Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi

--- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa, Hạt Gạo, Nông Dân Ruộng
  • Đề Tài Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Công Dân Ở Các Lớp 6, 7
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ Lẫn Nhau
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Đak Lak, Đak Nông, Điện Biên Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • 1 Những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi Author : Ngân Hường Categories : Văn hóa Các câu ca dao tục ngữ là những kinh nghiệm mà ông bà ta đúc kết từ xa xưa rất bổ ích và ý nghĩa. Các câu ca dao tục ngữ thường nói về ông bà cha mẹ, con cái, cuộc sống cũng như những điều rất ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng ta. Bên cạnh những câu ca dao tục ngữ về ông bà cha mẹ còn có những câu tục ngữ về thiên nhiên và con người. Những câu tục ngữ về thiên nhiên thường nhắc đến các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, gió bão, ngoài các hiện tượng đó thì những câu ca dao tục ngữ còn nhắc đến cây cối như cây dừa, cây tre, cây bưởi, những loại cây có ý nghĩa đối với nhân dân ta, ý nghĩa về mặt kinh tế lẫn về mặt lịch sử, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về cây cối, câu dừa, cây tre, cây bưởi. Những câu ca dao tục ngữ về cây dừa: Câu 1: Không chồng, son phấn qua loa, Có chồng, em trang điểm nước hoa dầu dừa Dừa là một loại cây rất thân thương và quen thuộc đối với cuộc sống của con người. cây dừa được sử dụng hầu hết các bộ phận của cây như thân cây được dùng làm gỗ, lá cây dùng để lợp nhà, trái dừa dùng để uống nước,. Bên cạnh đó dừa còn dùng để làm nước hoa cho người phụ nữ xưa. Câu 2: Bến Tre dừa ngọt sông dài Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh. ở nước ta dừa được trồng nhiều nhất ở Bến Tre, ở đây có rất nhiều dừa và rất nổi tiếng về dừa. mỗi lần đến đây chúng ta sẽ thấy được rất nhiều sản phẩm được sử dụng làm nhiều trong cuộc sống. Từ Bến Tre có nhiều dừa làm ra kẹo nổi tiếng ở Mỏ Cày. Câu 3: Tài liệu chia Bến sẻ tại Tre dừa xanh bát ngát Đường đi Ba Vát gió mát tận xương.

    3 Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm. Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông. Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm, Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong. Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ, Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé, Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên, Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền. Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi Mà lá tươi xanh mãi đến giờ Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua Dừa Bến Tre ba đồng một trái, Chuối Bến Tre một nải đồng ba. Ai biểu anh đến rồi lại đi ra, Để em thương nhớ, em chờ em đợi, nước mắt sa vắn dài. Trồng dừa ra đọt chặt tàu Sợ em đổi dạ tham giàu bỏ anh. Em đi lên xuống cầu dừa, Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh. Kìa vườn dừa cây cao cây thấp Gió quặt quà cành lá xác xơ Thương em anh vẫn đợi chờ. Tài liệu chia sẻ tại Ăn dừa ngồi gốc cây dừa,

    4 Cho em ngồi với, cho vừa một đôi. Trời mưa lộp bộp lá dừa Bợp anh ba bợp cho anh chừa đi đêm. Gió đưa gió đẩy lá dừa, Muốn ai thì muốn nhưng chừa em ra. Dừa xanh trên bến Sông Cầu Dừa bao nhiêu trái, dạ em sầu bấy nhiêu. Trăng lên khuất bóng cây dừa, Làm thân con gái phải chừa đi đêm. Muốn trong bậu uống nước dừa Muốn nên cơ nghiệp, bậu chừa lang vân. Dừa tơ bẹ dún tốt tàng, Giàu sang có chỗ, điếm đàng có nơi. Đất thiếu trồng dừa, Đất thừa trồng cau. Dừa giao lá, cá giao đuôi. Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy, Biết bao đau thương biết mấy oán hờn. Ai xui thằng giặc đi càn, Vô sâu ong đốt, ra đàng gặp chông. Dừa bị thương dừa không cúi xuống Vẫn ngẩng lên ca hát giữa trời Tài liệu Nếu chia ngã sẻ xuống tại dừa ơi không uổng

    5 Dừa lại đứng lên thân dựng pháo đài. Những câu ca dao tục ngữ về cây tre: Câu 1: Tre già khó uốn. Cây tục ngữ nói về cây tre khi già sẽ khó uốn, khi già sẽ khó khăn trong việc uốn nắn để thành vật giống. Cây tục ngữ mươn cây tre để nói về sự dạy bảo con người, khi còn nhỏ không dạy bảo lớn lên sẽ không dạy bảo được. Câu 2: Tre già măng mọc. Tre là một loại cây rất nổi tiếng, rất có ý nghĩa trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta. Khi tre già thì sẽ có măng mọc lên, tre là loài cây không bao giờ tàn, không bao giờ bị chết. Câu 3: Đóng tre căng bạc giữa đồng Các anh pháo thủ xoay nòng súng lên Súng anh canh cả trời đêm Để cho trăng đẹp toả lên xóm làng. Dây là câu tục ngữ nói về cây tre, nhắc đến giá trị và ý nghĩa của cây tre. Ngày xưa cây tre rất có ý nghĩa trong các cuộc kháng chiến, những cuộc kháng chiến luôn có sự hiện diện của cây tre. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây tre: Tre già là bà lim. Có tre mới cho vay hom tranh. Tre non dễ uốn. Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi. Tre lướt cò đỗ. Chặt tre cài bẫy vót chông Tài liệu chia sẻ tại Tre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu.

    7 Câu 1: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh ngắt Em đã có chồng anh tiếc lắm thay Bài ca dao nói về chuyện tình cảm của đôi trai gái được thể hiện qua các loại cây như cây bưởi, nụ tầm xuân, Những hình ảnh ấy nói lên tính cảm yêu thương của người con trai đối với người con gái mình yêu thương. Câu 2: Qua tỉ như chùm gởi đáp nhờ Gá vô nhánh bưởi nọ đặng nhờ hưởng hơi Câu ca dao thể hiện tình cảm của đôi trai gái, của nam nữ được thể hiện qua hình ảnh chum gởi và cây bưởi. hình ảnh chum gởi nhờ vào nhánh bưởi để hưởng hơi nhánh bưởi. Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây bưởi: Mưa tháng bảy gãy cành trám Nắng tháng tám rám cành bưởi Cái sáo mặc áo em tao Làm tổ cây cà Làm nhà cây chanh Đọc canh bờ giếng Mỏi miệng tiếng kèn Hỡi cô trồng sen! Cho anh hái lá Hỡi cô trồng bưởi! Tài liệu chia sẻ tại Cho anh hái hoa

    8 Cứ một cụm cà Là ba cụm lý Con nhà ông lý Mặc áo tía tô Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về cây cối: Ba năm mít mới đóng đài Hoa thơm nỏ rộ, hoa xoài nở đua Bông lài, bông lựu, bông ngâu Sao bằng bông bưởi thơm lâu dịu dàng Cây bần kia hỡi cây bần Lá xanh bông trắng lại gần không thơm Hoa lài hoa lý hoa Ngâu Chẳng bằng hoa bưởi thơm lâu diệu dàng Một cành đào sớm nở hoa Muôn ngàn cây cỏ, theo đà nương thân. Ngó lên đám ngó xanh xanh Người mong hái nụ, người dành bẻ gương Tạnh trời mưa kéo về non Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa Thiếu chi củi quế rừng ta Kiếm chi củi mục rừng xa đem về Tài liệu chia Tre sẻ tại già đan sọt, nứa tốt đan bồ Trồng Tùng tưới nước cho Tùng

    9 Em săm say trên đọt, dưới gốc sùng không hay Trồng cây cũng muốn cây xanh, Kết đôi hổng đặng để thành phu thê. Nghe vẻ nghe ve Nghe vè về rau Xấc láo hỗn hào Là rau ngành ngạnh Trong lòng không tránh Vốn thiệt tâm lang Đất rộng bò ngang Là rau muống biển Quan đòi thầy kiện Bình bát nấu canh Ăn hơi tanh tanh Là rau dấp cá Không ba có má Rau má có bờ Thò tay so đo Nó là rau nhớt Ăn cay như ớt Vốt thiệt rau răm Sống tới ngàn năm Tài liệu Là rau chia vạn sẻ tại thọ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Ngữ, Thành Ngữ, Câu Đố
  • Tục Ngữ Về Tình Yêu Nam Nữ Hay ❤️ 1001 Câu Chế Vui
  • Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc ❤️ Tục Ngữ Vợ Chồng Hay
  • Những Câu Ca Dao Nói Về Cha Mẹ ❤️ Tục Ngữ Cha Mẹ Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Cải Biên
  • Cây Cầu Trong Ca Dao Tục Ngữ Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Câu Ca Dao Hài Hước Về Người Phụ Nữ
  • Tổng Hợp 20 Câu Nói Đáng Nhớ Về Tình Bạn
  • Những Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình: 50+ Thành Ngữ, Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Vợ Chồng, Tình Cảm Vợ Chồng
  • 80+ Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Yêu Đôi Lứa Khắc Họa Những Mối Tình Giản Đơn, Bình Dị
  • Phải chi lấy được vợ vườn

    Tập đi cầu khỉ thêm đường dọc ngang

    Em đi lên xuống cầu dừa

    Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh

    Khó đi bậu vẫn cứ đi,

    Mượn ly uống rượu, mượn đờn đánh chơi.

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?

    Nhà tôi ở giữa đám dâu

    Phía trên đám đậu, đầu cầu ngó qua

    Ngó qua thấy bắp trổ cờ

    Thấy dưa trổ nụ, thấy cà trổ bông

    Cầu tre lắc lẻo anh thắt thẻo ruột gan.

    Sợ em đi chửa quen đàng,

    Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh…

    Gỗ trắc đem lát ván cầu

    Yên sào đem nấu với đầu tôm khô

    Bằng lăng chặt khúc bắc cầu

    Đặng anh qua lại giải sầu cho em

    Xa nhau anh muốn lại gần,

    Cầu không tay vịn, anh lần anh qua.

    Cầu nào cao bằng cầu danh vọng,

    Nghĩa nào trọng bằng nghĩa tao khang.

    Anh đi qua cầu sắt,

    Anh nắm tay em thật chắc, miệng hỏi gắt chung tình.

    Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?

    Cầu cao ván yếu gió rung,

    Em không đi được cậy cùng có anh.

    Thương chàng vô lượng, vô cân

    Cầu không tay vịn cũng lần mà qua

    Sông cách sông, thủy cách thủy,

    Em xe sợi chỉ, em bắc cây cầu,

    Để cho anh sang mà giảm mối sầu tương tư.

    Cầu cao ván yếu, con ngựa nhỏ xíu, nó chạy tứ linh.

    Em đi đâu tăm tối một mình,

    Hay là em có tư tình với ai?

    Bước lên cầu ván mỏng, miếng ván cong vòng,

    Thấy em mê cờ bạc, trong lòng hết thương.

    Muốn sang thì bắt cầu kiều

    Muốn con hay chữ, thì yêu lấy thầy

    Cầu nào cao bằng cầu Cái Cối

    Gái nào giỏi bằng gái Bến Tre

    Sông sâu biết bắc mấy cầu

    Thân em là gái biết hầu mấy nơi

    Mồng tơi bắc chả nên cầu

    Chàng về xẻ gỗ bắc cầu em sang

    Chỉ xanh, chỉ đỏ, chỉ vàng

    Một trăm thứ chỉ bắc ngang đầu cầu

    Nào em đã có chồng đâu

    Mà chàng đón trước rào sau làm gì

    Tiếng ai tha thiết bên cầu

    Có phải nhân ngãi ăn trầu thì sang?

    Cầu ao ván yếu gập ghềnh

    Chân lần tay dắt chung tình đi qua

    Chiều chiều vịt lội mênh mông

    Cầu trôi ván nổi ai bồng em qua

    Bao giờ sông hẹp bằng ao,

    Bắc cầu chiếc đũa qua trao lời nguyền

    Chừng nào cầu sắt gãy hai

    Sông Sài Gòn lấp cạn anh sai lời nguyền

    Dầu mà nước ngập bờ sông,

    Cầu trôi nhịp giữa, tôi cũng không bỏ nàng

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Qua cầu ngả nón trông cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu

    Xin anh hãy cứ an tâm,

    Trước sau rồi cũng bắt cầu đẹp duyên

    Vì tằm em phải chạy dâu

    Vì chồng em phải qua cầu đắng cay

    Qua cầu một trăm cái nhịp

    Em không theo kịp kêu bớ hỡi chàng

    Cái điệu tào khang sao chàng vội dứt

    Đêm nằm nghỉ tức, giọt lệ tuôn rơi

    Nhón chân lên kêu: Bớ hỡi trời!

    Ai bày mưu cho bạn, bạn dứt nơi ân tình”

    Ai ngờ anh lại phỉnh mình,

    Qua cầu rút ván để mình bơ vơ

    Qua cầu lột ván tháo đinh

    Người thương ở bạc với mình không hay

    Cây khô chết đứng chẳng xứng duyên đầu

    Mưa giông anh không sợ, mà sợ cây cầu bắc ngang

    Nào khi gánh nặng anh chờ

    Qua cầu anh đỡ bây giờ quên anh !

    Ba má em tham ruộng đầu cầu

    Tham nhà con một, tham trâu đầy chuồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 275 Câu Tục Ngữ Việt Nam
  • Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Vĩnh Phúc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ Chồng Nàng Dâu Hay ❤️ Thâm Thuý
  • Chuyện Vui Ngày Tết:con Gà Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Hệ Thống Từ Ngữ , Thành Ngữ Mrvt Theo Chủ Đề Lớp 4
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam.

    Ca dao tục ngữ hay về cây lúa

    những câu ca dao tục ngữ hay về cây lúa Việt Nam.

    Cây lúa là gì?

    Cây lúa là cây đã có từ thời xa xưa, là loại cây mà người nông dân nuôi trồng sản xuất để tạo thành cơm ăn hoặc buôn bán.

    Cây lúa bắt nguồn từ thời nguyên thủy, họ phải đi săn bắt, hái lươm những cây trái về ăn, sau đó họ thấy cây lúa ăn thật ngon, họ lại đem đi gieo ở những vùng đất khô ,nhân giống thêm và để có cái ăn, sau một thời gian dài người ta đã có ý thức và kinh nghiệm về cây lúa, đem gieo ở những vùng đất có nhiều nước, người dân thấy cây lúa tốt hơn và đã duy trì từ đó đến bây giờ. Tạo thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam.

    Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa Việt Nam

    1.

    Lúa khô nước cạn ai ơi

    Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

    Hai câu thơ trên hàm ý muốn nói là thúc đẩy người dân hãy tưới nước chứ đừng chờ trời mưa, vì lúa đã khô sẽ dễ chết sau đó sẽ mất mùa vụ,

    2.

    Cực lòng thiếp lắm chàng ơi

    Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than

    Than vì cây lúa lá vàng

    Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa

    Trông trời chẳng thấy trời mưa

    Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời

    Bài thơ nói về thời tiết khô hanh làm cho cây lúa “vàng” tức là lúa đã khô héo mà trời vẫn chưa chịu đổ mưa.

    3.

    Thân em như lúa nếp tơ,

    Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu

    Ý muốn nói “thân em” như một cây lúa đang tươi tốt và màu xanh ươm, nghệ thuật so sánh “thân em” với “cây lúa” rất hay.

    4.

    Mạ non bắt trẻ cấy biền

    Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

    “Mạ non” tức là cây lúa non được gieo ở ruộng riêng (ruộng mạ), hình ảnh “mạ non” cho thấy về sau phải nhổ lên để cấy lại, thể hiện người làm nông không hề sướng ích gì.

    5.

    Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Hai câu thơ trên có hàm ý kêu gọi trời cao hãy mưa để cho đồng lúa xanh tươi tốt, năng suất cao, tránh mất mùa vụ

    6.

    Được mùa lúa, úa mùa cau

    Được mùa cau, đau mùa lúa

    Hai câu thơ lý giải hiện tượng thiên nhiên, là tới mùa lúa thì hết mùa cau, còn đến mùa cau thì lúa lại mất vụ. Ông bà ta đã quan sát và đút kết lại kinh nghiệm sống cho con cháu quá hay.

    7.

    Trời cao đất rộng thênh thang,

    Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng,

    Cá tươi gạo trắng nước trong,

    Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê

    Bài thơ trên có hàm ý muốn nhắn nhủ chúng ta luôn nhớ về quê hương, luôn nhớ về những mùa lúa chín vàng ươm và thơm nồng.

    8.

    Ăn kĩ no lâu

    Cày sâu tốt lúa.

    Đây là kinh nghiệm sống cho người nông dân làm nông, cày càng sâu thì lúa sẽ càng tốt. sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng là … năng suất cao ^^

    9.

    Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

    Bài thơ muốn nhắn nhủ chúng ta về công lao của những người nông dân đã làm ra gạo dẽo thơm cho chúng ta ăn, qua đó thể hiện sự cực khổ của người nông dân giữ trưa phải đi cày và mồ hôi nhễ nhại.

    10.

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    mình rất thích ca dao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Những Câu Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Cây Tre

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Hạnh Phúc Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Nói Xấu Người Khác! Dành Cho Những Kẻ Chuyên Đâm Chọt Sau Lưng Bạn!
  • 105+ Stt Mệt Mỏi, Status Cảm Thấy Mệt Mỏi Với Cuộc Sống Hiện Tại
  • Những Câu Danh Ngôn Nổi Tiếng Về Bia Rượu
  • Cây tre vốn là biểu tượng của hình ảnh làng quê Việt Nam. Hình ảnh cây tre xuất hiện rất nhiều trong thơ ca dân gian và các câu ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích..

    Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù, tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu.

    Những Câu Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Cây Tre

    Dưới đây là tổng hơp các câu tục ngữ thơ ca dân gian, các bài ca dao có nói đến cây tre.

    Nổi tiếng nhất có lẽ là bài thơ Tre Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy.

    Tre Việt Nam

    Tre xanh

    Xanh tự bao giờ?

    Chuyện ngày xưa.. đã có bờ tre xanh

    Thân gầy guộc, lá mong manh

    Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

    Ở đâu tre cũng xanh tươi

    Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

    Có gì đâu, có gì đâu

    Mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều

    Rễ siêng không ngại đất nghèo

    Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

    Vươn mình trong gió tre đu

    Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

    Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh

    Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

    Bão bùng thân bọc lấy thân

    Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm

    Thương nhau tre không ở riêng

    Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

    Chẳng may thân gãy cành rơi

    Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng

    Nòi tre đâu chịu mọc cong

    Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

    Lưng trần phơi nắng phơi sương

    Có manh áo cộc tre nhường cho con

    Măng non là búp măng non

    Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre

    Năm qua đi, tháng qua đi

    Tre già măng mọc có gì lạ đâu

    Mai sau,

    Mai sau,

    Mai sau

    Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh..

    Nguyễn Duy

    Tục ngữ

    Chém tre chẳng nể đầu mặt.

    Có tre mới cho vay hom tranh.

    Măng không uốn, tre uốn sao được.

    Măng không uốn thì tre trổ vồng.

    Ná tháng ba hơn tre già tháng tám.

    Tre già khó uốn.

    Tre già là bà lim.

    Tre già măng mọc.

    Tre non dễ uốn.

    Tre già nhiều người chuộng, người già ai chuộng làm chi.

    Tre lướt cò đỗ.

    Thế như trẻ tre.

    Tóc rễ tre.

    Giấy ngườinứa người tha hồ phết.

    Đốt cây lồ ô vướng cây le.

    Vỡ bè cũng vớ lấy cây nứa.

    Những bài ca dao về tre

    Ba đời bảy họ nhà tre

    Hễ cất lấy gánh nó đè lên vai

    Ba đời bảy họ nhà khoai

    Dù ngọt dù bùi cũng phải lăn tăn

    *

    Ba năm quân tử trồng tre

    Mười năm uốn gậy, đánh què tiểu nhân

    *

    Bên này sông có trồng bụi sả

    Bên kia sông ông xã trồng một bụi tre

    Trách ai làm bụi tre nó ngã, bụi sả nó sầu

    Phải chi ngoài biển có cầu

    Cho anh ra đó giải đoạn sầu cho em

    *

    Bụi tre lúp xúp, bụi trảy lùm xùm

    Anh mà có vợ em dùm đôi bông

    Bao giời đến lượt em lấy chồng

    Anh đem trả vốn anh không lấy lời

    *

    Bước chân vào ngõ tre làng

    Lòng buồn nặng trĩu nghe nàng ru con

    Bước lên thềm đá rêu mòn

    Lòng buồn nặng trĩu nghe buồn võng đưa

    *

    Cây tre lóng cụt lóng dài

    Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời

    *

    Chặt tre cài bẫy vót chông

    Tre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu.

    *

    Chẻ tre bện sáo ngăn sông

    Đến khi đó vợ đây chồng mới hay

    Chẻ tre bện sáo cho dày

    Ngăn sông Trà Khúc đợi ngày gặp em

    *

    Chẻ tre lựa cật đan nia

    Có chồng con một, khỏi chia gia tài

    *

    Chẻ tre lựa lóng đan sàng

    Chờ ba năm nữa cho nàng lớn khôn

    *

    Chém tre đan nón ba tầm

    Để cho chị đội qua rằm tháng giêng

    Tình nhân ghé nón đi qua

    Đôi hàng nước mắt nhỏ ra ròng ròng

    Thà rằng chẳng biết cho xong

    *

    Cóc kêu dưới rãnh tre ngâm

    Cóc kêu mặc cóc, tre dầm mặc tre

    *

    Con cò mà đậu cành tre

    Thằng Tây bắn súng cò què một chân

    Hôm sau ra chợ Ðồng Xuân

    Chú khách mới hỏi: Sao chân cò què?

    Cò rằng: Cò đứng bụi tre

    Thằng Tây bắn súng, cò què một chân!

    *

    Con chuột mắc bấy,

    Bới gốc tre già,

    Đẽo ra đòn xóc..

    Chồng đi lính,

    Vợ ở nhà khóc hi hi..

    Trời ôi! Sinh giặc làm chi!

    Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường.

    Con mèo con chó có lông

    Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai

    *

    Có thì nhà ngói lợp mè

    Nghèo thì kèo nứa, cột tre cũng đành

    *

    Cố đè thì tre chỉ cong

    Càng níu xuống thấp, càng vùng lên cao

    *

    Công anh đi sớm về trưa

    Mòn đường chết cỏ vẫn chưa gặp tình

    Khuyên anh đừng ở một mình

    Cây tre có bụi huống chi mình lẻ loi

    *

    Công anh chẻ nứa đan bồ

    Con chị đi mất, anh vồ con em

    Công anh rọc lá gói nem

    Con chị đi mất, con em lộn chồng

    *

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Tre non đuôi én đan tràng được chăng?

    *

    Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

    Tre xanh đủ lá đan sàng hay chưa?

    Chàng hỏi thì em xin thưa

    Tre vừa đủ lá đan sàng nên chăng?

    *

    Đóng tre căng bạt giữa đồng

    Các anh pháo thủ xoay nòng súng lên

    Súng anh canh cả trời đêm

    Để cho trăng đẹp tỏa lên xóm làng.

    *

    Em về cắt rạ đánh tranh

    Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà

    Sớm khuya hòa thuận đôi ta

    Hơn ai gác tía lầu hoa một mình.

    *

    Gần tre che một phía

    Gần mía bẻ một cây

    *

    Gốc tre già đẽo ra cái mõ

    Mẹ đi lấy chồng mẹ bỏ con ư?

    *

    Gió thổi re re, cây tre chộ nguyệt

    Anh có thương em, từ biệt chốn này

    *

    Gió đập cành tre, gió đánh cành tre

    Chiếc thuyền anh vẫn le te đợi nàng

    Gió đập cành bàng, gió đánh cành bàng

    Dừng chèo anh hát, cô nàng hãy nghe

    *

    Khăn điều cột ngọn cây tre

    Trăm gươm kề cổ quyết ve cô nàng

    *

    Lạt mục vì bởi tre non

    Lạt như giống bậu, còn son không thèm

    *

    Làng tôi có lũy tre xanh

    Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

    Bên bờ vải, nhãn, hai hàng

    Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

    *

    Lọng vàng che nải chuối xanh

    Tiếc con chim phượng đậu cành tre khô

    *

    Một cành tre, năm bảy cành tre

    Đẹp duyên thì lấy chớ nghe họ hàng.

    *

    Một duyên, hai nợ

    Anh sợ em sắp có chồng

    Anh chẻ tre bện sáo ngăn sông

    Cầm duyên em lại để kết đạo đồng cùng anh

    *

    Một nhành tre, năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai

    Nhà ai cửa đóng then cài,

    Anh vô không đặng, đứng ngoài anh trông.

    *

    Ngày nào anh nói em đành

    Bụi tre trước ngõ để dành đan nôi

    Bây giờ, anh nói em thôi

    Bụi tre trước ngõ đan nôi ai nằm?

    *

    Những là lên miếu xuống nghè

    Để tôi đánh trúc đánh tre về trồng

    Tưởng rằng nên đạo vợ chồng

    Nào ngờ nói thế mà không có gì

    *

    Nứa xanh lột rối bòng bong

    Gàu giai múc nước, ngọt lòng gàu giai

    *

    Sau gò có cái vườn tre

    Cách một đám đỗ, vườn mè băng ngang

    *

    Thiếu tre, thiếu ná đan giang

    Tre non đuôi én đan răng được tràng

    *

    Thuyền em có gãy một nan

    Không tin anh đội về làng mà xem

    Vườn anh có gốc tre già

    Thuyền em có gãy, anh chẻ nan gài lại cho

    *

    Tiếc cây nứa tốt có sâu

    Tiếc người lịch sự trên đầu có tang

    Tang chồng thì bỏ tang đi

    Tang cha tang mẹ ta thì tang chung

    Tang cha tang mẹ trên đầu

    Lẽ nào em dám bán sầu mua vui

    *

    Tiếng đồn Đông Phước nhiều tre

    Tham Hội nhiều lúa, Châu Me nhiều tiền

    *

    Trăng lên tắm lũy tre làng

    Trăng nhòm qua cửa, trăng tràn vô nôi

    Trăng thơm bên má em tôi

    Xanh hàng mi nhỏ, bé cười xinh xinh.

    *

    Tre đài ngã ngọn qua mương

    Nằm đêm nghĩ lại, ngẫm thương tre đài

    *

    Tre già anh để pha nan

    Lớn đan nong né, bé đan giần sàng

    Gốc thì anh để kê giường

    Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa

    *

    Tre già vì bởi nhện giăng

    Đêm khuya vì bởi khăng khăng nhớ chàng

    Buồn trông lửa tắt nhang tàn

    Dế kêu rủ rỉ thương chàng sầu riêng

    Ai làm duyên nợ đảo điên

    Trai anh hùng chịu thảm, gái thuyền quyên chịu sầu

    *

    Tre già, tre ngả bốn phương

    Nằm đêm nghĩ lại mà thương tre già

    *

    Tre già giòn lạt khó quai

    Thương anh rồi lại thương ai sao đành?

    *

    Tre lên ba lóng còn non

    Có chồng như bậu gái son không bằng

    *

    Tre non uốn chẳng được cần

    Nơi xa xấu tuổi, nơi gần bà con

    *

    Trời sinh ra lính làm chi

    Nay trẩy kinh kì, mai trẩy kinh đô

    Muối rang khô bỏ vô ống nứa

    Gạo ba mùa để rứa chưa đâm

    *

    Trồng tre chẳng dám ăn măng

    Để cho tre lớn, kết bè đưa dâu

    Đưa dâu thì đưa bằng ghe

    Đừng đưa bằng bè, ướt áo cô dâu

    *

    Trồng tre để ngọn cheo leo

    Có thương đứng dưới, đừng leo tre oằn

    *

    Trồng tre trở gốc lên trời

    Con chị qua đời thì cưới con em

    *

    Với tay vít ngọn tre còng

    Hỏi thăm anh thử trong lòng thương ai?

    *

    Vườn rộng chớ trồng tre ngà

    Nhà rộng chớ chứa người ta ở cùng

    *

    Xấu tre uốn chẳng nên cần

    Xấu mai nên chẳng đặng gần với em

    *

    Yêu nhau nấu cháo củ tre

    Nấu canh vỏ nhãn, nấu chè nhân ngôn.

    Những câu thơ về cây tre việt nam

    Ầu ơ cầu ván đóng đinh

    Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

    Khó đi mẹ dắt con đi

    Con đi trường học mẹ đi trường đời

    *

    Con ở miền nam ra thăm lăng bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    Ôi hàng tre, xanh xanh Việt Nam

    Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

    *

    Chẻ tre đan nón

    Ta lý khăn xanh

    Đánh giặc vùng Thanh

    Những khe cùng núi

    Những suối cùng đèo

    Cách sông cũng lội

    Cách núi cũng trèo

    Phận lính thì nghèo

    Tiền lương gạo hết

    Người ngoan ở nhà

    Có thấu cho chăng?

    Tre già để mặc cho măng

    *

    Quê hương tôi có con sông xanh ngát

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh

    *

    Quê hương là cầu tre nhỏ

    Mẹ về nón lá nghiêng che

    Quê hương – Đỗ Trung Quân

    *

    Ru em, em ngủ cho lành

    Cho chị ra điểm tập tành kẻo khuya

    Ngủ ngon, ngoan nhé, em nghe!

    Dù cho địch đến đồng quê quê mình

    Đừng hòng phá lũy tre xanh

    Cướp con chim nhỏ trên cành của em

    Súng trường tay chị ngày đêm

    Bắn cho chúng nó một phen tơi bời

    *

    Trồng tre cho biết thứ tre

    Thứ tre mình nguộc, thứ tre mình ngà

    Trồng cà cho biết thứ cà

    Thứ cà tim tím, thứ cà xanh xanh

    Trồng chanh cho biết thứ chanh

    Thứ chanh ăn mắm, thứ chanh gội đầu

    Trồng trầu cho biết thứ trầu

    Thứ trầu đãi khách, thứ trầu đưa dâu

    Trồng dâu cho biết thứ dâu

    Thứ dâu ăn trái, thứ dâu để tằm

    *

    Tre già làm cọc bờ rào

    Tre non làm lạt buộc vào cọc tre

    Tre già thấy sự khó nghe

    Mắng rằng: Mày định trói què tao ư?

    Con nhà vô phúc thế ru!

    Đẻ ra cho lắm, con hư cũng sầu.

    Tre non nghe nói cúi đầu

    Sụt sùi kể lại mấy câu sau này:

    Thưa cha sự trói cha đây

    Thực tình chẳng phải tự tay con nào

    Chẳng qua người cậy có dao

    Chẻ con làm lạt buộc vào cổ cha

    Người làm ta lại buộc ta

    Để ta gìn giữ cửa nhà họ yên

    --- Bài cũ hơn ---

  • [Tổng Hợp] Những Câu Nói Hay Của Khổng Tử Có Giá Trị Muôn Đời
  • Những Câu Nói Hay Trong Reply 1997(Lời Hồi Đáp 1997)
  • Stt Anh Yêu Em Vô Cùng Lãng Mạn Và Ngọt Ngào
  • 19 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Ý Nghĩa Nhất Cho Bạn Bè Người Thân
  • Status Dành Cho Những Ai Đi Xa Với Nỗi Nhớ Nhà Khôn Nguôi
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa, Hạt Gạo, Nông Dân Ruộng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Công Dân Ở Các Lớp 6, 7
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ Lẫn Nhau
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Đak Lak, Đak Nông, Điện Biên Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội (Hay Nhất)
  • Cây lúa vẫn là cây trồng chủ đạo ở VIệt Nam với diện tích trồng rất lơn ở các vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, mặc dù giá trị kinh tế khôn quá cao nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho con người không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Việt Nam hiện tại là 1 trong những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới đem lại nguồn thu rất cao cho Việt Nam. Ca dao tục ngữ về cây lúa, hạt gạo, nông dân ruộng hay và đặc sắc nhất

    Từ bao đời nay ông cha ta, dân tôc ta luôn gắn bó với nghề trồng lúa, gắn bó với mảnh ruộng mảnh vườn. cho đến ngày nay truyền thống trồng lúa, làm nông nghiệp vẫn luôn gắn bó với bao thế hệ trẻ ngày nay. Điển hình là sản lượng lứa gạo nước ta được xuất khẩu đi khắp nơi và mang lại nguồn kinh tế dồi dào cho đất nước nhờ sản xuất lương thực thực phẩm.

    Cây lúa vẫn là cây trồng phổ biến nhất ở Việt Nam, do canh tác nhiều nên có rất nhiều các câu ca dao tục ngữ nói về cây trồng này để đúc kết những bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau này

    Những sự tần tảo, chịu khó, chịu nắng mưa gió bão để trồng lúa, làm nông nghiệp của những người nông dân đã được nhiều nhà thơ nhà văn thể hiện. nhưng làm sao có thể nói lên hết những nhọc nhằn khó khăn ấy, những khó khăn họ phải gánh chịu khi tạo ra hạt gạo cho chúng ta ăn. Chúng ta cùng đi tìm hiểu ca dao tục ngữ về cây lúa, hạt gạo nông dân để hiểu rõ hơn về nghề nông, nghề mà bao năm ta gắn bó.

    Ca dao tục ngữ về cây lúa

    Câu 1:

    • Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
    • Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Câu ca dao nói về một thời vua mà dân ta được âm no, hạnh phúc, không chịu những cảnh khó khăn đói cực đó là đời vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông. Thời hai vị vua này thì nhân dân ta được học cách cải tạo ruộng đất, làm lúa, làm gạo một cách đầy đủ. Thời hai vị vua này lúa gạo nhiều đến nổi lúa rụng ngoài đồng mà gà ăn không hết.

    Câu 2:

    • Lúa khô nước cạn ai ơi
    • Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

    Câ ca dao trên nói về những khổ cực khi làm ruộng của những người nông dân ta. Mùa hạn hán, khi nước không có, chúng ta không thể chờ trười mưa, không thể chờ trời mà phải tự vận động, tự mình tát nước để có nước cho cây lúa tốt tươi.

    Câu 3:

    • Thân em như lúa nếp tơ,
    • Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu

    Tác giả mượn hình ảnh cây lúa mới lớn, xanh mơn mởn để thể hiện vẻ đẹp của những người con gái mới lớn. những cây lúa mới lớn có cây xanh, rễ tốt có vẻ đẹp phởn phơ như những cô gái mới lớn có vẻ đẹp tinh khiết và yêu kiều giống như cây lúa.

    Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa:

    Bỏ em cấy lúa đồng không một mình

    Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm

    Khi trời gió bão ầm ầm,

    Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba

      Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

      Cực lòng thiếp lắm chàng ơi

    Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than

    Than vì cây lúa lá vàng

    Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa

    Trông trời chẳng thấy trời mưa

    Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời

    Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

      Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Được mùa cau, đau mùa lúa

      Trời cao đất rộng thênh thang,

    Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng,

    Cá tươi gạo trắng nước trong,

    Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê

      Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

      Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    • Mạ non bắt trẻ cấy biền
    • Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra
    • Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

    Ca dao tục ngữ về hạt gạo

    Câu 1:

    • Cái cò lặn lội bờ sông
    • Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Câu ca dao trên nói về hình ảnh người mẹ đưa gạo, tiếp tế cho người cha, người chiến sĩ ở chiến trường. Mượn hình ảnh con cò để nói lên hình ảnh người phụ nữ tần tảo, chịu lội sông, lội suối để đưa gạo cho chồng để con khóc ở nhà một mình.

    Câu 2:

    • Cần Thơ gạo trắng nước trong
    • Ai đi đến đó lòng không muốn về

    Câu ca dao nói về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Cần Thơ. Cần Thơ là một tỉnh miền Tây sông nước, là một tỉnh đang phát triển. câu nói nói rằng khi đên Cần Thơ sẽ được thưởng thức gạo trắng nước trong, một khi ai đến đó rồi sẽ không muốn ze nữa.

    Câu 3:

    • Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ
    • Khoai lang dưới trảng, gạo thì Đường Trung

    câu ca dao trên nói về những địa danh nổi tiếng, mỗi địa danh sẽ có những đặc sản nổi bật, riêng biệt của vùng đất đó. Muối nổi tiếng ở Xuân An, ở Tinh Kỳ thì nổi tiếng nắm, còn gạo thì ở Đường Trung. Mỗi nơi có một đặc sản riêng biệt của chính nơi ấy.

    tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về hạt gạo:

      Bao giờ nước ngọt đường cay

    Gánh vừa lon gạo thì thằng Tây ở tù

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

      Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    • Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất
    • Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

    Sư về, sư ốm tương tư

    Ốm lăn ốm lốc nên sư trọc đầu

    Cho ruột sư héo như bầu đứt dây

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    • Mạnh vì gạo, bạo vì tiền
    • Đồng Nai gạo trắng nước trong

    Quảng Nam đá cục đừng mong anh về

    Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già

      Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

    Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sang

    Ca dao tục ngữ về nông dân

    Câu 1:

    • Mạ úa cấy lúa chóng xanh,
    • Gái dòng chóng đẻ sao anh hững hờ?

    Câu trên nói về tình cảm nam nữ, một câu nói vui. So sánh người con gái như mạ úa nhưng cây lúa sẽ chóng xanh. Vẻ đẹp ấy, sắc đẹp ấy mà sao những người thanh niên, nhưng chàng trai lại hững hờ.

    Câu 2:

    • Nhờ trời mưa gió thuận hoà.
    • Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau.
    • Chim, gà, cá, lợn, cành cau,
    • Mùa nào thức nấy giữ màu nhà quê

    Những câu trên nói về sự khó nhọc, khổ cực khi làm ruộng làm nên hạt gạo cho chúng ta ăn. Dù là trai gái, già trẻ thì ai cũng có những mong ước dành cho hạt gạo.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về nông dân:

    Chăn tằm ăn cơm đứng

    Chắc là nước bể, nước mưa đầy trời.

    Ai ơi nên nhớ lấy lời.

    Trông cơ trời đất, liệu thời làm ăn

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

      Chiêm xong lại đến vụ mùa

    Hết mùa rau muống đến mùa cải hoa

    Đừng khinh dưa muối, tương cà

    Tuy rằng ít bổ, nhưng mà có luôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi
  • Tục Ngữ, Thành Ngữ, Câu Đố
  • Tục Ngữ Về Tình Yêu Nam Nữ Hay ❤️ 1001 Câu Chế Vui
  • Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc ❤️ Tục Ngữ Vợ Chồng Hay
  • Những Câu Ca Dao Nói Về Cha Mẹ ❤️ Tục Ngữ Cha Mẹ Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2021 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2021
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2021 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

    Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

    *Trăm năm tích đức tu hành

    Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

    * Ai đi Yên Tử cùng anh

    Khói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

    * Nào ai quyết chí tu hành

    Hãy về Yên Tử mới đành làm tu.

    *Lần theo dấu tích ngàn xưa

    Bảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

    * Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm

    Ai chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

    *Miếu Đức Ông là nơi Cửa Suốt

    Khách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

    * Bao giờ sấm chớp Chùa Lôi

    Con ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

    * Mồng bảy hội miếu Tiên Công

    Dưới là đánh vật trên rồng phi bay.

    Đêm thì hát đúm vui thay

    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

    *Chùa Quỳnh vui lắm ai ơi

    Trốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

    * Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồng

    Muốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

    Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

    * Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

    * Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu

    Da dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Má hồng để lại, má xanh mang về.

    *Ai đi Uông Bí, Quảng Hồng

    Có đoàn vệ quốc dân công qua đèo

    Ai về cho ta về theo

    Có sông cũng lội , có đèo cũng qua.

    *Sông sâu còn có kẻ dò

    Tội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

    * Đào than cho nó làm giàu

    Xúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

    * ở quê cái khổ bám theo

    Ra mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

    * Đau đẻ cũng phải xúc than

    Đẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

    *Lầm than cực khổ thế này

    Xúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

    *Khi xưa nghe tiếng còi tầm

    Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

    * Thẻ tôi lĩnh có hai đồng

    Ông cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

    *Cây mắm cò quăm

    Cây sú cù queo

    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

    Ăn cơm với cá mòi he

    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

    * Ai ra Cẩm Phả mà xem

    Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì

    Đã làm cái kiếp cu li

    Còn gì là đẹp còn gì là vui.

    * Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

    Ai ơi, đứng lại mà trông

    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

    Việc gì mà rủ nhau ra

    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    * Ai về Yên Dưỡng, Hoành Mô

    Mà xem quân lính cụ Hồ sang sông

    Đêm ngày mải mê chiến công

    Thoáng nom như có cả chồng em kia.

    * Thuyền than mà đậu bến than

    Thương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.

    * Thuyền than đậu bến đen sì

    Anh không ra mỏ lấy gì em ăn.

    Ca dao tục ngữ giao duyên

    * Ai về chợ huyện Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100