Status Chữ Tín – 11 Danh Ngôn Và Câu Nói Hay Ý Nghĩa Về Chữ Tín

--- Bài mới hơn ---

  • Stt Tiền Bạc – 60 Dòng Triết Lý Hay Về Tiền Trong Tình Yêu Cuộc Sống
  • 111+ Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Giúp Bạn Vượt Qua Sóng Gió Cuộc Đời
  • Stt Nghi Ngờ – Danh Ngôn & 50 Câu Nói Ý Nghĩa Về Sự Nghi Ngờ!
  • [101] Stt Ngắn Về Tình Yêu Chân Thành Đậm Chất Lãng Mạn
  • Bst Câu Nói Hay Về Biển, Dạt Dào Cảm Xúc
  • Một người đáng tin tưởng và đáng trân trọng là người biết giữ chữ tín, biết thực hiện lời hứa của mình. Chữ tín luôn có một chỗ đứng quan trọng trong mọi mối quan hệ, và trong kinh doanh hay bất kì một điều gì khác, người không có chữ tín sẽ chắc chắn không bao giờ thành công được. Mời các bạn cùng xem qua và suy ngẫm 11 câu nói, danh ngôn và status hay về chữ tín sau đây. Xem để biết, để chiêm nghiệm cũng như để hiểu hơn về vai trò của việc giữ chữ tín trong cuộc sống và giá trị của nó đối với con người. Chúc các bạn vui vẻ bên những dòng stt chữ tín và danh ngôn hay về chữ tín!

    Status chữ Tín và danh ngôn hay nhất về chữ Tín

    1, Giành được lòng tin rất khó mà hủy diệt thì dễ lắm, quan trọng không phải là dối gạt chuyện lớn hay nhỏ mà chính việc dối gạt đã là vấn đề.

    Từng thề ước – Đồng Hoa

    2, Những người chậm chạp khi đưa ra lời hứa là những người trung thành với việc thực hiện nó nhất.

    Jean Jacques Rousseau

    3, Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc.

    Khổng Tử

    4, Người ta hỏi tôi tại sao lại khó tin người đến vậy, và tôi hỏi họ tại sao lại khó giữ lời hứa đến vậy.

    Khuyết danh

    5, Ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài tôn kính người hơn tuổi, cẩn thận giữ điều tín, gần gũi thân cận với người nhân đức, được như vậy mà còn dư sức thì học tập tri thức nữa.

    Khổng Tử

    Cao dao tục ngữ & những câu nói hay nhất về chữ Tín

    6, Lấy sự yên vui để đối đãi người giả cả, lấy chữ tín để đối đãi bạn bè, lấy sự yêu mến để đối đãi con trẻ.

    Khổng Tử

    7, Trên đời, có hai kẻ thường bội tín: một là kẻ có uy thế tuyệt đối, hai là kẻ cùng quẫn.

    Ngạn ngữ phương Đông

    8, Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà làm không được.

    Khổng Tử

    9, Thà cho người phụ bạc ta, nhất thiết không thể là ta phụ người.

    Cổ huấn

    10, Tôi mỗi ngày xét mình ba điều. Làm việc cho người khác thành tâm chưa? Kết giao bạn bè đã giữ chữ tín chưa ? Kiến thức thầy truyền dạy, đã luyện tập chưa?

    Tăng Tử

    11, Đừng bao giờ hứa nhiều hơn bạn có thể thực hiện.

    Publilius Syrus

    Vừa rồi là 11 dòng status về chữ tín và danh ngôn, câu nói hay về chữ tín mà tôi muốn gửi đến các bạn. Hi vọng rằng các bạn cũng sẽ thích những dòng status hay về chữ tín vừa rồi. Hãy nhớ nhé, người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc. Chữ tín đóng vai trò quan trọng trong những mối quan hệ, trong công việc, trong mọi thứ và chính nó cũng tạo nên nhân cách của một con người.

    Hãy thường xuyên ghé thăm website để cập nhật nhanh những danh ngôn ý nghĩa và status hay về tình yêu cuộc sống, ngoài ra, các bạn cũng có thể xem thêm thơ tình buồn cùng những chuyên mục khác trên blog. Chúc các bạn vui vẻ!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 50 Status Ước Mơ Và Những Danh Ngôn Hay Về Ước Mơ Và Hoài Bão
  • Stt, Danh Ngôn, Câu Nói Hay Về Sự Chia Ly Rất Ý Nghĩa & Tâm Trạng
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Và Stt Tình Yêu Ý Nghĩa Nhất
  • Những Dòng Danh Ngôn Và Stt Ý Nghĩa Hay Nhất Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Stt Tình Bạn – 70 Câu Danh Ngôn & Status Ý Nghĩa Về Tình Bạn Thân
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín Hay Gặp Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Gia Vị Qua Ca Dao Tục Ngữ Việt
  • 500 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Và Ca Dao Của Xứ Nghệ Tĩnh
  • Du Lịch Về Xứ Quảng Nam Qua Những Vần Ca Dao
  • Ca Dao Về Xứ Quảng
  • Trong bài viết này, Tiếng Việt 24h xin giới thiệu đến các bạn bài học : Một số Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

    Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín

    Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa

    Ý nghĩa : Thà từ chối không làm, còn hơn là hứa mà không làm, bởi vì như vậy sẽ khiến người khác mất lòng tin ở bạn.

    Ví dụ : Không làm được thì đừng có nhận, thà “bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa”.

    Chữ tín còn quý hơn vàng

    Ý nghĩa : Khẳng định giá trị của chữ tín đối với con người (có vàng cũng không mua được).

    Ví dụ : Đối với tôi, “chữ tín còn quý hơn vàng”, nên những gì tôi đã hứa với anh thì nhất định tôi sẽ làm.

    Hứa hươu, hứa vượn

    Ý nghĩa : Hứa rất nhiều nhưng không thực hiện được lời hứa nào cả.

    Ví dụ : Nói được thì phải làm được, chứ đừng có mà “hứa hươu, hứa vượn” như hắn ta.

    Lời nói gió bay

    Ý nghĩa : Lời nói ngoài miệng không có gì làm căn cứ, không thể tin được.

    Ví dụ : Đừng để những lời mình nói ra chỉ là những “lời nói gió bay”, mà hãy biến chúng thành những hành động cụ thể.

    Lời nói như đinh đóng cột

    Ý nghĩa : Lời nói dứt khoát, rõ ràng, đã nói là phải làm.

    Ví dụ : Sau khi nghe được những “lời nói như đinh đóng cột” của anh, cô mới yên tâm để anh đi.

    Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    Ý nghĩa : Nếu đã thất hứa một lần rồi thì sau này sẽ không còn ai tin bạn nữa.

    Ví dụ : “Một lần bất tín, vạn lần bất tin”, huống hồ gì trước đây cậu ấy đã từng thất hứa rất nhiều lần rồi. Tôi thấy chúng ta không nên đặt niềm tin ở cậu ấy nữa.

    Nói một đằng, làm một nẻo

    Ý nghĩa : Lời nói và hành động không thống nhất với nhau.

    Ví dụ : Đừng tin lời của cậu ta, cậu ta lúc nào cũng “nói một đằng, làm một nẻo”.

    Treo đầu dê, bán thịt chó

    Ý nghĩa : Làm ăn lừa bịp, gian trá, trưng bày cái tốt đẹp bên ngoài để che đậy cái xấu xa ở bên trong.

    Ví dụ : Phải làm theo đúng những gì đã cam kết với khách hàng chứ đừng “treo đầu dê, bán thịt chó”.

    We on social : Facebook

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Ngữ Nói Về Con Rắn
  • Rắn Và Thành Ngữ Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Dí Dỏm Về Răng Miệng
  • Rừng Trong Văn Học Việt Nam
  • Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Giữ chữ tín là 1 trong những điều rất quan trọng để tạo thương hiệu trong làm ăn cuộc sống và cả trong học tập. Quan trọng hơn khi bạn giữ chữ tín bạn sẽ được mọi người tin tưởng nhiều hơn trong nhiều trường hợp khác nhau. Khi úy tín của bạn được nâng cao thì làm việc gì cũng dễ dàng và thỏa mái hơn rất nhiều. Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín hay và ý nghĩa nhất

    Con người sống trong cuộc sống này luôn cần pahir có một lối sống tốt, một vẻ đẹp tâm hồn thì mới đươc mọi người yêu thương và quý mến. nếu bất cứ ai sống tốt thì sẽ được mọi người yêu thương và quý trọng, với những ai sống xấu xa, ganh đua thì sẽ không được mọi người coi trọng và yêu thương. Đối với con người thì giữ chứ tín cũng là một đức tính tốt, nếu có được đức tính này thì mới được mọi người coi trọng, yêu thương và quý trọng.

    Việc giữ chứ tín là 1 điều quan trọng trong cuộc sống hiện nay nhất là trong thời buổi xã hội cạnh tranh gay gắt, tuy nhiên trong thực tế việc giữ chữ tín không hề dễ vì nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau

    Nói đến giữ chứ tín thì rất ít người có thể làm được, nếu chúng ta xác định làm được thì hãy hứa, hãy nói, còn nếu không thực hiện được thì thôi đừng hứa để rồi không thực hiện được. những người mà giữ được chữ tín sẽ được mọi người tin tưởng, thương yêu và đôi khi giao cho những trọng trách lớn trong công việc cũng như trog cuộc sống. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

    Tục ngữ về giữ chữ tín:

    Câu 1:

      Treo đầu dê, bán thịt chó.

    Câu 2:

      Một lần bất tín, vạn lần bất tin

    Câu tục ngữ nói về lòng tin của mọi người đối với nhau trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ công việc. khi chúng ta giữu chữ tín thì sẽ được mọi người coi trọng và tin yêu, tin tưởng giao cho công việc. những khi chúng ta một lần thất hứa thfi vạn lần chúng ta vẫn cho là thất hứa, chỉ một lần thất hứa thôi đã khiến cho hậu quả lớn đến như thế.

    Câu 3:

      Chữ tín còn quý hơn vàng.

    Câu tục ngữ nói lên tầm quan trọng và sức mạnh của chữ tín. Chữ tín được so sánh với vàng, vàng là một kim loại rất quý giá, khó có thể có được. câu tục ngữ so sánh chữ tín còn quý hơn vàng, thì tafamq uan trọng và ý nghĩa của chữ tín trong cuộc sống chúng ta rất lớn.

    Câu 4:

      Lời nói như đinh đóng cột

    Đây là câu tục ngữ nói về những người giữu chữ tín, lời nói họ khi nói ra giống như đinh đã đóng cột, khi đã đóng vào cột rồi là khó có thể lấy ra. Qua câu tục ngữ chúng ta thấy được giá trị to lớn của chữ tín.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về giữ chữ tín:

    • Hứa hươu, hứa vượn
    • Rao mật gấu, bán mật heo
    • Rao ngọc, bán đá
    • Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy.
    • Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.
    • Nhất ngôn cửu đỉnh
    • Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.
    • Nhất ngôn cửu đỉnh.
    • Quân tử nhất ngôn
    • Giấy rách còn giữ lấy lề

    Ca dao về giữ chữ tín:

    Câu 1:

    • Nói lời phải giữ lấy lời
    • Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

    Câu ca dao mượn hình ảnh con bướm để nói lên vấn đề giữ chữ tín của con người. con bướm là một con vật biết bay, và chúng hay bay không đứng yên một chỗ được lâu. Dùng hình ảnh con bướm đứng bay thất thường để nói đến người chữ tín, nói rằng phải giữ chữ tín chứ đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

    Câu 2:

    • Nói chín thì phải làm mười
    • Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

    Giữ chữ tín là một hàng động, một đức tính rất quan trọng của mỗi con người trong cuộc sống. giữ chữ tín là giữ lòng tin yêu của mọi người trong cuộc sống cũng như trong công việc. câu ca dao nhắc đến việc nói phải làm, chứ đừng nói nhiều mà almf ít sẽ khiến mọi người cười chê.

    Tổng hợp những câu ca dao về giữ chữ tín:

    Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

      Người sao một hẹn thì nên

    Người sao chín hẹn thì quên cả mười

      Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng

      Hay gì lừa đảo kiếm lời

    Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Vị Qua Ca Dao Tục Ngữ Việt
  • 500 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Và Ca Dao Của Xứ Nghệ Tĩnh
  • Du Lịch Về Xứ Quảng Nam Qua Những Vần Ca Dao
  • Ca Dao Về Xứ Quảng
  • Văn Học Dân Gian, Ca Dao, Mỹ Học, Âm Nhạc
  • Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín

    Chữ tín là gì?

    Có thể hiểu đơn giản chữ tín tức là lòng tin của bạn đối với một cá nhân hay tập thể nào đó.

    Chữ tín có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của con người, và đặc biệt nhất là trong quan hệ giao tiếp. giữ chữ tín tức là giữ thể diện cho bản thân uy tín, và giữ cho nhân cách đạo đức của chính mình. Ngoài ra chữ tín cũng giúp chúng ta cân bằng và bảo đảm hài hòa giữa các nhu cầu cá nhân trong xã hội.

    Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

    Tục ngữ

    1.

    Một lần bất tín, vạn lần bất tin.​

    Nghĩa là nếu một lần bạn đã thất hứa, thì sau này người ta sẽ không tin bạn nữa.

    2.

    Quân tử nhất ngôn​

    Người quân tử chỉ nói một lời, tức đàn ông đã hứa là phải làm

    3.

    Giấy rách còn giữ lấy lề​

    Mặc dù khó khăn, gian khổ nhưng vẫn giữ được lòng tin, đức hạnh và sự tín nhiệm đối với những người khác.

    4.

    Chữ tín còn quý hơn vàng.​

    Tức nói vàng không mua được chữ tín.

    5.

    Hứa hươu, hứa vượn​

    Hứa này, hứa kia, hứa các kiểu mà chẳng bao giờ làm

    6.

    Treo đầu dê, bán thịt chó.​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    7.

    Rao mật gấu, bán mật heo​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    8.

    Rao ngọc, bán đá​

    Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

    9.

    Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.​

    Ý muốn nói người quân tử đã làm mất lòng tin thì 4 ngưa sẽ xé xác (câu này thường gặp trong phim cổ trang Trung Quốc)

    10.

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.​

    Để có được lòng tin từ người khác thì bạn trải qua biết bao điều, tuy nhiên chỉ 1 lần thất hứa bạn sẽ không còn lòng tin từ người khác.

    11.

    Nhất ngôn cửu đỉnh​

    Ý nói rằng một lời nói đã lọt qua 9 cái đầu của hàm rang rồi thì khó lòng mà rút lại được.

    12.

    Lời nói như đinh đóng cột​

    Đã nói ra thì chắc chắn phải thực hiện

    13.

    Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa

    Thà bạn từ chối không làm, còn hơn là nhận lời mà không làm chắc chắn sẽ mất lòng tin với người khác.

    Ca dao

    1.

    Người sao một hẹn thì nên

    Người sao chín hẹn thì quên cả mười​

    Có người thì hẹn một lần nhưng đều thực hiện được, giữ đúng lời hứa, Có người thì hẹn chín lần nhưng quên tới cả mười lần, tức là không thực hiện

    2.

    Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay​

    Đã nói ra thì phải đảm bảo lời nói, đã hứa thì phải làm.

    3.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.​

    Ý nghĩa của câu nói trên là nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị người đời cười chê.

    4.

    Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng​

    Ý muốn nói làm ra, gây dựng lên thì khó, nhưng hủy hoại, phá đi thì lại quá dễ, nên cần phải biết trân trọng những thành quả đã làm ra, và làm gì cho xứng đáng với điều đó.

    5.

    Hay gì lừa đảo kiếm lời

    Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

    Nói rằng làm người phải sống ngay thẳng và có chữ tín, đừng đi lừa đảo người khác sau đó những tội lỗi đều riêng bản thân mình phải nhận lấy.

    Thank For Watching !!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín Hay Gặp Nhất
  • Tục Ngữ Nói Về Con Rắn
  • Rắn Và Thành Ngữ Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Dí Dỏm Về Răng Miệng
  • Rừng Trong Văn Học Việt Nam
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Heo
  • Văn Thuyết Minh: Ca Dao
  • Chữ tín luôn có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống. Đây là một trong những phẩm chất đạo đức đáng quý của con người. Tong đời sống hàng ngày chúng ta đối diện với nhiều tình huống sử dụng “chữ tín”, đặc biệt là trong công việc, các quan hệ giao tiếp. Người biết giữ chữ tín là người được coi trọng, quý mến, nhận được sự tín nhiệm cao.

    • Một lần bất tín, vạn lần bất tin
    • Quân tử nhất ngôn
    • Chữ tín quý hơn vàng
    • Nhất ngôn tứ xuất, tứ mã nan truy
    • Nhất ngôn cửu đỉnh
    • Nói lời phải giữ lấy lời

      Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

    • Một lần thất tín vạn lần thất tin

    Câu ca dao tục ngữ tôn trọng người khác

    Ngoài chữ tín thì tôn trọng người khác cũng là phẩm chất quan trọng của mỗi người. Muốn được người khác tôn trọng, trước hết phải tôn trọng người khác thì mới nhận được sự tôn trọng ngược lại. Trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta cần biết lắng nghe ý kiến, ton trọng lời nói của đối phương. Sự tôn trọng không chỉ thể hiện qua lời nói, hành động mà còn qua ngôn ngữ cơ thể. Biết cách tôn trọng nhau thì sẽ đạt hiệu quả giao tiếp cao.

    Một số câu nói về việc tôn trọng người khác thường gặp:

    • Khó mà biết lẽ biết lời

      Biết ăn biết ở hơn người giàu sang

    • Lời nói không mất tiền mua

      Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    • Cười người chớ vội cười lâu
    • Cười người hôm trước, hôm sau người cười
    • Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà

      Kính già, già để tuổi cho

    Ca dao tục ngữ về xây dựng tình bạn trong sáng lành mạnh

    Tình bạn luôn là đề tài được khai thác nhiều trong thơ văn cũng như ca dao. Tình bạn giúp chúng ta sẻ chia mọi điều buồn vui trong cuộc sống. Khi bạn khó khăn, vấp ngã, những người bạn thân thiết luôn ở bên cạnh. Xây dựng tình bạn trong sáng luôn được coi trọng và đề cao. Không phải với ai cũng có thể kết bạn, cần kết bạn có chọn lọc để làm sao cả đôi bên cùng tiến bộ. Chứ không phải kết bạn, giao du với những đối tượng xấu để hủy hoại bản thân.

    Một số câu ca dao nổi tiếng về tình bạn như:

    • Ai ơi nhớ lấy câu này

      Tình bạn là mối duyên thừa trời cho

    • Sống trong bể ngọc kim cương

      Không bằng sống giữa tình thương bạn bè

    • Cho tôi tôi chọn hoa hồng

      Cho tôi chọn bạn tấm lòng thủy chung

    • Tình bạn là vạn bông hoa

      Tình bạn là vạn bài ca muôn màu

    • Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở
    • Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng

    Kho tàng ca dao tục ngữ cũng rất phong phú và da dạng. Ngoài những câu ca dao tục ngữ về giữ chữ tín, còn có ca dao tục ngữ về tự lập, ca dao tục ngữ về pháp luật và kỉ luật… Qua bài viết này, Pdiam hi vọng rằng sẽ cung cấp những kiến thức nhất định cho bạn đọc về ca dao tục ngữ Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò
  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Skkn Công Tác Quản Lý Chỉ Đạo Lồng Ghép Đồng Dao, Ca Dao, Tục Ngữ Vào Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Địa Phương
  • Vận Dụng Đặc Điểm, Cấu Tạo Và Ngữ Nghĩa Của Thành Ngữ Địa Phương Thanh Hóa Vào Tiết Học Ngữ Văn Lớp
  • Hãy Nêu Các Câu Ca Dao , Tục Ngữ Nói Về Đoàn Kết , Tương Trợ Câu Hỏi 42214
  • Trong đời sống xã hội, một trong những cơ sở để tạo dựng và củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau đó là lòng tin, có lòng tin thì có tất cả nhưng làm thế nào để có được lòng tin của mọi người điều đó tùy thuộc vào việc làm cách xử sự của mỗi chúng ta. Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, có rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói về chữ tín, bài viết hôm nay Wiki Cách Làm sẽ giới thiệu đến các bạn một số câu ca dao tục ngữ về giữ chữ tín.

    Giữ chữ tín là coi trọng lòng tin của mọi người đối với mình, biết trọng lời hứa và biết tin tưởng nhau. Người biết giữ chữ tín sẽ nhận được sự tin cậy, tín nhiệm của người khác đối với mình, giúp mọi người đoàn kết và dễ dàng hợp tác với nhau. Muốn giữ được lòng tin của mọi người đối với mình thì mỗi người cần phải làm tốt chức trách nhiệm giữ đúng lời hứa, đúng hẹn với mọi người trong mối quan hệ xung quanh.

    Câu chuyện về việc giữ chữ tín

    Nước Lỗ có một cái đỉnh rất quý bị nước Tề bắt phải đem dâng, vua Lỗ tiếc lắm nên cho làm một cái đỉnh giả đưa sang.

    Vua Tề bảo: “Phải có Nhạc Chính Tử đem đỉnh sang nói, thì ta mới tin”.

    Vua Lỗ cho gọi Nhạc Chính Tử đến, bảo đi.

    Nhạc Chính Tử hỏi: “Sao không đưa đỉnh thật?”.

    Vua Lỗ nói: “Ta quý cái đỉnh ấy lắm”.

    Nhạc Chính Tử thưa: “Nhà vua quý cái đỉnh ấy như thế nào thì tôi quý cái đức tín của tôi như thế”.

    Sau đó vua Lỗ phải đưa đỉnh thật Nhạc Chính Tử mới chịu đi.

    (Theo cổ học tinh hoa)

    Câu chuyện trên cho ta thấy, Nhạc Chính Tử không đi nộp đỉnh giả vì như vậy ông sẽ mất đi niềm tin với vua Tề, ông rất là coi trọng chữ tín vì vậy ông mới được sự tin tưởng từ vua Tề.

    Một số câu tục ngữ về giữ chữ tín bạn nên biết

    1. Giấy rách còn giữ lấy lề. (Câu này có ý nghĩa là: dù có gian khổ, có khó khăn đến đâu thì vẫn giữ được lòng tin và sự tín nhiệm đối với người khác.)

    2. Lời nói gió bay.

    3. Hứa chắc như đinh đóng cột. (Câu này ý nói không hứa thì thôi, đã hứa thì nhất định phải làm cho bằng được.)

    4. Nói một đằng làm một nẻo. (Câu này ý nói hứa thì phải thực hiện đúng lời hứa đó, không được hứa một đằng này lại đi làm một đằng khác, như vậy sẽ làm mất lòng tin của mọi người.)

    5. Quý chữ tín hơn vàng. (Có nghĩa là vàng không mua được chữ tín, chữ tín còn đáng giá hơn vàng.)

    6. Hứa hươu, hứa vượn. (Câu này có nghĩa là hay hứa này hứa kia, hứa các kiểu linh tinh nhưng chỉ hứa xuông, hứa cho có hứa và sẽ không sao giờ thực hiện lời hứa của mình.)

    7. Người sao một hẹn thì nên, người sao chín hẹn thì quên cả mười. (Ý nói có người thì chỉ hẹn một lần nhưng đều làm, đều giữ đúng lời hứa. Còn có người hẹn lần này sang lần khác, hẹn chín lần mười lượt nhưng chẳng bao giờ thực hiện được lời đã nói.)

    8. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy. (Ý nghĩa của câu nói này là người quân tử thì chỉ nói đúng một lời, đã hứa thì sẽ làm đúng lời hứa, không bao giờ thất hứa.

    Cũng có thể hiểu nôm na câu này như sau: người quân mà làm mất lòng tin thì bốn con ngựa sẽ xé xác, câu này các bạn thường nghe trong phim cổ trang của Trung Quốc.)

    9. Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa. (Ý nói thà bạn không hứa, từ chối không làm, còn hơn bạn nhận lời mà không thực hiện sẽ mất lòng tin với người khác.)

    10. Treo đầu dê, bán thịt chó.

    11. Rao mật gấu, bán mật heo.

    12. Rao ngọc, bán đá. (3 câu này có ý nghĩa nói đến những người làm ăn gian dối, không trung thực, rao một đằng bán một nẻo)

    13. Một lần bất tín, vạn lần bất tin. (Câu tục ngữ muốn dạy chúng ta phải biết giữ chữ tín, lòng tin của người khác đối với mình. Nếu một lần dối gian, không giữ chữ tín thì dù bạn có nói thật hay làm gì đi nữa người khác vẫn không tin tưởng bạn)

    14. Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

    15. Nhất ngôn cửu đỉnh.

    16. Nhất độ thất tín vạn sự bất tin.

    17. Quân tử nhất ngôn. (Người quân tử chỉ nói 1 lời)

    18. Đã nói là làm.

    19. Giấy rách phải giữ lấy lề. (Tuy khó khăn, khổ sở, vất vả nhưng vẫn giữ được lòng tin, đức hạnh, tín nhiệm)

    20. Lời nói như đinh đóng cột.

    Những câu ca dao về giữ chữ tín ông cha ta để lại

    Nghĩa của câu này là: chỉ cần bạn thất hứa một lần duy nhất thì sau này bạn có nói điều gì đi nữa người ta sẽ không còn tin tưởng bạn nữa.

    Không cần nói nhiều, không cần hứa nhiều, chỉ cần làm sẽ được mọi người yêu quý còn hơn nói nhiều, hứa nhiều mà chẳng làm được bao nhiêu thì sẽ bị người khác cười chê.

    Người thì dù chỉ hẹn 1 lần nhưng vẫn nhớ, còn có người thì hẹn 9 lần nhưng lại quên hết 10, không biết giữ lời hứa.

    Lời đã nói ra thì phải biết ghi nhớ và thực hiện, đừng nói ra cho có xong rồi lại quên mất như con bướm đậu rồi lại bay. Phải biết giữ chữ tín thì người khác mới tin tưởng vào mình.

    Làm người phải sống thật thà, ngay thẳng, không nên lừa đảo, gian dối. Tội lỗi sau này sẽ phải gánh chịu và trả giá cho những việc mình làm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Dạy Thành Ngữ, Tục Ngữ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dân Chủ Và Kỷ Luật, Công Bằng Xã Hội Hay Nhất
  • Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Vô Ơn, Vô Nghĩa, Phản Bội Không Giữ Chữ Tín Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Phật Dạy Dành Cho Những Người Hay Phiền Muộn
  • Những Câu Stt Hay Về Đôi Chân Hành Trình Cuộc Sống
  • Thơ Hoa Xuyến Chi, 15+ Chùm Thơ & Bài Thơ Hay Về Hoa Xuyến Chi
  • Lời Chúc Người Cao Tuổi Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Về Công An Nhân Dân
  • Những câu ca dao tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống chúng ta ai cũng biết có rất nhiều điều phức tạp và cạm bẫy luôn rình rập xung quanh chúng ta. Để có được những kiên cường, can dram vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống thì chúng ta ai cũng có một người bạn bên cạnh, một người luôn theo dõi, quan sát và giúp đỡ chúng ta mọi lúc mọi nơi. Chúng ta luôn cảm thấy biết ơn và vô cùng trân trọng những tấm chân tình ấy, không biết làm sao có thể báo đáp hết. tuy nhiên có người lại quay đầu, vô tâm và chống lại với những người đã quan tâm giúp đỡ mình, đôi khi còn đẩy họ đến mức đường cùng. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín để hiểu rõ hơn về về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữ chứ tín.

    Sự vô ơn chứng tỏ con người không có tình nghĩa

    Tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín:

    Câu 1:

    Qua cầu rút ván là một câu tục ngữ nói về người đã phản bội, vô ơn, đối xử với người đã giúp đỡ mình những lúc khó khăn hoạn nạn. cây cầu chỉ có ván để đi qua, khi một người đã tải ván, giúp đỡ bạn đi quan cây cầu nhưng khi đi xong bạn lại rút ván không cho người đó và những người khác đi, điều đó thể hiện bạn là người ích kỉ, sẽ không được mọi người trong xã hội tôn trọng.

    Câu 2:

    Đây là một câu tục ngữ cũng thể hiện về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín. Khi con người đi nơm cá, khi bắt được cá rồi thì người ta lại quên nơm, quên đi thứ mà đã giúp đỡ con người có được cá. Câu tục ngữ mượn hình ảnh cả và nơm để nói về những người vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín trong cuộc sống của chúng ta.

    Câu 3:

    Ăn cháo có nghĩa là những người đã giúp đỡ ta, cho chúng ta ăn, giúp chúng ta khi chung ta đói rách hoạn nạn. nhưng khi chúng ta no, ăn uống đầy đủ thì chúng đá bát vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữ chứ tín đối với những người giúp đỡ chúng ta khi chúng ta đói rách, đau khổ.

    Câu 4:

    Câu nói trên cũng thể hiện về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín của con người trong cuộc sống ngày nay. Khi cuộc sống càng ngày càng hiện đại, càng phát triển thì tấm lòng, lòng thương người và giữ chữ tín càng vị ăn mòn. Chúng ta luôn về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín đối với những người giúp đỡ ta trong những lúc khó khăn.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín:

    • · Ăn cây táo rào cây sung
    • · Có mới nới cũ
    • · Có trăng, phụ đèn.
    • · Ăn mít bỏ sơ, ăn cá bỏ lờ.
    • · Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.
    • · Ông sư có ngãi, bà vãi có nghì.
    • · Đường mòn ân nghĩa không mòn.
    • · Bền người hơn bền của.
    • · Tiền ngắn, mặt dài.
    • · Tiền là gạch, ngãi là vàng.
    • · Thèm lòng, chẳng ai thèm thịt.
    • · Vị tình vị nghĩa, ai vị đĩa xôi đầy.

    Ca dao về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín:

    Câu 1 :

    • Trách lòng tham đó bỏ đăng
    • Thấy lê quên lựu, thấy trăng quên đèn

    Câu ca dao trên thể hiện về nhân cách con người, về những người vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín. Mục đích chính của câu là nói đến những người phụ lòng tin của người khác. Dù mục đích của phụ lòng tin như thế nào thì cũng là một đức tính xấu, chúng ta nên có những đức tính giữ chữ tính để được mọi người xung quanh kính trọng và tin yêu.

    Câu 2 :

    • Trách lòng tham đó bỏ đăng
    • Thấy lê quên lựu, thấy trăng quên đèn

    Câu ca dao trên nói về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín. Những người thma lam, chạy theo danh vọng, chạy theo cuộc sống hào nhoáng và những thứ tốt đẹp hơn để bỏ ại những người đã giúp đỡ mình qua những khó khăn, gian khổ và thử thách. Dể được mọi người tin yêu và tôn trọng thì chúng ta nên có những điều tốt đẹp và yêu thương mọi người.

    Tổng hợp những câu ca dao về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín :

      Trách ai rọc giấy bỏ bìa,

    Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa

      Trách ai rọc giấy bỏ bìa,

    Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa

      Vàng mười vô lửa nào phai,

    Anh nằm nghĩ lại coi ai bạc tình

      Trách người quân tử bạc tình

    Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao

      Trách ai được miếu phụ nghè

    Được chiêng phụ trống được bè phụ nan

    Đang chơi với phụng, thấy rồng bay theo

    Cu ăn cu lớn cu gù cu đi.

      Thương tằm ngửa áo bọc dâu

    Tưởng tằm có nghĩa, hay đâu bạc tình

    Nhện ơi nhện hỡi nhện đi đường nào

    Hy vọng qua các câu ca dao và tục ngữ trên các bạn sẽ hiểu thêm nhiều đạo lý làm người cơ bản về sự biết ơn vì đó là điều cơ bản nhất của con người. Khi bạn biết ơn ông bà bố mẹ những người đã nuôi nâng giúp đỡ ta. Thì sau này con cái bạn mới tôn trọng bạn và cũng biết ơn bạn báo hiếu cho bạn giống như những gì bạn đã ứng xử với người khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Chia Tay Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Lời Phật Dạy Về “lòng Tin”
  • Lời Chúc Chia Tay Đồng Nghiệp Nghỉ Việc Chuyển Công Tác
  • Tổng Hợp Danh Ngôn Về Niềm Tin Và Nghị Lực Sống
  • Nslide Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trên Ola
  • Tìm Hiểu Lời Phật Dạy Về Các Tín Ngưỡng Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao
  • Tổng Hợp Lời Phật Dạy Về Cuộc Sống Rất Ý Nghĩa
  • Những Lời Phật Dạy Hay Nhất Mà Bạn Không Nên Bỏ Lỡ
  • Những Câu Nói Hài Hước, Bá Đạo “gây Sốt” Của Giới Trẻ
  • Tổng Hợp Những Status Tâm Trạng Hay Status Buồn Khi Yêu
  • Đất nước chúng ta quá nhiều giết hại, mê tín dị đoan, ông lên bà xuống, cúng sao giải hạn và vô vàn các tập tục làm cho ta đánh mất chính mình mà không biết cách làm chủ bản thân. Hiện tượng xin bùa phép, phát lộc trong các đình, chùa, miếu để được làm ăn phát đạt, dán tiền lên tượng Phật, Bồ Tát hoặc lấy tay xoa lên hình tượng rồi xoa vào thân mình, gọi đó là lộc của trời, Phật, Bồ Tát hay đấng bề trên.

    Ngày xưa có một ông nhà giàu quanh năm suốt tháng cứ mải mê đầu cơ tích trữ, bồi đắp cho bản thân, nuôi tham vọng làm giàu, bất chấp mọi thủ đoạn, bóc lột nhiều người khác để mình được giàu có sung túc đủ đầy.

    Có một lần vợ ông ta bệnh nặng, ông thỉnh một vị tăng về nhà tụng kinh cầu an để tiêu trừ nghiệp chướng, bệnh tình qua khỏi. Ông nói với vị tăng: “Nhờ thầy tụng kinh cầu nguyện chư Phật và Bồ Tát gia hộ cho gia đình tôi được bình an, việc làm ăn của gia đình ngày càng thêm phát đạt, vợ tôi mau qua khỏi cơn trọng bệnh, con cháu tôi sớm được thăng quan tiến chức và tiền bạc vô đều đều”.

    Vị tăng nghe ông nhà giàu nói như vậy, nên muốn cảnh tỉnh ông ta, bèn đúng pháp làm lễ, khấn lớn tiếng rằng: “Nguyện cầu chư Phật và chư Bồ Tát từ phương xa mau về đây từ bi chứng giám, hiện tiền gia chủ cầu khẩn chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho gia đình ông ta được bình an, hạnh phúc, con đông cháu đầy, việc làm ăn ngày càng thịnh vượng, vợ ông bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, mọi người trong gia đình người thân đều được như ý muốn”.

    Nghe vị Tăng khấn nguyện như vậy ông nhà giàu lấy làm ngạc nhiên, nên mới thắc mắc: “Tại sao sư phụ lại cầu khẩn Phật và Bồ Tát phương xa mà không thỉnh các vị ở gần đây, để các vị ấy đến đây ban phúc đức cho gia đình con nhanh chóng?”.

    Vị Tăng trả lời: “Sở dĩ tôi không cầu Phật và Bồ Tát ở gần là vì e ngại các vị ấy không chịu đến để giúp cho gia đình ông. Ông hãy suy nghĩ lại đi, ông nay đã trên 60 tuổi sắp gần đất xa trời rồi mà chưa từng biết giúp đỡ một ai nói chi là bố thí cúng dường, ngược lại còn tham lam bỏn sẻn, sân hận chửi mắng đánh đập người khác, không biết tôn trọng mọi người, có của dư thừa đem đổ bỏ, không chịu san sẻ cho người. Bởi chư Phật và Bồ Tát ở gần đây đều biết ông tham lam bỏn sẻn, keo kiệt, nên các Ngài sẽ không đến giúp gia đình ông đâu. Chính vì vậy mà tôi phải thỉnh cầu chư Phật và Bồ Tát ở phương xa về giúp ông ít nhiều đó!”.

    Đây là một câu chuyện ngụ ngôn mang một triết lý sâu sắc, nhằm nhắc nhở chúng ta phải tin sâu nhân quả, muốn được sống an vui hạnh phúc về vật chất lẫn tinh thần, thì phải biết gieo nhân tốt. Vị tăng trong câu chuyện trên mượn việc cầu Phật và Bồ Tát phương xa mà không cầu Phật và Bồ Tát ở gần, để thức tỉnh ông nhà giàu quá tham lam, bỏn sẻn.

    Đức Phật Thích Ca

    Chúng ta muốn cầu Phật và Bồ Tát có sự cảm ứng thì lúc nào cũng phải sống có nhân cách đạo đức tốt, biết giúp đỡ người khác khi gặp hoàn cảnh khó khăn luôn mở rộng tấm lòng lòng vô ngã vị tha… Phật và Bồ Tát là những bậc toàn chơn, toàn giác, toàn thiện, toàn mỹ, muốn cầu các Ngài có cảm ứng thì tâm niệm và việc làm của chúng ta, phải tương ưng với hạnh nguyện của các Ngài.

    Trên thế gian không chỉ riêng ông nhà giàu nọ, mà có rất nhiều người không biết tội phước là gì, cho nên không tin nhân quả, điên đảo làm các việc xấu ác, đến lúc gặp quả xấu, thì van xin lạy lục cầu xin Phật, Bồ Tát giúp cho. Nhân quả công bằng khi đủ duyên thì quả tốt hay xấu sẽ đến, đâu có Phật, Bồ Tát ban phước giáng họa cho ta được. Nếu Phật làm được điều đó, thì đâu có khuyên ta hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với Chánh pháp. Phật luôn khuyên mọi người tin sâu nhân quả mà ráng cố gắng làm điều lành, dứt trừ việc ác và luôn giữ tâm ý trong sạch.

    Những người có tâm địa không tốt, xấu xa, độc ác, tham lam, ích kỷ, hẹp hòi thì làm sao có được kết quả tốt đẹp và làm sao có được sự cảm ứng nơi các Ngài. Khi chúng ta đã tin sâu nhân quả rồi, nếu muốn có cây lành trái ngọt thì phải biết gieo nhân tốt và tạo các duyên thích hợp, để nhân đó được phát triển và trổ quả lành.

    Như chúng ta muốn sống lâu thì không sát sinh hại vật, trước là không được giết người và hạn chế tối đa việc giết hại các loài vật khác hoặc dứt khoát không giết một vật nào. Thứ hai là phải có ý thức giữ gìn sức khỏe, siêng năng vận động, ăn uống tiết độ, làm việc có chừng mực và không vui chơi trác táng quá đáng. Đã không giết hại rồi còn phải biết bố thí, phóng sinh các loài vật khi gặp cảnh sắp chết của nó.

    Muốn được giàu sang thì phải biết bố thí cúng dường, giúp đỡ sẻ chia mỗi khi cần thiết, kế đến là siêng năng cần mẫn trong làm việc, biết tiết kiệm trong chi tiêu, không vui chơi hoang phí và trộm cướp lường gạt của người khác, đó là nguyên nhân dẫn đến nghèo cùng khốn khổ.

    Tóm lại, nếu chúng ta không biết gieo nhân lành, và sống tốt với nhiều người khác thì khi gặp hoạn nạn chúng ta không thể cầu chư Phật, Bồ Tát giúp cho mình tai qua nạn khỏi được. Nhân quả nhãn tiền có cầu tất ứng là do nhân nhiều đời biết giúp người cứu vật, không có gì là đương nhiên khi không hoặc đấng tối cao ban phước giáng họa cho ta được.

    Ngày nay, hiện tượng tín ngưỡng dân gian với nhiều hình thức làm cho con người không biết rõ bản chất thực hư của nó ra sao. Đất nước chúng ta quá nhiều tín ngưỡng giết hại, tín ngưỡng mê tín dị đoan, tín ngưỡng ông lên bà xuống, tín ngưỡng cúng sao giải hạn và vô vàn các tập tục làm cho ta đánh mất chính mình mà không biết cách làm chủ bản thân. Hiện tượng xin bùa phép, phát lộc trong các đình, chùa, miếu để được làm ăn phát đạt, dán tiền lên tượng Phật, Bồ Tát hoặc lấy tay xoa lên hình tượng rồi xoa vào thân mình, gọi đó là lộc của trời, Phật, Bồ Tát hay đấng bề trên.

    Khi đến chùa thì chúng ta vái lạy cầu khẩn van xin đủ thứ chuyện trên đời, chúng ta cúng một ít tiền hay phẩm vật mà muốn Phật, Bồ Tát phải ban cho mình đủ thứ hết. Nếu những gì họ cầu xin mà được như ý thì luật nhân quả sẽ không còn tồn tại. Rõ ràng từ con người cho đến muôn loài vật đều chịu sự chi phối của nhân quả, không có vật nào trên thế gian này thoát ngoài lý nhân quả.

    Người không tu theo đạo Phật không tin lý nhân quả là lẽ đương nhiên, nhưng đã là phật tử mà ta còn mê tín dị đoan lúc nào cũng cầu khẩn van xin, mong muốn đủ thứ, như vậy có xứng đáng là người phật tử chân chính hay không? Như ông nhà giàu trong câu chuyện trên, nhiều đời đã biết cúng chùa, làm phước, bố thí, nên hiện đời mới được giàu có… Tuy nhiên, do ông ta thiếu tu cho nên càng giàu có càng tham lam, bỏn sẻn rồi lại nghĩ mình giàu sang là do các bậc hiền Thánh, chư Phật, Bồ Tát ban cho.

    Nếu chúng ta bố thí với tâm tham lam, ích kỷ, mong muốn việc bố thí để cho mình được giàu hơn, dĩ nhiên là vẫn có phước nhưng tâm tham đắm dính mắc vào đó ngày càng nặng hơn, càng bố thí ta càng mê muội. Nếu chúng ta phóng sinh với tâm tham muốn, với tâm ham danh thì ta sẽ bỏ tiền ra mua con vật đó rồi nhốt lại, chờ ngày mai có lễ trong chùa mới tụng kinh cầu nguyện phóng sinh, mặc cho con vật thoi thóp trong chậu, trong lồng. Phóng sinh như vậy là vì muốn nhiều người khác được biết đến tên tuổi của mình, vô tình đánh mất ý nghĩa phóng sinh, không phải vì lòng từ bi thương vật.

    Phóng sinh đúng nghĩa của nó là khi thấy con vật đang bị con người định giết để làm thịt bán, ta vì lòng từ bi thương xót nó, muốn chúng được sống nên năn nỉ người định giết để mua lại và thả nó. Phóng sinh như vậy mới đúng ý Phật, cách phóng sinh đó sẽ không làm cho người khác lợi dụng như những người mua bán chim cá trong các chùa.

    Người phật tử chân chính, trước tiên phải nghiên cứu lời Phật dạy rồi sau đó suy ngẫm quán chiếu và ứng dụng tu hành, thì sẽ biết rõ mọi việc trên thế gian này đúng sai, phải quấy, tốt xấu, thật giả. Chúng ta tin ở đây là niềm tin chân chính sau khi phát sinh trí tuệ, nhờ vậy ta tin sâu nhân quả, tin chính mình làm chủ được bản thân. Do đó khi ta thờ Phật, cúng Phật, lạy Phật vì lòng cung kính, vì sự biết ơn, để chúng ta cố gắng thực hành theo bằng cách phước huệ song tu cho đến khi nào bằng Phật mới thôi.

    Thích Đạt Ma Phổ Giác

    Nguồn: Y dược học (https://www.ydhvn.com/news/tim-hieu-loi-phat-day-ve-cac-tin-nguong-dan-gian)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top Stt Tâm Trạng Cô Đơn Rối Bời Trong Tình Yêu Và Cuộc Sống Của Giới Trẻ
  • Những Câu Thơ Hay Về Cuộc Sống Hay Nhất
  • Lời Phật Dạy Về Công Ơn Cha Mẹ Và Bổn Phận Làm Con
  • Tải Status Tâm Trạng Viết Chữ Lên Ảnh Cho Máy Tính Pc Windows Phiên Bản
  • Hình Ảnh Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Noel 2022
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

    Ăn Bắc nằm Nam

    Ăn bánh trả tiền

    Ăn bánh vẽ

    Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

    Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

    Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng

    Ăn bất thùng chi thình

    Ăn bậy nói càn

    Ăn bền tiêu càn

    Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều

    Ăn biếu ngồi chiếu hoa

    Ăn bơ làm biếng

    Ăn bốc ăn bải

    Ăn bòn dòn tay

    Ăn mày say miệng

    Ăn bóng nói gió

    Ăn bớt bát nói bớt lời

    Ăn bớt cơm chim

    Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày

    Ăn bữa hôm lo bữa mai

    Ăn bừa mứa (bừa bứa)

    Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối)

    Ăn bữa trưa chừa bữa tối

    Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống

    Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày

    Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.

    Ăn cá bỏ lờ

    Ăn cả cứt lẫn đái

    Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi

    Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm

    Ăn cái rau trả cái dưa

    Ăn cầm chừng

    Ăn cam nằm gốc cây cam

    Lấy anh thì lấy, về Nam không về

    Ăn cám xú

    Ăn cận ngồi kề

    Ăn càn nói bậy (nói bừa)

    Ăn canh cả mặn

    Ăn canh không chừa cặn

    Ăn cắp ăn nẩy

    Ăn cắp như ranh

    Ăn cắp quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn cắp vặt

    Ăn cáy bưng tay

    Ăn cây nào rào cây nấy

    Ăn cây sung ngồi gốc cây sung

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

    Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn)

    Ăn cay uống đắng

    Ăn chắc để dành

    Ăn chắc mặc bền (mặc dày)

    Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả

    Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần)

    Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận

    Ăn chẳng hết thết chẳng khắp

    Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh

    Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông

    Khuyên cho đó vợ đây chồng

    Đó bế con gái, đây bồng con trai

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2)

    Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3)

    Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà.

    Bây giờ chê xấu chê xa,

    Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn.

    Ở đâu yểu điệu thanh tân,

    Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả

    Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả,

    Cầm cân đi lừa lại phải thau năm!

    Thau năm đánh lẫn vàng mười

    Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4)

    Lấy anh thì lấy, về Thanh không về

    Ăn cháo báo hại cho con

    Ăn cháo đá bát (đái bát)

    Ăn cháo để gạo cho vay

    Ăn cháo lá đa

    Ăn cháo lú (cháo thí)

    Ăn chắt để dành

    Ăn châu chấu ỉa ông voi

    Ăn chay nằm đất

    Ăn chay niệm Phật

    Ăn cho buông so

    Ăn chó cả lông

    Ăn hồng cả hột

    Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp)

    Ăn cho no đo cho thẳng

    Ăn chơi cho đủ mọi mùi

    Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình

    Ăn chơi cho hết tháng Hai

    Để làng vào đám cho trai dọn đình

    Trong thời trống đánh rập rình

    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

    Ăn chơi khắp bốn phương trời

    Cho trần biết mặt, cho đời biết tên

    Ăn chưa no lo chưa tới

    Ăn chưa sạch bạch chưa thông

    Ăn chưa tàn miếng trầu

    Ăn chực đòi bánh chưng

    Ăn chực nằm chờ

    Ăn chung mủng riêng

    Ăn chung ở chạ (ở lộn)

    Ăn chuối không biết lột vỏ

    Ăn có chỗ đỗ có nơi

    Ăn có chủ ngủ có công đường

    Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn có giờ làm có buổi

    Ăn có mời làm có khiến

    Ăn cỗ muốn chòi mâm cao

    Ăn có nhai nói có nghĩ

    Ăn cỗ nói chuyện đào ao

    Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn

    Ăn cỗ phải lại mâm

    Ăn có sở ở có nơi

    Ăn có thời chơi có giờ

    Ăn coi nồi ngồi coi hướng

    Ăn cơm ba chén lưng lưng (*)

    Uống nước cầm chừng để dạ thương em

    Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa

    Ăn cơm chúa múa tối ngày

    Ăn cơm chùa ngọng miệng

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn cơm có canh tu hành có vãi

    Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

    Ăn cơm hom ngủ giường hòm

    Ăn cơm hớt

    Ăn cơm hớt thiên hạ

    Ăn cơm không rau

    Như đánh nhau không người gỡ

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu

    Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan

    Ăn cơm mới nói chuyện cũ

    Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau)

    Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ

    Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia

    Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng

    Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan

    Ăn cơm nhà vác ngà voi

    Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa

    Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

    Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ

    Ăn cơm sao đặng mà mời

    Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

    Mình ơi đừng đặng cá quên nơm

    Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

    Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời

    Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

    Ăn cơm tấm ấm ổ rơm

    Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật

    Ăn cơm trên nói hớt

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau

    Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước

    Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt)

    Mía sâu có đốt nhà dột có nơi

    Nghèo hèn giữa chợ ai chơi

    Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

    Ăn của chùa phải quét lá đa

    Ăn của ngon mặc của tốt

    Ăn của người phải làm việc cho người

    Ăn của người ta rồi ra phải trả

    Ăn của người vâng hộ người

    Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

    Ăn cùng chó ló xó cùng ma

    Ăn cướp cơm chim

    Ăn cứt không biết thối

    Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao)

    Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang

    Ăn đã vậy nói làm sao

    Ăn dầm nằm dề

    Ăn đàn anh làm đàn em

    Ăn đằng sóng nói đằng gió

    Ăn đầu sóng nói đầu gió

    Ăn đấu trả bồ

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn đây nói đó

    Ăn dè dặt

    Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn

    Ăn dè xẻng

    Ăn đến nơi làm đến chốn

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn đi trước lội nước theo sau

    Ăn đổ ăn vãi

    Ăn đỡ làm giúp

    Ăn đổ làm vỡ

    Ăn dơ ở bẩn

    Ăn dò sau cho dò trước

    Ăn độc chốc đít

    Ăn đói mặc rách

    Ăn đợi nằm chờ

    Ăn đói nằm co

    Ăn đời ở kiếp

    Ăn đồng chia đủ

    Ăn đong cho đáng ăn đong

    Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng)

    Ăn đua cho đáng ăn đua

    Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng

    Ăn dùa thua chịu (thua giựt)

    Ăn dưng ở nể

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo)

    Ăn đứt thiên hạ

    Ăn gạo tám chực đình đám mới có

    Ăn già ăn non

    Ăn giả vạ thật

    Ăn gian nói dối

    Ăn gian nói dối đã quen

    Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người

    Ăn gio bọ trấu

    Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn gió nằm sương

    Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ

    Ăn gởi nằm nhờ

    Ăn ha hả trả ngùi ngùi

    Ăn hại đái nát

    Ăn ham chắc mặc ham dày

    Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão)

    Ăn hết cả phần cơm chó

    Ăn hết cả phần con phần cháu

    Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ

    Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài

    Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương)

    Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu

    Ăn hết nước hết cái

    Ăn hết phần chồng phần con

    Ăn hiền ở lành

    Ăn hóc học nên

    Ăn hối lộ

    Ăn hơn hờn thiệt

    Đánh thiệt đuổi đi

    Làm chi thì làm

    Ăn hơn nói kém

    Ăn hương ăn hoa

    Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít ngon nhiều

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói

    Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói

    Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ

    Ăn không biết chùi mép (chùi miệng)

    Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa)

    Ăn không biết lo của kho cũng hết

    Ăn không biết no lo chẳng tới

    Ăn không biết no vô lo vô nghĩ

    Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời

    Cây cao bóng cả chẳng ngồi

    Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

    Ăn không biết trở đầu đũa

    Ăn không được đạp đổ

    Ăn không được phá cho hôi

    Ăn không được thì bảo rằng hôi

    Ăn không kịp nuốt

    Ăn không kịp thở

    Ăn không nên đọi nói không nên lời

    Ăn không ngồi rồi

    Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi

    Ăn không nói có

    Ăn không ra bữa

    Ăn không rau như đau không thuốc

    Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em

    Ăn kiêng ăn khem

    Ăn kiêng cữ

    Ăn kiêng khem

    Ăn kiêng nằm cữ

    Ăn kỹ làm dối

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng)

    Ăn la ăn lết

    Ăn la ăn liếm

    Ăn lắm đau bụng

    Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền

    Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn

    Ăn lắm ỉa nhiều

    Ăn làm sao nói làm vậy

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ

    Ăn lắm trả nhiều

    Ăn lạt mới biết thương mèo

    Ăn lấy chắc mặc lấy bền

    Ăn lấy đặc mặc lấy dày

    Ăn lấy đời chơi lấy thì

    Ăn lấy được

    Ăn lấy hương lấy hoa

    Ăn lấy no mặc lấy ấm

    Ăn lấy thảo

    Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo

    Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang

    Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong

    Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn)

    Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi

    Ăn lông ở lỗ

    Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám

    Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư

    Ăn lúc đói nói lúc say

    Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng

    Ăn mặc như đồ ba gà

    Ăn mặc như em quần áo lam lũ

    Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương

    Ăn mắm lắm cơm

    Ăn mắm mút dòi

    Ăn mắm phải nhắm chén cơm

    Ăn mắm phải ngắm về sau

    Ăn mặn hay khát nước

    Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

    Ăn mận trả đào

    Ăn mảnh

    Ăn mảnh khảnh

    Ăn mật trả gừng

    Ăn mày ăn xin

    Ăn mày cầm tinh bị gậy

    Ăn mày chẳng tày giữ bị

    Ăn mày chính thực là ta

    Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

    Ăn mày còn đòi sang,

    Ăn mày công đức

    Ăn mày cửa Phật

    Ăn mày đánh đổ cầu ao

    Ăn mày đòi xôi gấc

    Ăn mày hoàn bị gậy

    Ăn mày không tày giữ bị

    Ăn mày mà đòi xôi gấc

    Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con

    Ăn mày quen ngõ

    Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi)

    Ăn miếng ngon chồng con trả người

    Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà

    Ăn miếng ngọt trả miếng bùi

    Ăn miếng trả miếng

    Ăn mít bỏ xơ

    Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn một bát hát một câu

    Ăn một bữa một heo

    Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô.

    Ăn một đền mười

    Ăn một đời chơi mội thì

    Ăn một đọi nói một lời

    Ăn một lại muốn ăn hai

    Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường)

    Ăn một miếng tiếng để đời

    Ăn một nơi nằm một chốn

    Ăn một nơi ngủ một nẻo

    Ăn một thời chơi một thì

    Ăn muối còn hơn ăn chuối chát

    Ăn mướp bỏ xơ

    Ăn nạc bỏ cùi

    Ăn năn thì sự đã rồi

    Ăn nay lo mai

    Ăn nên đọi nói nên lời

    Ăn nên làm ra

    Ăn nên nợ đỡ nên ơn

    Ăn ngang nói ngược

    Ăn ngập mặt ngập mũi

    Ăn ngấu ăn nghiến

    Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng

    Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành

    Ăn ngay ở thẳng

    Ăn ngon lành

    Ăn ngon ngủ kỹ

    Ăn ngọn nói hớt

    Ăn ngọt trả bùi

    Ăn ngủ bận như thợ nề

    Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm

    Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm

    Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

    Ăn ngủ đụ ỉa

    Ăn ngược nói ngạo

    Ăn nhà chú ngủ nhà cô

    Ăn nhai không kịp

    Ăn nhạt mới biết thương mèo

    Ăn nhiều ăn ít

    Ăn bằng quả quít cho nó cam

    Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu

    Ăn nhịn để dè

    Ăn nhỏ nhẻ

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo

    Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ)

    Ăn nhờ sống gởi

    Ăn nhồm nhoàm

    Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ

    Ăn như bò ngốn cỏ

    Ăn như cũ ngủ như xưa

    Ăn như gấu ăn trăng

    Ăn như hộ pháp ăn nẻ

    Ăn như hủi ăn thịt mỡ

    Ăn như hùm như hổ

    Ăn như kễnh đổ đó

    Ăn như mèo

    Ăn như mõ khoét

    Ăn như Nam Hạ vác đất

    Ăn như quỷ phá nhà chay

    Ăn như rồng cuốn

    Làm như cà cuống lội ngược

    Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi)

    Ăn như thần trùng đổ đó

    Ăn như thúng lủng khu

    Ăn như thủy tề đánh vực

    Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng

    Ăn như tráng làm như lão

    Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi

    Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi

    Ăn no bò cỡi

    Ăn no cho tiếc

    Ăn no đến cổ còn thèm

    Ăn no giậm chuồng

    Ăn no hôm trước lo được hôm sau

    Ăn no lại ngồi mười đời không khá

    Ăn no lo được

    Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn

    Ăn no ngủ kỹ

    Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì

    Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời

    Ăn no phè phỡn

    Ăn no ra ngả

    Ăn no rồi lại nằm khèo

    Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem

    Ăn no rồi lại nằm quèo

    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem

    Ăn no rửng mỡ

    Ăn no tận cổ còn thèm

    Ăn no tức bụng

    Ăn no vác nặng

    Ăn nói ác khẩu

    Ăn nồi bảy quăng ra

    Ăn nồi ba đưa vào

    Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào

    Ăn nói bộp bộp tộp

    Ăn nói bộp chộp

    Ăn nói chanh chua

    Ăn nói chảnh lỏn

    Ăn nói chết cây gẫy cành

    Ăn nói chua ngoa

    Ăn nói chững chạc

    Ăn nói có duyên

    Ăn nói dịu dàng

    Ăn nói dóng đôi

    Ăn nói giọng một

    Ăn nói hồ đồ

    Ăn nói hớ hênh

    Ăn nói hỗn xược

    Ăn nói khiêm tốn

    Ăn nói khúc chiết

    Ăn nói lấp lững

    Ăn nói lễ độ

    Ăn nói luộm thuôm

    Ăn nơi nằm chốn

    Ăn nói ra vẻ

    Ăn nói rành mạch

    Ăn nói thô tục

    Ăn nói từ tốn

    Ăn nói vớ vẩn

    Ăn nói xấc láo

    Ăn nói xấc xược

    Ăn ở có giời

    Ăn ở có thủy có chung

    Ăn ở hai lòng

    Ăn ở thất đức

    Ăn ở thiện thì có thiện thần biết

    Ăn ở ác có ác thần hay

    Ăn ở thủy chung

    Ăn oản của chùa phải quét lá đa

    Ăn ốc nói mò

    Ăn ốc nói mò

    Ăn măng nói mọc

    Ăn cò nói bay

    Ăn ớt nói càn

    Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy

    Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê.

    Ăn phải đũa

    Ăn phải mùi chùi phải sạch

    Ăn phải nhai nói phải nghĩ

    Ăn phùng má trợn mắt

    Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu

    Ăn quà cho biết mùi quà

    Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn

    Ăn quả nhả hạt (nhả hột)

    Ăn quả nhớ kẻ làm vườn

    Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2)

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3)

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4)

    Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5)

    Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn

    Ta đừng phụ nghĩa vong ân

    Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6)

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa

    Ăn quà như mõ khoét

    Ăn quả trả vàng

    Ăn quả vả trả quả sung

    Ăn quẩn cối xay

    Ăn quán ngủ đình

    Ăn quen bén mùi

    Ăn quen chồn đèn mắc bẫy

    Ăn quen nhịn không quen

    Ăn rá cơm ỉa rá cơm

    Ăn ráy ngứa miệng

    Ăn rồi cắp đít đi chơi

    Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa

    Ăn rồi dắt vợ lên rừng

    Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai.

    Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng

    Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về

    Ăn rồi quẹt môi

    Ăn rươi chịu bão cho cam

    Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

    Ăn sạc nghiệp

    Ăn sạch bát sạch dĩa

    Ăn sao cho được mà mời

    Thương sao cho được vợ người mà thương

    Ăn sao đền vậy

    Ăn sạt nghiệp

    Ăn sau đầu quét dọn

    Ăn sâu ngập cánh

    Ăn se sẻ đẻ ông voi

    Ăn sổi ở thì

    Ăn sóng nói gió

    Ăn sống nuốt tươi

    Ăn sung mặc sướng

    Ăn sung ngồi gốc cây sung

    Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (2)

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng!

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (3)

    Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai?

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (4)

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

    Ăn sung trả ngáy

    Ăn tái ăn tam

    Ăn tại phủ ngủ tại công đường

    Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà

    Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi

    Ăn tàn phá hại

    Ăn táo trả hột

    Ăn tay ăn túi

    Ăn tham chắc mặc tham dày

    Ăn tham lam làm trốc mép

    Ăn thanh cảnh

    Ăn thanh nói lịch

    Ăn thật làm dối

    Ăn thật làm giả

    Ăn thất nghiệp trả quan viên

    Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời)

    Ăn thì ăn (lựa) những món ngon

    Làm thì chọn việc cỏn con mà làm

    Ăn thì ăn trước ngồi trên

    Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ.

    Ăn thì có mó thì không

    Ăn thì có ó thì không

    Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng

    Ăn thì em chả kém ai

    “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ”””

    Ăn thì ha hả trả thì hu hu

    Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh

    Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy

    Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu

    Ăn thì no cho thì tiếc

    Ăn thì nồi bẩy nồi ba

    Làm thì nống một, nống ba kéo dài

    Có làm cũng chẳng bằng ai

    Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

    Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu)

    Ăn thiệt làm dối

    Ăn thịt người không tanh

    Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn thô nói tục

    Ăn thô tục nói thô lỗ

    Ăn thóc tìm giống

    Ăn thừa mứa

    Ăn thừa nói thiếu

    Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã)

    Ăn thúng trả đấu

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi

    Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.

    Hỡi người quân từ trăm năm

    Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

    Ăn tìm đến đánh tìm đi

    Ăn to như đầu beo

    Làm việc như đuôi chuột.

    Ăn to nói lớn

    Ăn to uống đậm

    Ăn tối lo mai

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2)

    Uống nước nhớ người đào giếng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3)

    Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng

    Ăn trắng mặc trơn

    Ăn trầu chọn lấy cau khô

    Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng

    Cô bán hàng lòng cô buồn bã

    Bóng xế chiều bóng ngả về tây

    Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

    Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi

    Ăn trầu mà có vỏ chay

    Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm

    Ăn trầu nhà trai

    Ăn trầu phải mở trầu ra

    Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi

    Ăn trầu thì bỏ quên vôi

    Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng!

    Ăn trầu thì phải có vôi

    Cúng rằm thì phải có xôi có chè

    Ăn trên ngồi trốc

    Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài

    Ăn trên ngồi trước (nói trước)

    Ăn tro bọ trấu

    Ăn trộm ái tình

    Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên

    Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

    Ăn trộm chê vải hẹp khổ

    Ăn trộm có tang chơi ngang có tích

    Ăn trộm của trời

    Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn trông xuống uống trông lên

    Ăn trứng thì đừng ăn con

    Ăn trước bước không nổi

    Ăn trước trả sau

    Ăn từ dần chí dậu

    Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa

    Ăn từ đầu dần tới cuối dậu

    Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ

    Ăn tục nói phét

    Ăn tươi nuốt sống

    Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi

    Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi

    Ăn tùy nơi chơi tùy chốn

    Ăn tuyết nằm sương (uống sương)

    Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi

    Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi

    Ăn uống vô độ

    Ăn vãi đầu vãi đuôi

    Ăn văng đổ vãi

    Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân

    Ăn vặt quen mồm

    Ăn vay từng bữa không cửa không nhà

    Ăn vi chủ ngủ vi tiên

    Ăn vô điều độ

    Ăn vô độ (vô hậu)

    Ăn vóc học hay

    Ăn vóc học nên

    Ăn vừa ở phải

    Ăn vung bỏ vãi

    Ăn vụng chóng no

    Ăn vụng không biết chùi mép

    Ăn vụng ngon miệng

    Ăn vụng xó bếp

    Ăn xì xà xì xụp

    Ăn xin cho đáng ăn xin

    Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa

    Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn)

    Ăn xó bếp uống nước ao

    Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

    Ăn xô bồ

    Ăn xó mó niêu

    Ăn xôi chùa ngậm họng

    Ăn xôi chùa quét lá đa

    Ăn xôi không bằng đôi đĩa

    Ăn xôi nghe kèn

    Ăn xổi ở thì

    Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi

    Ăn xong không biết chùi mép

    Ăn xong quẹt mỏ

    Ăn xưa chừa nay (sau)

    Ăn xuôi nói ngược

    Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

    Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

    Hàn Lệ Nhân

    (Sưu tầm, lược soạn)

    Ăn mới thực văn nhân tài tử,

    Ăn nguyên là văn tự quốc gia.

    “Trăm năm trong cõi người ta”,

    Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.

    (Đào Trọng Đủ)

    Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

    Mở đầu :

    Ai mở cuộc thi

    [ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

    1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy.

    Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

    2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

    3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

    Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

    4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau:

    a/ Có nên thống nhất triệt để ?

    b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ?

    c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

    ********************

    Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

    Ai mở cuộc thi

    để tôi kiêu ngạo,

    tôi trêu giám khảo,

    tôi nhạo chàng Phan.

    Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

    Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

    Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

    Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

    Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

    Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

    Antony ngày 28-6-1979

    Cô Đào

    Để tôi kiêu ngạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Những Câu Nói Hay Về Chữ Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Cơn Mưa Buồn Tâm Trạng Cô Đơn
  • Câu Nói Stt Hay Về Biển Đảo Và Em Đầy Tâm Trạng Ý Nghĩa Nhất
  • #1001 Câu Nói Hay Về Biển Dạt Dào Cảm Xúc Được Share Rầm Rộ
  • Câu Nói Hay Về Biển ❤️ Caption Về Biển Sâu Sắc, Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Đêm Khuya Buồn Không Ngủ Được
  • Trong văn hóa của người Việt rất coi trọng đạo lý làm người, đó là thước đo quyết định phẩm chất con người. Nhất là triết lý của nhà Phật, đã ăn sâu vào tiềm thức luôn nhắc nhở mỗi người phải giữa trọn đạo lý, để không làm những điều sai quấy. Chỉ có 1 chữ duy nhất như tâm, phúc, lộc, thọ, nhẫn,… mà cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa và bài học quý giá, có khi rèn luyện cả đời cũng không thành. Trong bài viết này, xin gửi tới gia chủ những câu nói hay về chữ tâm, được chắt lọc kỹ càng.

    Tại sao nên biết những câu nói hay về chữ tâm ?

    Trong cuộc sống hàng ngày, chữ “tâm” cũng rất quan trọng. Chỉ khi đặt tâm vào gia đình, công việc, bạn bè, các mối quan hệ khác. Bạn mới được mọi người yêu quý, công việc mới hoàn thành tốt đẹp, gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Một người sống có tâm, luôn nhận được nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống, luôn gặp được những may mắn và thuận lợi hơn trong công việc. Đặc biệt là ít khi hãm hại và làm người khác tổn thương.

    Vì vậy, mỗi người cần nên tìm hiểu những câu nói hay về chữ tâm, để có thể hiểu rõ hơn về bản thân mình và sống trọn đạo lý.

    Những câu nói hay về chữ tâm chứa đựng ý nghĩa sâu sắc

    4. Tướng tùy tâm sinh – Tướng tùy tâm diệt

    5. Ta hay chê cuộc đời méo mó

    Sao không tròn tự ở trong tâm

    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

    7. Dù đời sóng gió điêu linh

    Chữ tâm cứu rỗi hành trình con đi.

    8. Thiên thời bất như địa lợi, đại lợi bất như nhân hoà.

    (thời thế thuận không bằng địa thế lợi, địa thế lợi không bằng tâm nhân hoà)

    9. Tâm nhàn muôn sự thông ba cõi

    Một tiếng cười khan ấm đất trời.

    Ở đâu cũng thấy như đang ở nhà.

    11. Đời gian khó xin đừng oán hận

    Làm bạn ân tình đức nhẫn tại tâm.

    12. Siêng năng quét rác vườn tâm

    Cho cây tuệ giác nảy mầm tốt tươi.

    14. Sống trong cõi mộng vô thường

    Nguồn tâm toả sáng rạng thoát đường sanh.

    15. Bị phỉ báng chẳng sân là khó

    Tâm thường bình đẳng là khó

    Tuỳ duyên độ người là khó

    Có thế lực chẳng ỷ lại là khó.

    16. Nhẹ chuông ai điểm đời hư ảo

    Đánh thức vầng trăng sáng tự tâm.

    17. Cam lồ ngọt nước lá sen

    Vẫy tay buông xả tâm hồn sáng trong.

    18. Tâm bình thường tâm thị đạo.

    21. Nhận đời manh áo bát cơm

    Trao đời tất cả tấm lòng thanh cao.

    22. Nhẹ chuông ai điểm đời hư ảo

    Đánh thức vầng trăng sáng tự tâm

    23. Mở rộng tâm ra lòng thanh thản

    An vui tự tại đời thong dong

    24. Lắng lòng lại cho thời gian ngưng đọng

    Trải lòng ra để mở rộng không gian.

    25. Tâm không hay hờn giận

    Lòng khoan dung rộng rãi

    26. Chữ Tâm độc tự thế mà hay

    Thành bại nên hư bởi chữ này

    Tuổi trẻ gắng rèn già cố giữ

    Cuộc đời gói gọn cả vào đây.

    28. Đức trọng, nhân trường thọ.

    29. Sự việc tới tâm vui đón nhận

    Việc qua rồi tâm cũng theo qua.

    30. Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát

    Không đúng không sai tự tại thân.

    31. Trăm năm tóc cũng đổi màu

    Chữ tâm sáng mãi giữa màu thời gian

    32. Sống không giận không hờn không oán trách

    Sống mỉm cười với thử thách chông gai

    Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai

    Sống chan hòa với những người chung sống

    Sống là động mà không xao động

    Sống là thương mà chẳng vấn vương

    Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường

    Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.

    Những mẫu tranh chữ tâm bằng đồng chế tác thủ công tinh xảo

    Qua những câu nói hay về chữ tâm ở trên, đã phần nào làm sáng tỏ hơn về ý nghĩa chữ “tâm”. Chính vì cao quý, thiêng liêng nên chữ “tâm” được chế tác dưới nhiều chất liệu và xuất hiện ở nhiều nơi. Trong đó mẫu tranh chữ “tâm” bằng đồng, được rất nhiều gia chủ ưa chuộng.

    Tranh chữ “tâm” bằng đồng được chế tác thủ công tinh xảo bởi nghệ nhân làng nghề đúc đồng Ý Yên – Nam Định. Từng đường nét được trau chuốt tỉ mỉ cẩn thận từng chi tiết, chứa đựng tâm lực của người nghệ nhân. Khi ngắm nhìn bức tranh, gia chủ như thấy những câu nói hay về chữ tâm đang gói gọn ở đây, chân thực trong từng nét chữ.

    , là vật phẩm trang trí nội thất độc và quà tặng vô cùng ý nghĩa.

    Nếu quý khách có nhu cầu về các sản phẩm đồ đồng, xin vui lòng liên hệ tại:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Từ Quà Tặng Cuộc Sống (P1)
  • Những Câu Nói Hay Trong Các Tác Phẩm Văn Học
  • Những Câu Nói Hay Nhất Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa
  • Sưu Tầm Những Câu Nói Hay Trong Ngôn Tình Trung Quốc Bạn Yêu Thích
  • Những Câu Nói Hay Của Trung Quốc, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100