lại càng quan trọng hơn .

    Do đó, giáo dục môi sinh trong học đường rất cần thiết; những thơ văn, ca dao, tục ngữ đề cao vai trò của môi sinh, từ sông ngòi đến  thác nước sẽ giúp trẻ em học sinh hiểu nhanh hơn vai trò cûa con người trong các hệ sinh thái nhằm bảo vệ chung trái đất.Giáo dục  cho mọi người về sự cần thiết của niềm đồng cảm giữa người và vũ trụ, tình gắn bó giữa con người với thiên nhiên để con người yêu thêm thiên nhiên, tạo vật, tìm lại mây trời hiền hoà, màu xanh của nước và của  núi rừng, nói theo danh từ thời đại là green awareness và từ đó thấy sự cần thiết có một sự hài hoà giữa dân số và thiên nhiên, hài hoà giữa thiên nhiên  và phát triển kinh tế, một sự hài hoà mà chính hệ thống triết học Á Đông luôn luôn đề cao.

    Thái Công Tụng

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru
  • Đô Thị Cổ Hội An
  • Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam
  • Văn Học Dân Gian Quảng Trị
  • Vài Câu Ca Dao Quảng Ngãi (Sưu Tầm)
  • Nét Đẹp Văn Hóa Uống Rượu Của Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Rượu Từ Đâu Mà Có?
  • 101 Lời Chúc Valentine Trắng 14/3 Hay, Ý Nghĩa Và Độc Đáo Nhất
  • Tải Về Women’s Day Wishes Apk Cho Android
  • Câu Chúc Xuân Hay 2022 ❤️ Top Lời Chúc Năm Mới Tân Sửu
  • Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật: Chùm Thơ Hay Thay Lời Chúc Yêu Thương
  • Uống rượu là một nét đẹp văn hóa của người Việt đã có từ lâu đời. Người ta nói miếng rầu là đầu câu chuyện, càng đối với những “đệ tử Lưu Linh” thì chén rượu là đầu cuộc vui.

    Uống rượu là một nét đẹp văn hóa của người Việt đã có từ lâu đời. Người ta nói miếng rầu là đầu câu chuyện, càng đối với những “đệ tử Lưu Linh” thì chén rượu là đầu cuộc vui. Cho nên Nguyễn Trãi mới có câu thơ rất hay về những thú vui tao nhã của các nhà Nho xưa:

    “Đua chi chén rượu câu thơ

    Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao”

    (Nguyễn Trãi, Gia Huấn ca)

    Người đàn ông Việt Nam từ xưa tới nay luôn cho rằng: “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Đàn ông mà không biết uống rượu thì bị so sánh như đàn bà không có phong độ của đấng mày râu. Người Việt Nam có tục lệ uống rượu khi ăn, mang ý nghĩa tương sinh hài hòa, thuận theo nguyên lý “âm dương phối triển” của Phương Đông. Cho nên có thể nói rằng uống rượu là một phạm trù văn hóa không thể thiếu của người Việt ta từ trước tới nay.

    Văn hóa uống rượu của người Việt rất khác với văn hóa uống rượu của người nước ngoài nói chung. Người nước ngoài coi uống rượu là một lễ nghi xã giao rất trang trọng. Họ chú trọng đến lễ tiết, cách chúc rượu với người bề trên, bạn bè đều có chuẩn mực. Điểm đặc biệt thú vị khác biệt với văn hóa uống rượu của người Việt là người nước ngoài thưởng thức rượu rất từ từ để cảm nhận vị ngon của rượu, họ cho rằng các cơ quan của cơ thể điều có thể cảm nhận được “thú vui tao nhã” này: Mũi thì được ngửi mùi thơm của rượu, mắt thì được ngắm màu sắc của rượu, lưỡi có thể thưởng thức vị ngon của rượu,…

    Nét đẹp văn hóa uống rượu của người Việt Nam được bạn bè trên thể giới ngưỡng mộ về sự hào hứng, thỏa mái không câu nệ và chân thành hết sức mình. Nhưng hiện nay, có một bộ phận hiểu sai về văn hóa uống rượu dẫn tới những hệ lụy không đáng có ảnh hưởng đến sức khỏe. Cho nên muốn giữ gìn nét đẹp văn hóa này cần phải có sự chừng mực lấy niềm vui là chính không thúc ép để cho người Việt Nam có thể tự hào có một truyền thống văn hóa uống rượu đậm đà bản sắc dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Câu Chúc Mừng Thọ Ngắn Gọn Nhưng Ý Nghĩa Cho Năm 2022
  • Những Lời Thơ Chúc Mừng Thọ Hay Và Ý Nghĩa Dành Tặng Ông Bà
  • Đtc Phanxicô: Nếu Chúng Ta Có Thói Quen Nguyền Rủa, Hãy Thay Đổi Nó Thành Thói Quen Chúc Lành
  • Những Câu Chúc Tết Các Sơ Đạo Thiên Chúa 2022 ❤️️ Hay
  • Quà Tặng Tân Gia: 99+ Món Quà Phú Quý Cát Tường Đến Gia Chủ
  • Áo Yếm Trong Thơ Văn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Lời Khuyên Thiết Kế Chữ Ký Email Vô Cùng Hữu Ích !
  • Top 200+ Những Câu Nói Hài Hước Nhất Mọi Thời Đại
  • Shock: Những Câu Nói Chuẩn Không Cần Chỉnh Hay Bua Doc Dao
  • Những Bài Thơ Chế Hay Nhất
  • Nếu Cuộc Sống Đá Cho Bạn Một Cú, Hãy Để Nó Đá Bạn Về Phía Trước
  • Lịch sử

    Áo yếm xuất hiện từ bao giờ không ai rõ, chỉ biết rằng nó đã có mặt trong cuộc sống của người dân Việt từ rất xa xưa. Nó được mặc bởi phụ nữ Việt ở mọi tầng lớp giai cấp xã hội, từ các tôn nữ công chúa nơi thâm cung, các phu nhân tiểu thư của những gia đình quý tộc, đến những người phụ nữ bình dân tần tảo, vất vả sớm hôm để nuôi chồng, nuôi con.

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng chiếc yếm được ra đời là để tôn lên cái lưng ong vốn được xem là một nét đẹp của người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam. Theo quan niệm truyền thống của người Việt, một cô gái đẹp là phải có cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn như cái lưng ong. Người Việt xưa cho rằng những cô gái với cái lưng ong không chỉ mang một dáng hình đẹp mà còn có đầy đủ tất cả những đức hạnh của một người vợ, người mẹ. Chúng ta có câu ca dao:

    Đàn bà thắt đáy lưng ong

    Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.

    Hình dạng của chiếc áo yếm có thể là đã được thay đổi theo thời gian nhưng nó lần đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ 12 dưới triều Lý.

    Vào thế kỷ 18-19, chiếc áo yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét tròn làm cổ, hai đầu của lỗ đính mẩu dây để cột ra sau gáy. Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xe, đáy chữ V mà sẻ sâu xuống gọi là yếm cổ nhạn.

    Cuộc cách mạng áo yếm xảy ra vào thế 20 khi các kiểu áo Tây phương xâm nhập vào Việt Nam với sự ra đời của rất nhiều kiểu yếm mới lạ.

    Màu sắc áo yếm nói lên khá nhiều về người chủ của nó: Người lao động đồng ruộng mặc yếm màu nâu bằng vải thô. Con gái nhà gia giáo thì mặc yếm nhiều màu trang nhã và kín đáo. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Kiểu yếm màu sặc sỡ, cổ khoét sâu thì ít người dùng, chỉ những người như kiểu thị Màu mới dám xài, với câu thơ ỡm ờ:

    Gió xuân tốc dải yếm đào

    Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương

    Áo yếm thường được dùng kết hợp với áo cánh hoặc áo dài, mặc với nón quai thao, khăn nhiễu và khăn mỏ quạ.

    Áo yếm trong thơ văn Việt Nam

    Từ những câu tỏ tình của các chàng trai trong các cuộc gặp gỡ

    Hỡi cô mặc áo yếm hồng

    Đi trong đám hội có chồng hay chưa?

    Cô kia yếm trắng lòa lòa

    Lại đây đập đất trồng cà với anh.

    Bao giờ cà chín cà xanh

    Anh cho một quả để dành mớm con.

    Cho đến câu nhớ nhung, mong đợi của kẻ xa quê

    Mình về mình có nhớ chăng

    Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình.

    Ta về ta cũng nhớ mình

    Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao

    Rồi chiếc yếm lại trở thành vật trao tình của các cô gái trẻ. Yêu anh thì mới trao yếm cho anh. Khi anh hỏi mượn em chiếc yếm là ý anh muốn hỏi em có yêu anh không, có đồng ý theo anh không.

    Thuyền anh ngược thác lên đây

    Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền.

    Ở gần mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu.

    Mồng tơi chẳng bắc được đâu

    Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang

    Dải yếm thì làm sao mà dùng dây kéo thuyền được, làm sao mà bắc cầu được? Nhưng đấy chỉ là ẩn ý thôi, cái anh thực sự muốn là chân tình của em. Em phải dùng “yếm” làm dây bắc cầu thì anh mới sang.

    Rồi dải yếm lại trở thành một biểu tượng cho tình yêu giữa đôi trai gái

    Trời mưa trời gió kìn kìn

    Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông

    Bên ngoài mưa gió lạnh rét, đôi uyên ương dùng đôi dải yếm để đắp và vẫn thấy ấm áp hơn nằm trong nghìn lớp chăn bông. Đó không phải là vì dải yếm có sức cách lạnh tốt, mà là vì dải yếm là biểu tượng cho tình yêu của lứa đôi, tình yêu ấy có thể làm ấm lòng người giữa tiết trời giá rét.

    Đối với những đôi trai gái không được nên duyên nên phận vợ chồng như mong ước, chiếc yếm lại hiện lên trong câu thơ xót thương tiếc nuối của các chàng trai.

    Kiếp sau đừng hóa ra người

    Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân

    Yếm còn trở thành nguồn cảm hứng cho biết bao thế hệ thi sĩ Việt. Tác giả bài “Chùa Hương” khi tả một cô thiếu nữ đẹp đang lên chùa đã viết

    “Em đeo giải yếm đào

    Quần lĩnh áo the mới

    Tay cầm nón quai thao”.

    Vẫn nguồn cảm hứng từ chiếc áo yếm, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết nên khúc “Hội Yếm Bay”

    “Ngất núi ô kìa anh vỗ nhịp

    Bay cờ triệu yếm ríu ran ca

    Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội

    Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi”

    Còn nhà thơ Nguyễn Bính khi bày tỏ sự tiếc nuối đối với cô em thôn nữ của ông đã viết

    “Nào đâu chiếc yếm lụa đào.

    Chiếc khăn lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?…”

    Yếm, đã đẹp, lại còn lôi cuốn ở nét vừa kín vừa hở. Xem Hồ Xuân Hương tả cô gái sau thì rõ:

    “Lược trúc lỏng cài trên mái tóc

    Yếm đào trễ xuống dưới nương long

    Ðôi gò Bồng đảo sương còn ngậm

    Một lạch Đào nguyên suối chửa thông”

    (Bài viết Thùy An,

    Tranh: họa sỹ Quốc Dũng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Thời Trang Của “Nữ Hoàng Váy Cưới” Vera Wang
  • Về Bài Thơ Áo Đỏ Của Vũ Quần Phương
  • Những Câu Nói Vui, Buồn Cười, Bựa Nhất Quả Đất
  • Ngày Hẹn Hò [Oneshot
  • Fic Gtop – Baby?noway!!! C3
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100