Ca Dao Tục Ngữ Quảng Ngãi

--- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Với Những Câu Nói Hài Hước Về Phụ Nữ
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Bạn Tuổi Học Trò Đáng Trân Trọng
  • Những Stt Hay Về Mưa Và Nắng
  • Những Câu Stt Sinh Nhật Buồn
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Giúp Truyền Cảm Hứng
  • CA DAO TỤC NGƯ VỀ QUẢNG NGÃI (SƯU TẦM)

    Bao giờ núi Ấn hết tranh

    Sông Trà hết nước anh đành xa em

    Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh

    Liều mình lén mẹ theo anh phen này

    Ai về núi Ấn sông Trà

    Có thương cô bậu ghé nhà mà thăm

    Sông Trà sát núi Long Đầu

    Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa

    Núi Long Đầu lưu danh hậu thế

    Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng

    Ai về xứ Quảng cho nàng về theo

    Ai về núi Bút, Quán Đàng

    Núi bao nhiều đá dạ thương chàng bấy nhiêu

    Ba La, Vạn Tượng, Cầu Mông

    Chạy quanh chạy quéo cũng về đồng Ba La

    Ai về Cỗ Lũy cô thôn

    Nước sông Trà Khúc sóng dồn lăn tăn

    Ai về quê ấy Nghĩa An

    Ghé thăm phong cảnh Chùa Hang, Bàn Cờ

    Tư Nghĩa, Cửa Đại là đây

    Gành Hàu, núi Quế đá xây nên chùa

    Dưới thời bông súng nở đua

    Ngó lên trên chùa đá dựng kiểng giăng

    Ngó qua bên xóm Trường An

    Ngó xuống hòn Sụp cát vàng soi gương

    Sơn Tịnh có núi Chân Trâu

    Có bàu ông Xá, có cầu Rừng Xanh

    Bao giờ rừng Thủ hết gai

    Sông Trà hết nước mới sai lời nguyền

    Tai nghe anh lấy vợ Ba La

    Ruột đau từng chặng, nước mắt ra từng luồng

    Cò bắt lươn cò trườn xuống cỏ

    Lươn bắt cò cò bỏ cò bay

    Từ ngày xa bạn đến nay

    Đêm đêm tưởng nhớ, ngày ngày trông luôn

    Kể từ Cầu Ván, Ao Vuông

    Bước qua Quán Ốc lòng buồn lụy sa

    Quán Cơm nào quán nào nhà

    Ngóng ra Trà Khúc trời đà rạng đông

    Buồn lòng đứng dựa ngồi trông

    Ngó vô Hàng Rượu mà không thấy chàng

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

    Phải đâu chàng nói mà xiêu

    Tại con cá bống tại niêu nước chè

    Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh Sơn Tịnh

    Cô gái lòng son

    Không bằng tô don Vạn Tượng

    Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ

    Cũng cưới cho được con vợ bán don

    Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

    Sơn Tịnh đường đinh

    Sa Huỳnh muối trắng

    Bậu về nhớ ghé Ba La

    Mua cân đường phổi cho ta với mình

    Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ

    Khoai lang dưới Trảng, gạo thì Đường Trung

    Ai về Cỗ Lũy, Xóm Câu

    Nhớ mua đôi chiếu đón dâu về làng

    Gái Thanh Khiết giỏi nghề cải giá

    Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu

    Bao giờ Thiên Mã sang sông

    Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu

    Mía ngọt tận đọt

    Heo béo tận lông

    Cổ thời mang sông

    Tay cầm lóng mía

    Vừa đi vừa hít

    Cái đít sưng vù

    Ai về Sơn Tịnh quê ta

    Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng

    Tiếng đồn du kích Tịnh Khê

    Lính đi mất xác, quan về mất lon

    Ai về Cổ Lũy Cô Thôn

    Quê ta Quảng Ngãi mồ chôn quân thù

    Qua chùa núi Hó thắp bó nhang vàng

    Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa

    Trông trời chẳng thấy trời mưa

    Rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về

    Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê

    Lên non tìm quế, quế về rừng xanh

    Trách ai treo ngọn thắt ngành

    Cho chàng xa thiếp cho anh xa nàng

    Ba năm quế gãy còn cành

    Bình hương tan nát, miếng sành còn thơm

    Nhà bà có ngọn mía mưng

    Có cô gái út mà ưng ông già

    Trồng trầu tưới nước cho vông

    Cảm thương cây quế đứng trông một mình

    Em nguyền cùng anh một miếng tóc mai

    Trước chùa Quan Thánh, nghe lời ai anh bỏ nàng

    Thương tằm cởi áo bọc dâu

    Tưởng người có nghĩa hay đâu bạc tình

    Nghèo nghèo nợ nợ lấy cô vợ bán don

    Lỡ mai có chết cũng còn cặp ui…

    Đặc sản Quãng Ngãi qua ca dao tục ngữ

    Hình ảnh này là dòng Sông Trà Khúc vào mùa hè và Ngọn Núi Ấn. Trên Ngọn Núi này có Chùa Thiên Ấn nỗi tiếng nhất ở Quảng Ngãi và có Mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trên tuyến đường này sẽ đi đến được Khu Chứng Tích Sơn Mỹ – Bãi Biển Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh.

    Chim mía Xuân Phổ

    Cá Bống Sông Trà

    Kẹo Gương Thu Xà

    Mạch Nha Mộ Đức

    Chỉ bốn câu vỏn vên 16 chữ, người bình dân đã giới thiệu được cả bốn ăn đặt sản nỗi tiếng của Quảng Ngãi, gắn nó với những địa danh tiêu biểu. Về đặc sản cá bống Sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao khác, như:

    Phải đâu chàng nói mà xiêu

    Tại con cá bống tại niêu nước chè.

    Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm, nhất là bữa cơm có cá bống Sông Trà kho tiêu. Dân gian đã mượn chuyện tình duyên đôi lứa để làm cái “đòn bẩy” để bật lên sức hấp dẫn. Cũng với kiểu như vậy, với Don, một đặc sản bình dân, lại có câu:

    Con gái còn son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ

    Cũng kiếm cho được con vợ bán don

    Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

    Quảng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu ca dao cũng đề cập đến đường mía đặc sản.

    Ở đây mía ngọt đường nhiều

    Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi

    Nước mía trong cũng chẳng thành đường

    Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay

    Cùng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này.

    Mía ngọt tận đọt

    Heo béo tận lông

    Cổ thời mang gông

    Tay cầm lóng mía

    Vừa đi vừa hít

    Cái đít sưng vù

    Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặt sản như đường cát:

    “Thiếp gửi cho chàng,

    một cục đàng rim,

    một tiềm đường cát”,

    Bậu về nhớ ghé Ba La,

    mua cân đường phổi cho ta với mình”.

    Bên cạnh Mạch nha, đường phổi còn có đường phèn:

    “Thơm ngon như món mạch nha,

    Ngọt qua đường phổi,

    thơm qua đường phèn…”

    Cũng có thể kể ngoài đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng:

    “Muốn ăn bánh ít lá gai,

    lấy chống hải đảo sợ dài đường ghe.

    Quế

    Ở rừng thì có đặc sản quế Quảng nỗi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở:

    “Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê,

    lên non tìm quế, quế vế rừng xanh”.

    Quế Trà Bồng cũng vang danh không kém gì mía đường:

    Ai về Quảng Ngãi

    Cho tui gởi ít tiền

    Mua dùm miếng quế lâu niên

    Đêm về trị bệnh khỏi phiền bà con.

    Don

    Don là đặc sản của vùng sông Trà (Quảng Ngãi). Món này có thể ăn với bánh tráng, hoặc xào với hành xúc bánh tráng nướng; ăn kèm ớt xanh, tiêu hành rất dậy vị.

    Khi có dịp qua địa phận Quảng Ngãi, ngang sông Trà Khúc và đặc biệt, qua thôn Vạn Tượng, xã Tư Bình, Sơn Tịnh… làm sao bạn không bị hút tầm mắt vào những tấm biển mộc mạc bên đường: Don.

    Don họ nhuyễn thể hai mảnh, vỏ nửa đen nhạt nửa vàng lợt, hình quả trám, to bằng móng tay út người lớn, dài hơn một phân. Vỏ thường mỏng hơn các loài ốc khác, hai mảnh vỏ chụm vào nhau, ở phía trên mỏng hơn dưới bụng. Ruột don màu phổi bò, pha màu vàng và có những tua hồng bao quanh. Don nằm sâu dưới cát (khoảng 5 phân), mỗi năm chỉ nổi lên một lần, với mực nước ngập khoảng một mét. Cứ từ tháng giêng âm lịch đến cuối mùa hạ, người dân miền đông Quảng Ngãi, nơi con sông Trà đổ ra biển (cửa Đại Cổ Lũy) lại rủ nhau đi nhủi (cào, bắt) don. Thật lạ kỳ, don chỉ sinh ra nơi nước “chè hai” (nước lợ, nước cửa biển), và cũng chỉ có thôn Vạn Tượng là nhiều và ngon nhất.

    Khi nhủi don về, người ta loại bỏ hết rong rêu và các loại ốc hến khác, rồi đem ngâm với nước vo gạo khoảng nửa ngày. Đun sẵn một nồi nước hâm hẩm, một ui nước thì bốn bát don vỏ, thêm một chút muối sống (muối hột). Khi nước sôi bùng lên thì dùng đũa bếp khuấy mạnh và đều cho don há miệng, nhả tất cả chất ngọt làm cho nước don có mùi vị. Gạn nước luộc để riêng, ruột don đãi sạch vỏ. Cho don và nước luộc vào đun sôi một lần nữa. Chuẩn bị các gia vị như ớt xanh, tiêu xay, tỏi, hành, rau thơm…

    Khi ăn, người ta thường húp cả nước lẫn ruột, và ăn kèm bánh tráng gạo. Bánh tráng cũng có hai loại, hoặc nướng để bẻ miếng nhỏ bỏ vào ăn kèm, hoặc bánh tráng một hai nắng, xé nhỏ như sợi mì Quảng, cho một vắt nhỏ vào tô và chan nước. Một tô don chỉ có một muỗng nhỏ ruột, châm một tí nước mắm nguyên chất và rau thơm, hành lá… là có thể thưởng thức một thứ kỳ tuyệt, lạ lùng. Don ngon không phải vì cầu kỳ, đắt tiền, hay vì gắn kết với một kỷ niệm xưa… mà ngon vì thế đất, vì con nước “chè hai” đã làm cho nó ngọt lạ ngọt lùng. Ngoài ra, don còn được xào khô với hành lá xúc bánh tráng nướng, nấu canh với dưa hồng hay nấu cháo với mè…

    Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lắt léo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình trung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:

    Sớm mai anh ngủ dậy

    Anh súc miệng

    Anh rửa mặt

    Anh xách cái rựa quéo

    Anh lên hòn núi Quẹo

    Anh đốn cây củi còng queo

    Anh than với em cha mẹ anh nghèo

    Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum. Tổng cộng : lần thực hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Nói Hay Về Tình Cảm Vk Chồng, Mặn Nồng Tình Nghĩa
  • 99 Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Khó Đoán Trước Khi Vào Đời Bạn Cần Biết
  • Fast And Furious 8: Thêm Một Chút Là Thừa, Bớt Một Chút Lại Thiếu, Như Thế Này Vừa Đủ
  • Tin Nhắn 8/3, Sms 8/3 Hay Nhất Chúc Mừng Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 2022
  • Những Câu Nói Hay Về Ngành Y
  • Vài Câu Ca Dao Quảng Ngãi (Sưu Tầm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Dân Gian Quảng Trị
  • Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam
  • Đô Thị Cổ Hội An
  • Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru
  • Rừng Trong Văn Học Việt Nam
  • Bao giờ núi Ấn hết tranh

    Sông Trà hết nước anh đành xa em

    Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh

    Liều mình lén mẹ theo anh phen này

    Sớm mơi xuống Quán Cơm em thấy hòn núi Hó

    Chiều qua Đồng Có em thấy hòn núi Tròn

    Về nhà than với chồng con

    Ra đi gan nát dạ mòn vì đâu

    Ai về núi Ấn sông Trà

    Có thương cô bậu ghé nhà mà thăm

    Sông Trà sát núi Long Đầu

    Nước kia chảy mãi rồng chầu ngày xưa

    Núi Long Đầu lưu danh hậu thế

    Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng

    Ai về xứ Quảng cho nàng về theo

    Ai về núi Bút, Quán Đàng

    Núi bao nhiều đá dạ thương chàng bấy nhiêu

    Ba La, Vạn Tượng, Cầu Mông

    Chạy quanh chạy quéo cũng về đồng Ba La

    Ai về Cỗ Lũy cô thôn

    Nước sông Trà Khúc sóng dồn lăn tăn

    Ai về quê ấy Nghĩa An

    Ghé thăm phong cảnh Chùa Hang, Bàn Cờ

    Tư Nghĩa, Cửa Đại là đây

    Gành Hàu, núi Quế đá xây nên chùa

    Dưới thời bông súng nở đua

    Ngó lên trên chùa đá dựng kiểng giăng

    Ngó qua bên xóm Trường An

    Ngó xuống hòn Sụp cát vàng soi gương

    Sơn Tịnh có núi Chân Trâu

    Có bàu ông Xá, có cầu Rừng Xanh

    Bao giờ rừng Thủ hết gai

    Sông Trà hết nước mới sai lời nguyền

    Tai nghe anh lấy vợ Ba La

    Ruột đau từng chặng, nước mắt ra từng luồng

    Ba La đất tốt trồng hành

    Đã xinh con gái lại lành con trai

    Vạn Tượng những chông, những gai

    Con gái mốc thích con trai đen sì

    Hỡi cô thắt lưng bao xanh

    Có về Ân Phú với anh thì về

    Ân Phú có ruộng tứ bề

    Có sông tắm mát, có nghề mạch nha

    Hỏi thăm qua chú bán quynh

    Thấy ngoài Bến Ván, Trì Bình gặt chưa?

    Bến Ván bán tới Quán Cơm

    Gặt chưa không biết, thấy hai cây rơm ú ù

    Cò bắt lươn cò trườn xuống cỏ

    Lươn bắt cò cò bỏ cò bay

    Từ ngày xa bạn đến nay

    Đêm đêm tưởng nhớ, ngày ngày trông luôn

    Kể từ Cầu Ván, Ao Vuông

    Bước qua Quán Ốc lòng buồn lụy sa

    Quán Cơm nào quán nào nhà

    Ngóng ra Trà Khúc trời đà rạng đông

    Buồn lòng đứng dựa ngồi trông

    Ngó vô Hàng Rượu mà không thấy chàng

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

    Phải đâu chàng nói mà xiêu

    Tại con cá bống tại niêu nước chè

    Chim mía Xuân Phổ

    Cá bống sông Trà

    Kẹo gương Thu Xà

    Mạch nha Mộ Đức

    Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh Sơn Tịnh

    Cô gái lòng son

    Không bằng tô don Vạn Tượng

    Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ

    Cũng cưới cho được con vợ bán don

    Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

    Sơn Tịnh đường đinh

    Sa Huỳnh muối trắng

    Bậu về nhớ ghé Ba La

    Mua cân đường phổi cho ta với mình

    Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ

    Khoai lang dưới Trảng, gạo thì Đường Trung

    Ai về Cỗ Lũy, Xóm Câu

    Nhớ mua đôi chiếu đón dâu về làng

    Gái Thanh Khiết giỏi nghề cải giá

    Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu

    Bao giờ Thiên Mã sang sông

    Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu

    Mía ngọt tận đọt

    Heo béo tận lông

    Cổ thời mang sông

    Tay cầm lóng mía

    Vừa đi vừa hít

    Cái đít sưng vù

    Sông Trà Khúc ai mà tát cạn

    Rừng Trà Bồng ai đẵn hết cây

    Anh mà đi với thằng Tây

    Em đành phải dứt hết dây nghĩa tình

    Ai về Sơn Tịnh quê ta

    Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng

    Tiếng đồn du kích Tịnh Khê

    Lính đi mất xác, quan về mất lon

    Ai về Cổ Lũy Cô Thôn

    Quê ta Quảng Ngãi mồ chôn quân thù

    Chèo ghe xuống Trạm múc dầu

    Hỏi thăm chú lái nhức đầu khá chưa

    Chưa khá tui bẻ nồi lá cho xông

    Mồ hôi tui quạt, ngọn gió lồng tui che

    Con mèo trèo lên tấm vách

    Con chó dưới ngạch ấm ách chó tru

    Thương anh kẻ oán người thù

    Lên chùa Thiên Ấn mà tu cho rồi

    Chẻ tre bện sáo ngăn sông

    Đến khi đó vợ đây chồng mới hay

    Chẻ tre bện sáo cho dày

    Ngăn sông Trà Khúc đợi ngày gặp em

    Qua chùa núi Hó thắp bó nhang vàng

    Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa

    Trông trời chẳng thấy trời mưa

    Rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về

    Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê

    Lên non tìm quế, quế về rừng xanh

    Trách ai treo ngọn thắt ngành

    Cho chàng xa thiếp cho anh xa nàng

    Nhà em có bụi mía mưng

    Có con chó dữ, anh đừng lại qua

    Qua lại chi cho nàng mang tiếng

    Rước khách qua đường sớm viếng chiều thăm

    Mía sâu có đốt

    Nhà dột có nơi

    Tui thấy vui tui mới đến chơi

    Ai ve các chị mà làm hơi quá chừng

    Lên non tìm quế, ra Huế tìm chồng

    Đến đây tìm bạn ruột bầm như dưa

    Làm vầy đã thắm tình chưa

    Một mình em đứng giữa mưa em chờ

    Ba năm quế gãy còn cành

    Bình hương tan nát, miếng sành còn thơm

    Nhà bà có ngọn mía mưng

    Có cô gái út mà ưng ông già

    Trồng trầu tưới nước cho vông

    Cảm thương cây quế đứng trông một mình

    Em nguyền cùng anh một miếng tóc mai

    Trước chùa Quan Thánh, nghe lời ai anh bỏ nàng

    Thương tằm cởi áo bọc dâu

    Tưởng người có nghĩa hay đâu bạc tình

    Nghèo nghèo nợ nợ lấy cô vợ bán don

    Lỡ mai có chết cũng còn cặp ui…

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà, dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    Nguồn: Quangngai.net

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Nam Qua Ca Dao
  • Phật Giáo Việt Nam Qua Phong Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Đồng Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Vn Mang Màu Sắc Phật Giáo
  • Ca Dao Miền Biển Phú Yên
  • Văn Nghệ (Bậc Hướng Thiện): Ca Dao, Tục Ngữ Về Hiếu Nghĩa, Đạo Pháp, Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

    Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

    *Trăm năm tích đức tu hành

    Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

    * Ai đi Yên Tử cùng anh

    Khói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

    * Nào ai quyết chí tu hành

    Hãy về Yên Tử mới đành làm tu.

    *Lần theo dấu tích ngàn xưa

    Bảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

    * Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm

    Ai chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

    *Miếu Đức Ông là nơi Cửa Suốt

    Khách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

    * Bao giờ sấm chớp Chùa Lôi

    Con ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

    * Mồng bảy hội miếu Tiên Công

    Dưới là đánh vật trên rồng phi bay.

    Đêm thì hát đúm vui thay

    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

    *Chùa Quỳnh vui lắm ai ơi

    Trốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

    * Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồng

    Muốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

    Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

    * Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

    * Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu

    Da dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Má hồng để lại, má xanh mang về.

    *Ai đi Uông Bí, Quảng Hồng

    Có đoàn vệ quốc dân công qua đèo

    Ai về cho ta về theo

    Có sông cũng lội , có đèo cũng qua.

    *Sông sâu còn có kẻ dò

    Tội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

    * Đào than cho nó làm giàu

    Xúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

    * ở quê cái khổ bám theo

    Ra mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

    * Đau đẻ cũng phải xúc than

    Đẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

    *Lầm than cực khổ thế này

    Xúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

    *Khi xưa nghe tiếng còi tầm

    Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

    * Thẻ tôi lĩnh có hai đồng

    Ông cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

    *Cây mắm cò quăm

    Cây sú cù queo

    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

    Ăn cơm với cá mòi he

    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

    * Ai ra Cẩm Phả mà xem

    Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì

    Đã làm cái kiếp cu li

    Còn gì là đẹp còn gì là vui.

    * Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

    Ai ơi, đứng lại mà trông

    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

    Việc gì mà rủ nhau ra

    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    * Ai về Yên Dưỡng, Hoành Mô

    Mà xem quân lính cụ Hồ sang sông

    Đêm ngày mải mê chiến công

    Thoáng nom như có cả chồng em kia.

    * Thuyền than mà đậu bến than

    Thương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.

    * Thuyền than đậu bến đen sì

    Anh không ra mỏ lấy gì em ăn.

    Ca dao tục ngữ giao duyên

    * Ai về chợ huyện Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Đặc Sản Quảng Ngãi Qua Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Châm Ngôn “quá Chuẩn” Của 12 Cung Hoàng Đạo
  • 12 Câu Châm Ngôn Thâm Thúy Của Người Nhật Khiến Bạn Thay Đổi Cách Nhìn Trong Cuộc Sống
  • Câu Châm Ngôn Của Phật Tử
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Phản Bội Trong Tình Yêu, Tình Bạn
  • 40 Câu Châm Ngôn Hay Dạy Bạn Cách Làm Người
  • Đặc sản Quảng Ngãi qua ca dao – tục ngữ

    (Quê Hương Tôi)

    Hình ảnh này là dòng Sông Trà Khúc vào mùa hè và Ngọn Núi Ấn. Trên Ngọn Núi này có Chùa Thiên Ấn nỗi tiếng nhất ở Quảng Ngãi và có Mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trên tuyến đường này sẽ đi đến được Khu Chứng Tích Sơn Mỹ – Bãi Biển Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh.

    Chim mía Xuân Phổ

    Cá Bống Sông Trà

    Kẹo Gương Thu Xà

    Mạch Nha Mộ Đức

    Chỉ bốn câu vỏn vên 16 chữ, người bình dân đã giới thiệu được cả bốn ăn đặt sản nỗi tiếng của Quảng Ngãi, gắn nó với những địa danh tiêu biểu. Về đặc sản cá bống Sông Trà, có thể kể đến những câu ca dao khác, như:

    Phải đâu chàng nói mà xiêu

    Tại con cá bống tại niêu nước chè.

    Nước chè lá Minh Long sắc đặc phải nói là rất ngon sau mỗi bữa cơm, nhất là bữa cơm có cá bống Sông Trà kho tiêu. Dân gian đã mượn chuyện tình duyên đôi lứa để làm cái “đòn bẩy” để bật lên sức hấp dẫn. Cũng với kiểu như vậy, với Don, một đặc sản bình dân, lại có câu:

    Con gái còn son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Nghèo thì nghèo, nợ thì nợ

    Cũng kiếm cho được con vợ bán don

    Mai sau nó chết cũng còn cặp ui

    Quảng Ngãi là xứ mía đường, nên dễ hiểu ca dao cũng đề cập đến đường mía đặc sản.

    Ở đây mía ngọt đường nhiều

    Tìm trai xứ Quảng mà yêu cho rồi

    Nước mía trong cũng chẳng thành đường

    Anh thương em thì anh biết chớ thói thường ai hay

    Cùng cần biết xưa kia có nơi đặt ra lệ phạt người bẻ trộm mía để ăn, nên mới có cái hoạt cảnh khôi hài này.

    Mía ngọt tận đọt

    Heo béo tận lông

    Cổ thời mang gông

    Tay cầm lóng mía

    Vừa đi vừa hít

    Cái đít sưng vù

    Chuyện mía lan sang chuyện đường với nhiều loại đường đặt sản như đường cát:

    “Thiếp gửi cho chàng,

    một cục đàng rim,

    một tiềm đường cát”,

    Bậu về nhớ ghé Ba La,

    mua cân đường phổi cho ta với mình”.

    Bên cạnh Mạch nha, đường phổi còn có đường phèn:

    “Thơm ngon như món mạch nha,

    Ngọt qua đường phổi,

    thơm qua đường phèn…”

    Cũng có thể kể ngoài đảo Lý Sơn còn có bánh ít lá gai nổi tiếng:

    “Muốn ăn bánh ít lá gai,

    lấy chống hải đảo sợ dài đường ghe.

    Quế

    Ở rừng thì có đặc sản quế Quảng nỗi tiếng ở Trà Bồng, song lại gắn với ý niệm xa xôi, cách trở:

    “Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê,

    lên non tìm quế, quế vế rừng xanh”.

    Quế Trà Bồng cũng vang danh không kém gì mía đường:

    Ai về Quảng Ngãi

    Cho tui gởi ít tiền

    Mua dùm miếng quế lâu niên

    Đêm về trị bệnh khỏi phiền bà con.

    Don

    Don là đặc sản của vùng sông Trà (Quảng Ngãi). Món này có thể ăn với bánh tráng, hoặc xào với hành xúc bánh tráng nướng; ăn kèm ớt xanh, tiêu hành rất dậy vị.

    Khi có dịp qua địa phận Quảng Ngãi, ngang sông Trà Khúc và đặc biệt, qua thôn Vạn Tượng, xã Tư Bình, Sơn Tịnh… làm sao bạn không bị hút tầm mắt vào những tấm biển mộc mạc bên đường: Don.

    Don họ nhuyễn thể hai mảnh, vỏ nửa đen nhạt nửa vàng lợt, hình quả trám, to bằng móng tay út người lớn, dài hơn một phân. Vỏ thường mỏng hơn các loài ốc khác, hai mảnh vỏ chụm vào nhau, ở phía trên mỏng hơn dưới bụng. Ruột don màu phổi bò, pha màu vàng và có những tua hồng bao quanh. Don nằm sâu dưới cát (khoảng 5 phân), mỗi năm chỉ nổi lên một lần, với mực nước ngập khoảng một mét. Cứ từ tháng giêng âm lịch đến cuối mùa hạ, người dân miền đông Quảng Ngãi, nơi con sông Trà đổ ra biển (cửa Đại Cổ Lũy) lại rủ nhau đi nhủi (cào, bắt) don. Thật lạ kỳ, don chỉ sinh ra nơi nước “chè hai” (nước lợ, nước cửa biển), và cũng chỉ có thôn Vạn Tượng là nhiều và ngon nhất.

    Khi nhủi don về, người ta loại bỏ hết rong rêu và các loại ốc hến khác, rồi đem ngâm với nước vo gạo khoảng nửa ngày. Đun sẵn một nồi nước hâm hẩm, một ui nước thì bốn bát don vỏ, thêm một chút muối sống (muối hột). Khi nước sôi bùng lên thì dùng đũa bếp khuấy mạnh và đều cho don há miệng, nhả tất cả chất ngọt làm cho nước don có mùi vị. Gạn nước luộc để riêng, ruột don đãi sạch vỏ. Cho don và nước luộc vào đun sôi một lần nữa. Chuẩn bị các gia vị như ớt xanh, tiêu xay, tỏi, hành, rau thơm…

    Khi ăn, người ta thường húp cả nước lẫn ruột, và ăn kèm bánh tráng gạo. Bánh tráng cũng có hai loại, hoặc nướng để bẻ miếng nhỏ bỏ vào ăn kèm, hoặc bánh tráng một hai nắng, xé nhỏ như sợi mì Quảng, cho một vắt nhỏ vào tô và chan nước. Một tô don chỉ có một muỗng nhỏ ruột, châm một tí nước mắm nguyên chất và rau thơm, hành lá… là có thể thưởng thức một thứ kỳ tuyệt, lạ lùng. Don ngon không phải vì cầu kỳ, đắt tiền, hay vì gắn kết với một kỷ niệm xưa… mà ngon vì thế đất, vì con nước “chè hai” đã làm cho nó ngọt lạ ngọt lùng. Ngoài ra, don còn được xào khô với hành lá xúc bánh tráng nướng, nấu canh với dưa hồng hay nấu cháo với mè…

    Một chút chua chát, người dân kể chuyện tình lắt léo trắc trở do không môn đăng hộ đối mà vô hình trung lại giới thiệu được cái giá trị của đặc sản mắm nhum:

    Sớm mai anh ngủ dậy

    Anh súc miệng

    Anh rửa mặt

    Anh xách cái rựa quéo

    Anh lên hòn núi Quẹo

    Anh đốn cây củi còng queo

    Anh than với em cha mẹ anh nghèo

    Đôi đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum.

    Mắm Nhum

    Nhum sống ở những gành đá ven bờ biển từ Bình Định đến Quảng Ngãi. Thịt nhum có thể kho để ăn cơm, trộn trứng chưng cách thủỵ.., nhưng ngon nhất là làm mắm. Mắm nhum sền sệt, mầu đỏ đục, thơm lựng, từng là đặc sản tiến vua xưa của người dân Quảng Ngãi.

    Nhum là một động vật thuộc loại nhuyễn thể, có họ hàng với trai, sò; sống ở những gành đá ven bờ biển nước ấm, lẫn trong rong rêu.

    Khi nhỏ, con nhum tựa trái chôm chôm, mầu đen thẫm. Khi lớn có hình tròn dẹt, đường kính khoảng 8 – 10cm; dày 3 – 4cm. Có thể nhận ra chúng trong đám rong rêu vì thân nhum có nhiều gai, giương ra khỏi lớp vỏ để tự vệ.

    Vùng biển có nhiều nhum kép kéo dài từ vĩ Phú Quốc đến Quảng Ngãi, nhiều nhất là ở các gành đá ven biển và hải đảo gần bờ từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Dung Quất, cù lao Lý Sơn (Quảng Ngãi). Mùa sinh sản của nhum và cũng là mùa đánh bắt chúng, bắt đầu từ tiết xuân phân và kết thúc vào tiết lập thu.

    Người tìm nhum lặn theo các gành đá. Khi thấy nhum, họ dùng chiếc móc sắt giật khẽ chúng về phía mình, rồi nhặt bỏ vào bao. Cái khó là không được khua động mạnh, nếu không nhum sẽ “bắn gai” vào tay người rồi bám chặt vào vách đá.

    Bắt nhum về, người ta rửa sạch rong rêu rồi dùng một thanh tre mảnh nạo thịt ra khỏi vỏ. Thịt nhum kết thành 5 hoặc 8 múi, mầu hồng phớt, có thể kho để ăn cơm, hoặc trộn vào trứng để chưng cách thủy, tráng chả. Tuy nhiên ngon nhất là đem làm mắm, món mắm nhum độc đáo, đậm đà hương vị biển. Nhum có nhiều loại, nhưng chỉ có “nhum ta” nhỏ, thịt chắc, mầu đỏ thẫm ngả sang đen mới có thể dùng làm mắm. Nhum ta sống nhiều ở ven biển Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) và một ít ở Hoài Nhơn (Bình Định) nên mắm nhum là đặc sản của cư dân hai bên mỏm biển vùng này.

    Để làm mắm, người ta cho thịt nhum vào chum sành, rắc một ít muối hạt lên trên, rồi đem vùi vào bếp tro hoặc “giang” ngoài nắng từ 10 đến 15 ngày. Mắm nhum chín, sền sệt, mầu đỏ đục như mắm sò Hải Vân, thơm rưng rức. Mặn, chua, ngọt lẫn vào trong hương vị riêng của thịt nhum, tạo thành một thứ mắm đầy quyến rũ. Mắm nhum ăn với bún tươi rất ngon. Nhưng ngon nhất là chấm thịt heo ba rọi kèm rau sống cuốn bánh tráng.

    Sản lượng nhum đánh bắt không nhiều, nhum ta – nguyên liệu để làm mắm – lại càng ít. Người ta làm mắm nhum chỉ để dùng trong gia đình và làm quà cho người thân, bạn bè. Lượng mắm nhum bán ra rất ít ỏi và thường chỉ dành cho khách đã đặt từ trước.

    Dưới triều Nguyễn, mắm nhum là một trong những sản vật tiến vua hằng năm. Đại Nam nhất thống chí – quyển 8 (tỉnh Quảng Ngãi) mục thổ sản, chép: “Mắm nhum – sản vật ở các đảo ngoài biển, khoảng đời Minh Mạng đặt “hộ” mắm nhum 5 người, mỗi năm phải nộp 12 cân mắm…” Nghĩa Sâm (sâm miền núi Quảng Ngãi nay đã tuyệt giống) và mắm nhum là hai thổ sản ở Quảng Ngãi triều đình đặt “hộ” và bắt buộc phải cống bằng vật, không được dùng tiền để thay.

    Vì lẽ này, mắm nhum còn được gọi là “mắm tiền”.

    Xứ Quảng cũng như các nơi khác của “Miền Trung xứ dân gầy” luôn luôn phải đối đầu với thiên tai bão lụt ít nhất cũng 5 tháng trong một năm:

    Tháng bảy nước nhảy vô bờ

    hoặc

    Ông tha mà bà chẳng tha

    Đồng kia chưa ráo đã lụt hăm ba tháng mười

    (Trích đăng từ nhiều nguồn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Chế Hài Hước Tình Yêu
  • #99 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay ❤️
  • Lời Cảm Ơn: Sinh Nhật, Đám Cưới, Email Bằng Tiếng Anh
  • Những Lời Cảm Ơn, Câu Cảm Ơn Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Viết Status Facebook Siêu Chất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 40 Stt Vui Vẻ Về Cuộc Sống, Về Tình Bạn, Tình Yêu Ai Cũng Nên Đọc
  • Top Stt Tình Yêu Hạnh Phúc Hay Và Lãng Mạng Nhất 2022
  • Tổng Hợp Châm Ngôn Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Anh Em Xã Hội Càng Độc Càng Thấm
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Hay Nhất Cho Bố Mẹ, Bạn Bè, Người Yêu
  • 1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm

    Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say

    Bạn về đừng ngủ gác tay

    Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo

    2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo

    Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết…

    3- Học trò trong Quảng ra thi

    Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

    4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu

    Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai,

    Ðể sầu cho khách vãng lai,

    Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

    5- Thương nhau chớ quá e dè,

    Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be.

    Thiếp nói thì chàng phải nghe

    Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu

    Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo

    Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,

    Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,

    Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau

    Lạy trời, mưa xuống cho mau

    Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng

    6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa

    Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần

    7- Chiều chiều mây phủ ải vân

    Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

    8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà

    Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm

    9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông

    Thấy nước xanh như tàu lá,

    Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn

    Thấy phố xá nghinh ngang

    Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,

    Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu.

    Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,

    Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh

    10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

    11- Ai đi cách trở sơn khê

    Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng

    12- Hội An đất hẹp, người đông

    Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

    13- Hội An bán gấm, bán điều

    Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

    -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều

    Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

    15- Chồng em là lái buôn tiêu

    Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng

    -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe

    Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.

    17- Nem chả Hòa Vang

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Tiên Ðỏa

    Thơm rượu Tam Kỳ

    Ai đi cách trở sơn khê,

    Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng .

    Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất.

    18.- Hội An đất hẹp, người đông ,

    Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu .

    Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây.

    19.- Hội An bán gấm, bán điêù

    Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành .

    Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An.

    20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào,

    Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công,

    Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân

    Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc.

    21.- Năm hòn nằm đó không sai,

    Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui,

    Ngó về Cửa Ðại, than ôi,

    Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình.

    Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác .

    22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng,

    Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ

    . Quay tơ vẫn giữ mối tơ,

    Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh .

    Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng.

    23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn,

    Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên.

    Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực giữa 2 miền,trong muà mưa gió .

    24- Lụt nguồn trôi trái lòn bon ,

    Cha thác, mẹ còn ,con chịu mồ côi .

    Mồ côi ba thứ mồ côi.

    Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường

    Lòn bon là môt loại trái cây,ngọt, sản xuất tại vùng núi huyện Ðại lộc, muà mưa lụt, nước lụt kéo trôi trái lón bon, mồ côi cha không quan trọng bằng mồ côi mẹ, vì bà mẹ biết lo cho gia đình, tuy mồ côi cha,nhưng nhờ mẹ mà nhà có trâu và nhà gỗ.

    25- Trà My sông núi đượm tình,

    Nơi đây là chỗ Thượng Kinh chan hoà.

    Trà My là một huyện miền Thượng tỉnh Quảng Nam,có cả Thượng Kinh chung sống.

    26.- Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt ,

    Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,

    Phân du, bạch chỉ rành rành ,

    Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân.

    Trà My là huyện chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

    27- Gập ghềnh Giảm thọ , Ðèo Le .

    Cu ngói cõng mè, cà cưỡng cõng khoai.

    Dốc Giảm thọ và Ðèo Le là 2 cao độ đi lên huyện lỵ Quế Sơn, trèo qua 2 đèo nầy thì chắc giảm thọ và mệt le lươĩ.

    28.-Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông.

    Thấy nước xanh như tàu lá,

    Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn ,

    Thấy phố xá nghinh ngang

    Kể từ ngày Tây lại đất Hàn ,

    Ðào sông Câu Nhí, tìm vàng Bông Miêu ,

    Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu,

    Ở nuôi Thầy, Mẹ, sớm chiều cũng có Anh .

    Hàn tức là tên cũ cuả Ðà nẵng, Hà Thân là xã ở bên kia sông, Tây tức là người Pháp, sông Câu Nhí là sông do người Pháp lúc mới cai trị Ðànẵng cho đào chạy qua cầu Cẩm Lệ, chàng dặn dò người yêu cố gắng ở với cha mẹ,chờ chàng về.

    29.- Kể từ đồn Nhứt kể vô,

    Liên Chiêủ, Thuỹ Tú, Nam Ô , xuống Hàn,

    Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang .

    Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra.

    Ngó lên chợ Tổng bao xa,

    Bước qua Phú Thượng, Ðai la, Cồn Dầøu

    Cẩm Sa, Chơ Vãi, Câu Lâu.

    Ngó lên đường cái, thấy cầu Giáp Năm.

    Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm ,

    Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ .

    Ðồn Nhứt là đồn gác số 1 đóng trên đèo Hải Vân và từ đó kể vào toàn là những địa danh cho đến huyện Ðiện Bàn.

    31.- Thương nhau chớ quá e dè,

    Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be .

    Thiếp nói thì chàng phải nghe,

    Thức khuya, dậy sớm, làm che l ngày 12 xu,

    Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo ,

    Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,

    Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,

    Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau,

    Lạy trời, mưa xuống cho mau.

    Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng

    32- Quế Trà My thứ cay thứ ngọt

    Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh

    Phàn du, bạch chỉ rành rành

    Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

    33- Kể từ Ðồn Nhất kể vô

    Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn

    Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang

    Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra

    Ngó lên chợ Tổng bao xa

    Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu

    Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu

    Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp Năm

    Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm,

    Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

    34- Đá than thì ở Nông Sơn

    Bông Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè

    Thanh Châu buôn bán nghề ghe

    Thanh Hà vôi ngói, mía che Đa Hoà

    Phú Bông dệt lụa, dệt sa

    Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng

    35- Nhớ cô dệt đũi chợ Chùa

    Rượu ngon chợ Vạn bốn mùa anh say

    36- Phú Lộc ngan ngát hương thơm

    Ai đi đến đó chiều hôm quên về

    37- Nhất Phước Kiều đám ma

    Nhì Thanh Hà nhà cháy

    38- Ai về Chợ Vạn thì về

    Chợ Vạn có nghề nấu rượu, nuôi heo

    39Ai về Bàu Ấu thì về

    Bầu Ấu có nghề đan giỏ, cào nghêu

    Ai về Trà Quế mà coi

    Trà Quế có nghề giâm giá đậu xanh

    40- Bảo An có thợ nấu đường

    Vừa vôi, thén khéo chẳng nhường nhịn ai

    -41 Quê em có núi Ngũ Hành

    Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.

    42- Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

    Thương cha nhớ mẹ thì về

    Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Về Mùa Xuân Hay Nhất
  • Tuyển Tập Stt Hay Khi Nhớ Người Yêu Cũ, Người Em Từng Thương Rất Nhiều
  • Top Những Stt Ngắn Cực Đểu Và Bựa Về Tình Yêu, Tình Bạn Và Cuộc Sống
  • Stt Hay Về Cà Phê, Câu Nói Hay Về Cafe Và Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Và Stt Tháng 10 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Bạn Nên Đọc
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Quảng Bình là một tỉnh có đặc điểm sinh thái đa dạng: biển, rừng, đồng bằng đã tạo cho vùng đất này có nhiều cảnh quan tươi đẹp: vừa hùng vĩ vừa nên thơ, nhiều sản vật độc đáo phong phú, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển cả ba đặc trưng văn hoá: văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển.

    Trước hết, điều kiện địa lí và môi trường tự nhiên đóng vai trò quan trọng để hình thành nên phẩm chất con người Quảng Bình. Đồng bằng nhỏ hẹp, núi non hiểm trở, nắng nóng, mưa nhiều, thiên tai…Ở Quảng Bình khi nói tới việc cách trở, khó khăn về mặt không gian, nhân dân thường dùng hình ảnh “truông”. Truông là một đặc điểm địa chất của vùng đất này. Truông là một nơi khó qua lại:

    Eo truông cách trở khó qua, Tam Đa là một, Đại Hoà là hai.

    Về mặt lịch sử, xã hội, trong quá khứ, Quảng Bình là khu vực chiến tranh, nội chiến, bị phân ranh, chia cắt. Khi cuộc nội chiến Trịnh -Nguyễn nổ ra, sông Gianh trở thành giới tuyến phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đi qua nơi đây như thử thách lòng dũng cảm, trí thông minh của con người:

    Khôn ngoan qua cửa Thanh Hà, Đố ai có cánh bay qua luỹ Thầy.

    Cửa Thanh Hà là cửa sông Gianh, Luỹ Thầy là thành luỹ do Đào Duy Từ xây dựng ở Đồng Hới để phòng thủ ngăn chặn hướng tiến công của quân Đàng Ngoài: ” Thứ nhất thì sợ luỹ Thầy, Thứ nhì sợ lầy Võ Xá”.

    Môi trường khắc nghiệt rèn luyện cho con người Quảng Bình nhiều đức tính quý báu: lao động cần cù, chịu đựng gian khổ. Bên cạnh đó, sự thâm nghiêm của núi rừng, sự hùng vĩ của biển cả tạo cho con người nơi đây khí chất khẳng khái, mạnh mẽ. Dấu ấn thiên nhiên in dấu lên tâm hồn họ, tạo cho họ tính cách vừa hào phóng lại vừa khắt khe, vừa âu lo lại vừa hồn nhiên…Trong quá trình dựng nước, Quảng Bình là tỉnh có một số phận lịch sử khá đặc biệt. Thời cổ đại, đây là nơi diễn ra các cuộc chiến giữa Âu Lạc và Lâm Ấp chống Trung Hoa. Thời trung đại, là mảnh đất giao tranh của Chăm và Việt, của Đàng trong và Đàng ngoài. Về sau này là mảnh đất chịu nhiều bom đạm của giặc Pháp, giặc Mỹ. Đau thương và gian khó đã thấm vào từng tấc đất và con người nơi đây. Hoàn cảnh ấy khiến cho con người Quảng Bình có một khả năng đối phó cao, một tinh thần yêu nước và một ý chí sắt đá.

    Lễ hội cầu ngư

    Một nhân tố cuối cùng tác động lên sự hình thành phẩm chất con người Quảng Bình đó là môi trường văn hoá. Quảng Bình là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hoá khác nhau: văn hoá Đàng Trong, Đàng Ngoài, văn hoá Phú Xuân, văn hoá Trung Hoa, văn hoá Chăm Pa…Tính chất pha trộn này hình thành nên tính cách dễ hoà nhập của con người nơi đây.

    Nhân dân Quảng Bình từ xưa đã có truyền thống hiếu học và học giỏi. Có thể kể số tên tuổi tiêu biểu như: học giả Dương Văn An, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Phạm Tuân, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử… Nhiều làng quê văn vật có từ lâu đời như: Sơn – Hà – Cảnh – Thổ / Văn – Võ – Cổ – Kim. Nơi đây dồn tụ được khí thiêng sông núi để rồi sản sinh ra những danh nhân, những anh hùng của vùng đất “địa linh nhân kiệt”:

    Chữ rằng nhân kiệt địa linh, Đất chung khí tốt mới sinh anh hiền.

    Tín ngưỡng của người Việt ở Quảng Bình là tín ngưỡng đa thần. Chất âm tính của văn hoá nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ và tín ngưỡng Nữ thần chiếm ưu thế:

    Bà vô mười bảy tháng tư,

    Vạn lo lập lễ cầu ngư lưới nghề .

    Thần linh dù được thờ ở đình làng hay các đền, các miếu đều được nhân dân và chính quyền hương thôn chăm lo, nhắc nhở nhau thờ phụng quanh năm:

    Chớ thấy miếu rách bỏ thờ, Bỏ miếu không thờ tội lắm ai ơi.

    Tục thờ vong linh ở Quảng Bình là thờ linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia đình. Ca dao Quảng Bình có câu:

    Đạp xe lấy nước lên đồng, Lập lăng thờ mẹ ẵm bồng khi xưa.

    Lễ hội mang tính chất tâm linh, giải trí nhưng chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc. Ở Quảng Bình có hội bơi trải trên sông Nhật Lệ và sông Kiến Giang theo lệ ” lục niên canh độ “:

    Kẻ Giàu có quán Đình Thanh, Kẻ Hạc ta có ba đình ba voi. Mười tám kéo thuyền xuống bơi, Mười chín giã bánh, hai mươi rước thần.

    Bên cạnh lễ hội bơi thuyền ở đây còn có nhiều sinh hoạt văn hoá khác:

    Người về nhớ trống Kẻ Sen Nhớ chuông Kẻ Hạc nhớ kèn Thiệu Yên

    Bài chòi là một trò chơi văn nghệ. Để động viên, cổ vũ, khích lệ tinh thần người ta đặt lời vận động chơi bài chòi:

    Đầu năm bói toán đâu xa, Bài chòi một hội biết là rủi may.

    Người Quảng Bình qua nhiều thế hệ đã hình thành nên phong tục ăn, mặc mang đậm dấu ấn của mảnh đất này. Phong tục ẩm thực Quảng Bình đi vào ca dao, tục ngữ: ” Ăn chắc mặc bền”, “Ăn cay uống đắng”, “Ăn ít no lâu, ăn nhiều tức bụng”, …Thức ăn chủ đạo vẫn là rau củ: ” Tối ăn rau đi ngủ, sáng ăn củ đi làm”. Bữa ăn nào có cơm cá đối với họ là một bữa ăn ngon và sang trọng. Người ta khuyên bảo nhau cách ứng xử: ” Ăn nhai, nói kĩ”, “Ăn bớt đọi, nói bớt lời”, “Đừng ăn cháo đá bát”, “Đừng bao giờ ăn gian nói dối”, …Ăn phải biết lo toan, tính toán: ” Ăn củ môn bữa mai, để củ khoai bữa mốt”. Ăn bao giờ cũng gắn liền với làm, ăn để mà làm, “ăn làm” chứ không phải “ăn chơi”: ” Ăn cơm cho no, chèo đò Phú Trịch”, hay:

    Muốn ăn mật vô rú Trèn, Muốn xơi ốc đực phải lên thác Đài.

    Món ăn thể hiện bức tranh sản vật của vùng quê, là sản phẩm của quá trình lao động. Món ăn trở thành đặc sản của mỗi vùng quê Quảng Bình:

    Ai lên Tuy đợi thì lên, Bún thịt chợ Tréo chớ quên mang về.

    Món ăn trở thành niềm tự hào, thành nỗi nhớ của người con khi đi xa:

    Mặt trời đã gác ngọn chông, Đi mô cũng nhớ nồi hông cơm bồi.

    Chế biến món ăn là cả một công trình nghệ thuật. Tục ngữ Quảng Bình nói đến nghệ thuật nấu nướng: ” Cá bống kho tiêu, Cá thiều kho ngọt. Nghệ thuật chế biến thức ăn của nhân dân Quảng Bình chủ yếu thể hiện ở các món ăn chế biến từ cá. Có lẽ đây là do sở thích và thói quen ăn uống của họ:

    – Cá dở thì hấp hành tươi, Cá ngứa thêm nấm, cá buôi thêm ngò. – Cá thiều mà nấu măng chua, Một chút canh thừa cũng chớ bỏ đi. – Muối mè rang với ruốc khô, Có chết xuống mồ cũng dậy mà ăn.

    Ăn gắn liền với nói, với giao tiếp và ứng xử: ” Ăn đúng bữa, nói lựa lời”, khuyên răn, nhắc nhở nhau khi nói năng cần phải tìm ngôn ngữ đúng đắn, phù hợp. Người ta phê phán những kẻ khi ăn không tưởng đến ai nhưng làm thì nhờ mọi người giúp đỡ: ” Ăn cúi trôốc, đẩy nôốc kêu làng”.

    Trong các ngày Tết thì món ăn của người Quảng Bình là những món ăn truyền thống:

    Tết về câu đối bánh chưng, Chẳng ham giò chả chỉ ưng Ngứa, Xoè.

    Trong ngày Tết, ở Quảng Bình không thiếu hai thứ cổ truyền của dân tộc: ” câu đối đỏ”,”bánh chưng xanh“. Họ không cần những món ngon như giò, chả mà chỉ thích những món bình dân. “Ngứa, xoè” là hai loại cá có nhiều ở vùng biển Quảng Bình. Thức uống của người Quảng Bình là nước chè xanh. Chè xanh là một thứ nước uống bổ dưỡng: ” Nước chè xanh vừa lành vừa mát”. Người Quảng Bình ai cũng biết đến vùng đất chè Tuyên Hoá:

    Ai lên Tuyên Hoá quê mình, Chè xanh mật ngọt thắm tình nước non.

    Cũng có câu ca dao ví sự ngọt mát của nước chè với tình yêu, sự hoà hợp của vợ chồng trong cuộc sống:

    Nước trong pha với chè tàu, Lấy chồng Đồng Phú không giàu cũng vui.

    Trong các bữa cỗ, bữa tiệc, họ còn uống rượu. Uống rượu cũng là dịp để giao tiếp, bày tỏ sự thân tình. Quảng Bình nổi tiếng với: ” Sò nghêu Quán Hàu, Rượu dâu Thuận Lý”.

    Nghề trồng lúa là nghề chủ đạo. Huyện Lệ Thuỷ có cánh đồng màu mỡ, phù sa bồi đắp hàng năm nên được coi là vựa lúa thứ hai của xứ Đàng Trong: ” Thứ nhất Đồng Nai, thứ nhì hai huyện “. Có bài ca dao đã ca ngợi sự trù phú của mảnh đất này:

    Lệ Thuỷ gạo trắng nước trong, Ai về Lệ Thuỷ thong dong con người.

    Một bài ca dao khác cũng ca ngợi sự ấm no nhờ nghề trồng lúa:

    Hoàng Cương ăn tấm cũng no, Đông viên có thóc bán cho Kẻ Hoàng.

    Người Quảng Bình còn biết nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc: “Muốn giàu nuôi cá, Muốn khấm khá nuôi heo”. Họ còn biết tận dụng môi trường tự nhiên để phục vụ nhu cầu cuộc sống: “Trong làng đi tranh đi củi, Ngoài nghề đi dũi đi câu”.

    Quảng Bình với đường bờ biển dài, với nhiều loại tôm cá, cư dân ven biển đã sớm biết khai thác, đánh bắt nguồn hải sản này. Nghề đánh bắt cá sớm trở thành nghề chính ở đây. Họ biết đóng thuyền, thả lưới, vào lộng ra khơi để khai thác món quà mà thiên nhiên ban tặng:

    Tháng bảy nước phảy lên bờ, Sắn rớ, sắm đáy đợi chờ làm ăn.

    Ngoài nghề nông và nghề đi biển, Quảng Bình còn có một số nghề thủ công truyền thống như đan chiếu, làm nón: ” Chiếu cói An Xá, nón lá Quy Hậu”. Bên cạnh đó việc buôn bán cũng rất phát triển. Chợ ở Quảng Bình được biết đến nhiều nhất là chợ Ba Đồn:

    Ba Đồn là chợ xưa nay, Tụ nhân tụ hoá mười ngày một phiên.

    Chợ không chỉ là nơi trao đổi, buôn bán hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu tình cảm :

    Chợ Sạt một tháng ba phiên, Không đi thì nhớ lời nguyền bạn quen.

    Trong đời sống tinh thần, con người sống thiên về tình cảm, quý trọng nề nếp gia phong. Con cái luôn có ý thức chăm lo, phụng dưỡng cha mẹ:

    Ba đồng một khứa cá buôi, Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

    Tình cảm gia đình là thiêng liêng, đặc biệt nhạy cảm là mối quan hệ giữa nàng dâu với mẹ chồng:

    Mẹ già là mẹ của anh, Ăn cơm có cá, có canh rau bầu. Hạt gạo lúa dâu xót hai đầu cho trắng, Tôm phơi một nắng bóc vỏ nấu canh, Múc nước trong xanh để mẹ già tắm mát…

    Đối với quan hệ xã hội, người lớn luôn khiêm nhường trong ứng xử, sống hài hoà, không gây hiềm khích với làng trên xóm dưới:

    Nhịn chắc (nhau) một chút cho xinh Ai sợ chi mình, mình sợ chi ai

    Lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Quảng Bình tuy không ngọt ngào như các vùng khác nhưng nó ẩn chứa sự chân tình, cởi mở. Ngay từ thuở còn thơ cha mẹ đã dạy con cái cách ăn nói sao cho lễ phép: ” Gọi thì dạ, bảo thì vâng”. Hoặc là: ” Nói thì thưa trước, dạ sau”… Cha ông truyền dạy cho con cháu cách ăn ở, nói năng sao cho hoà thuận trong nhà, ngoài ngõ. Dần dần hình thành nên một phong tục trong ứng xử có thể thấy rõ trong câu ca: ” Rây (dây) chùn khó đứt”. Họ coi sự hoà thuận làm yêu cầu đầu tiên trong giao tiếp. Hoà thuận trong lời ăn, tiếng nói để giữ mối quan hệ bằng hữu bền chặt.

    Phong tục tập quán của người Quảng Bình vừa mang dấu ấn đồng bằng nông nghiệp vừa pha trộn với văn hoá núi rừng và biển cả. Ăn thì ham chắc, mặc thì ham bền, ở thì giản dị, giao thiệp thì chân thật và mến khách. Tình cảm chân tình, hiếu nghĩa. Nét đẹp của tín ngưỡng thể hiện ở sự tôn kính, biết ơn. Sống trong khó khăn, chiến tranh nên nghèo khó cứ đeo đẳng con người vùng đất này nhưng họ vẫn không hề nhụt chí, phiền não mà luôn ham sống, yêu đời, chấp nhận thử thách để vượt lên.

    Qua ca dao, tục ngữ, văn hoá dân gian Quảng Bình đã thể hiện một dấu nhấn khá đậm nét của người Việt ở miền Trung, đóng góp một nét phong cách văn hoá của đất này với khu vực văn hoá Bắc miền Trung nói riêng và văn hoá vùng miền Trung nói chung. Đây là một vấn đề nghiên cứu khá thú vị nhưng rất khó khăn. Những gì đã trình bày trong bài viết này là rất nhỏ so với một nền văn hoá Quảng Bình đa dạng. Chắc rằng vào một dịp khác có điều kiện thuận lợi, chúng tôi sẽ đầu tư nghiên cứu kĩ hơn.

    (Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Top Câu Tục Ngữ Mê Tín Dị Đoan Hay Nhất 2022
  • Tiếng Cười Phê Phán Mê Tín Dị Đoan Trong Ca Dao Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Hỏi nơi mô ơn trượng nghĩa dày bằng ta?

    * Trái bòn bon trong tròn ngoài méo

    Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi

    Em thương anh ít nói ít cười

    Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

    * “Tiếng đồn mì Quảng Phú Chiêm

    Cao lầu Phố Hội, mắm nêm Cẩm Hà

    Nam Ô nước mắm đậm đà thơm ngon

    Đại Lộc nhiều trái bòn bon

    Khoai lang Trà Đóa, Quế Sơn nếp mường

    Gạo ngon thơm phức, trăng tròn mùa thu

    Cá trôi mùa lũ, sông Thu chảy về

    Vĩnh Điện chả lụa khỏi chê

    Xu xoa Khúc Lũy, thịt bê Chợ Cầu

    Quán Rườn, Chợ Đước Câu Lâu

    Bánh tráng cá hấp ở đâu ngon bằng?

    Kho rim nước mắm đâu bằng Hội An

    Tằm dâu là xứ Trường Giang

    Đông Yên bủa kén, nhộng non mít xào

    Mía mưng, nón lá quai thao tóc thề

    Duy Trinh đắp đập khai đê

    Cho cây thêm trái sum suê đầy vườn

    Quảng Nam, Đà Nẵng tình thương quê nhà

    Khế non, chuối chát, ớt pha mắm gừng.”

    Em thương anh ít nói ít cười

    Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…

    Hỏi quân Hường Hiệu có còn đánh Tây?

    Sớm mai đi chợ, tối đan mành mành;

    Tiếng mai cửi dệt, tiếng chiều xa quay;

    Chiều chiều mây phủ Hải Vân

    Chim kêu ghềnh đá gẫm thân lại buồn;

    Đêm nằm nghe trống Mỹ Sơn

    Nghe chuông Trà Kiệu, nghe đờn Phú Bông;

    Gió nam thổi xuống Lò Vôi

    Ai đồn với bạn ta có đôi bạn buồn?

    Dời chưn bước xuống ghe buôn

    Sóng bao nhiêu dợn dạ ta buồn bấy nhiêu!

    Đường mô xa bằng đường Gia Cốc

    Dốc mô ngược bằng dốc Phú Cang

    Lời em than hai hàng lụy nhỏ

    Em còn mẹ già biết bỏ cho ai?

    Phần thời chị gái chẳng có em trai

    Anh có thương thì thủng thỉnh rài rài chờ nhau…

    Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng .

    Mồ côi có kẽ trâu đôi, nhà rường

    Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh,

    Phân du, bạch chỉ rành rành ,

    Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân.

    Trà My là huyện chuyên sản xuất quế rừng, được các tay thợ rừng lột vỏ, cắt đoạn, và sắp xếp theo các hạng để định giá xuất khẩu.

    Share and Enjoy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Top Câu Tục Ngữ Mê Tín Dị Đoan Hay Nhất 2022
  • Tiếng Cười Phê Phán Mê Tín Dị Đoan Trong Ca Dao Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Địa Danh Qua Tục Ngữ Ca Dao Phú Yên
  • Ứng Xử Của Người Phật Tử Đi Chùa Trong Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100