Tục Ngữ Nói Về Sự Vô Ơn

--- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Trang Phục (Phần 3)
  • Ẩm Thực Hà Nội Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích
  • Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô
  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • Trong bài viết này, Tiếng Việt 24h xin giới thiệu đến các bạn bài học : Một số câu thành ngữ – tục ngữ nói về sự vô ơn.

    Thành ngữ, tục ngữ về sự vô ơn

    Ăn cây táo rào cây sung

    Ví dụ : Sao cậu lại đi giúp cho đội đối thủ chứ! Cậu đúng là cái đồ “ăn cây táo rào cây sung”.

    Ăn cháo đá bát

    Ý nghĩa : Vô ơn bạc nghĩa, đối xử tệ bạc với người đã giúp đỡ mình.

    Ví dụ :

    A: Hắn đúng là cái đồ vô ơn. Trước đây chúng ta đã hết lòng giúp đỡ hắn, vậy mà bây giờ hắn lại hại chúng ta ra nông nỗi này.

    B: Nếu như có cơ hội, tôi nhất định sẽ dạy cho cái tên “ăn cháo đá bát” đó một bài học nhớ đời.

    Ăn mật trả gừng

    Ý nghĩa : Được người khác đối đãi tử tế nhưng bản thân lại đối xử với người ta không ra gì.

    Ví dụ : Thật không ngờ cậu ta lại là hạng người “ăn mật trả gừng”, chỉ vì chút danh vọng mà sẵn sàng hãm hại những người đã giúp đỡ mình.

    Được chim bẻ ná , được cá quên nơm

    Ý nghĩa : Khi đạt được mục đích rồi thì quên ngay người đã giúp đỡ mình.

    Ví dụ : Không nên kết bạn với những kẻ vô ơn bội nghĩa, “được chim bẻ ná, được cá quên nơm”.

    Khỏi vòng cong đuôi

    Ý nghĩa : Vô ơn, bội bạc, vừa thoát được nạn là quên ngay người đã cứu giúp mình.

    Ví dụ : Sao cậu lại giúp hắn nữa vậy, thế nào rồi hắn cũng sẽ dở lại cái trò “khỏi vòng cong đuôi” giống như trước đây nữa cho mà coi.

    Qua cầu rút ván

    Ý nghĩa : Chỉ những kẻ vô ơn, bội nghĩa, xong việc rồi thì quay lưng lại với người ta.

    Ví dụ : Phải luôn nhớ ơn những người đã giúp đỡ mình, đừng để bị nói là “qua cầu rút ván”.

    Vay ơn nhất thời, đòi oán tam đại

    Ý nghĩa : Nói lên tâm lý của những kẻ vô ơn, khi đã vay được rồi thì cảm ơn người ta rối rít, nhưng đến khi người ta đòi lại thì lại oán hận nặng nề.

    Vắt chanh bỏ vỏ

    Ý nghĩa : Bòn rút hết sức lực của người khác, đến khi thấy họ không còn hữu dụng nữa thì bỏ đi không thương tiếc.

    Ví dụ : Đừng có nhận lời làm người yêu của anh ta, anh ta vốn nổi tiếng là kẻ “vắt chanh bỏ vỏ” đấy.

    We on social : Facebook

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Danh Ngôn Ca Dao Tục Ngữ Về Ý Chí Nghị Lực ( Và Sự Cố Gắng Mạnh Mẽ)
  • Văn Học Dân Gian, Ca Dao, Mỹ Học, Âm Nhạc
  • Ca Dao Về Xứ Quảng
  • Du Lịch Về Xứ Quảng Nam Qua Những Vần Ca Dao
  • 500 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Và Ca Dao Của Xứ Nghệ Tĩnh
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Vô Ơn, Vô Nghĩa, Phản Bội Không Giữ Chữ Tín Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Phật Dạy Dành Cho Những Người Hay Phiền Muộn
  • Những Câu Stt Hay Về Đôi Chân Hành Trình Cuộc Sống
  • Thơ Hoa Xuyến Chi, 15+ Chùm Thơ & Bài Thơ Hay Về Hoa Xuyến Chi
  • Lời Chúc Người Cao Tuổi Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Hay Về Công An Nhân Dân
  • Những câu ca dao tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống chúng ta ai cũng biết có rất nhiều điều phức tạp và cạm bẫy luôn rình rập xung quanh chúng ta. Để có được những kiên cường, can dram vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống thì chúng ta ai cũng có một người bạn bên cạnh, một người luôn theo dõi, quan sát và giúp đỡ chúng ta mọi lúc mọi nơi. Chúng ta luôn cảm thấy biết ơn và vô cùng trân trọng những tấm chân tình ấy, không biết làm sao có thể báo đáp hết. tuy nhiên có người lại quay đầu, vô tâm và chống lại với những người đã quan tâm giúp đỡ mình, đôi khi còn đẩy họ đến mức đường cùng. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín để hiểu rõ hơn về về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữ chứ tín.

    Sự vô ơn chứng tỏ con người không có tình nghĩa

    Tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín:

    Câu 1:

    Qua cầu rút ván là một câu tục ngữ nói về người đã phản bội, vô ơn, đối xử với người đã giúp đỡ mình những lúc khó khăn hoạn nạn. cây cầu chỉ có ván để đi qua, khi một người đã tải ván, giúp đỡ bạn đi quan cây cầu nhưng khi đi xong bạn lại rút ván không cho người đó và những người khác đi, điều đó thể hiện bạn là người ích kỉ, sẽ không được mọi người trong xã hội tôn trọng.

    Câu 2:

    Đây là một câu tục ngữ cũng thể hiện về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín. Khi con người đi nơm cá, khi bắt được cá rồi thì người ta lại quên nơm, quên đi thứ mà đã giúp đỡ con người có được cá. Câu tục ngữ mượn hình ảnh cả và nơm để nói về những người vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín trong cuộc sống của chúng ta.

    Câu 3:

    Ăn cháo có nghĩa là những người đã giúp đỡ ta, cho chúng ta ăn, giúp chúng ta khi chung ta đói rách hoạn nạn. nhưng khi chúng ta no, ăn uống đầy đủ thì chúng đá bát vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữ chứ tín đối với những người giúp đỡ chúng ta khi chúng ta đói rách, đau khổ.

    Câu 4:

    Câu nói trên cũng thể hiện về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín của con người trong cuộc sống ngày nay. Khi cuộc sống càng ngày càng hiện đại, càng phát triển thì tấm lòng, lòng thương người và giữ chữ tín càng vị ăn mòn. Chúng ta luôn về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín đối với những người giúp đỡ ta trong những lúc khó khăn.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về vô ơn, vô nghĩa, phản bội, không giữu chứ tín:

    • · Ăn cây táo rào cây sung
    • · Có mới nới cũ
    • · Có trăng, phụ đèn.
    • · Ăn mít bỏ sơ, ăn cá bỏ lờ.
    • · Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.
    • · Ông sư có ngãi, bà vãi có nghì.
    • · Đường mòn ân nghĩa không mòn.
    • · Bền người hơn bền của.
    • · Tiền ngắn, mặt dài.
    • · Tiền là gạch, ngãi là vàng.
    • · Thèm lòng, chẳng ai thèm thịt.
    • · Vị tình vị nghĩa, ai vị đĩa xôi đầy.

    Ca dao về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín:

    Câu 1 :

    • Trách lòng tham đó bỏ đăng
    • Thấy lê quên lựu, thấy trăng quên đèn

    Câu ca dao trên thể hiện về nhân cách con người, về những người vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín. Mục đích chính của câu là nói đến những người phụ lòng tin của người khác. Dù mục đích của phụ lòng tin như thế nào thì cũng là một đức tính xấu, chúng ta nên có những đức tính giữ chữ tính để được mọi người xung quanh kính trọng và tin yêu.

    Câu 2 :

    • Trách lòng tham đó bỏ đăng
    • Thấy lê quên lựu, thấy trăng quên đèn

    Câu ca dao trên nói về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín. Những người thma lam, chạy theo danh vọng, chạy theo cuộc sống hào nhoáng và những thứ tốt đẹp hơn để bỏ ại những người đã giúp đỡ mình qua những khó khăn, gian khổ và thử thách. Dể được mọi người tin yêu và tôn trọng thì chúng ta nên có những điều tốt đẹp và yêu thương mọi người.

    Tổng hợp những câu ca dao về vô ơn, vô nghĩa, phản bội không giữ chữ tín :

      Trách ai rọc giấy bỏ bìa,

    Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa

      Trách ai rọc giấy bỏ bìa,

    Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa

      Vàng mười vô lửa nào phai,

    Anh nằm nghĩ lại coi ai bạc tình

      Trách người quân tử bạc tình

    Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao

      Trách ai được miếu phụ nghè

    Được chiêng phụ trống được bè phụ nan

    Đang chơi với phụng, thấy rồng bay theo

    Cu ăn cu lớn cu gù cu đi.

      Thương tằm ngửa áo bọc dâu

    Tưởng tằm có nghĩa, hay đâu bạc tình

    Nhện ơi nhện hỡi nhện đi đường nào

    Hy vọng qua các câu ca dao và tục ngữ trên các bạn sẽ hiểu thêm nhiều đạo lý làm người cơ bản về sự biết ơn vì đó là điều cơ bản nhất của con người. Khi bạn biết ơn ông bà bố mẹ những người đã nuôi nâng giúp đỡ ta. Thì sau này con cái bạn mới tôn trọng bạn và cũng biết ơn bạn báo hiếu cho bạn giống như những gì bạn đã ứng xử với người khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Chia Tay Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Lời Phật Dạy Về “lòng Tin”
  • Lời Chúc Chia Tay Đồng Nghiệp Nghỉ Việc Chuyển Công Tác
  • Tổng Hợp Danh Ngôn Về Niềm Tin Và Nghị Lực Sống
  • Nslide Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trên Ola
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn đối với ông bà, cha mẹ:

    Câu 1:

    • Con ơi ghi nhớ lời này
    • Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên

    Cha mẹ là người đã sinh ta ra, tạo nên hình hài cơ thể của chúng ta, chính vì thế mà cha mẹ luôn là nguồn, là cội của mỗi chúng ta. Câu ca dao này nói về công ơn to lớn của cha mẹ, của người đã sinh ra ta và cho ta cuộc sống này. Người mà chúng ta phải báo đáp, phải ghi nhớ công ơn lớn nhất đó là cha mẹ của chúng ta.

    Câu 2:

    • Ơn cha núi chất trời Tây
    • Láng lai nghĩa mẹ nước đầy biển Đông

    Câu thơ này đã so sánh ơn cha giống như trời Tây, nơi mà mặt trời lặn, nơi mà chúng ta không biết mặt trời sẽ đi về đâu. Vế sau so sánh nghĩa mẹ như nước biển Đông, biển Đông là nơi nước không thể cạn, nơi bao la bát ngát. Cả hai vế đều so sánh côn ơn cha mẹ như trời đất, không thể so sánh với nơi nào, ơn nghĩa rộng lớn đến thế là vậy đã làm chúng ta thêm yêu cha mẹ hơn.

    Câu 3:

    • Ơn cha trọng lắm ai ơi
    • Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau

    Câu thơ trên nói về công ơn cha mẹ, những người đaz sinh ra chúng ta,tạo nên cơ thể và cho chúng ta cuộc sống ngày hôm nay. Ơn nghĩa của cha mẹ là những ơn nghĩa vô cùng to lớn, những ơn nghĩa ấy không thể đong đầy và không thể kế hết. chúng ta nên nhớ công ơn cha mẹ và có những hành động thể hiện sự báo đáp tình yêu thương của cha mẹ.

    Câu 4:

    • Công cha như núi Thái Sơn
    • Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    • Một lòng thờ mẹ kính cha
    • Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Đây là câu thơ mà chúng ta thường nghe trong cuộc sống nhất, mỗi chúng ta ai cũng biết câu ca dao về tình nghĩa cha mẹ với con cái này. Công cha được so sánh với núi Thái Sơn, nghĩa mẹ được sánh với nước trong nguồn. để báo đáp lại ơn nghĩa của cha mẹ thì chúng ta nên yêu thương, kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ, những người đã sinh ra chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với thầy cô giáo:

      Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy

    Bên cạnh công ơn to lớn và rộng lớn như Thái Sơn của cha mẹ thì công ơn của thầy cũng là một công ơn to lớn đối với mỗi người chúng ta. Thầy cho chúng ta những hiểu biết, những kiến thức cuộc sống, những điều lẻ phải trong cuộc sống. ơn thầy được xếp sau công cha, nghĩa mẹ, điều đó cho thấy công ơn của thầy cũng vô cùng to lớn.

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    Câu thơ nói lên công ơn to lớn của người thầy, dù có học được một chữ hay học một ngày thầy đó cũng là người thầy, người truyền cho chúng ta những kiến thức, những điều hay lẻ phải trong cuộc sống để chúng ta nên người và có những kinh nghiệm trong cuộc sống.

    • Mấy ai là kẻ không thầy
    • Thế gian thường nói: đố mày làm nên !

    Câu thơ đề cao nên công ơn to lớn của người thầy, người đã cho ta chữ nghĩa. Câu thơ cũng khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong quá trình học tập và cuộc sống của mỗi người. Chính vì thế mà công ơn của thầy cô vô cùng to lớn.

    • Muốn sang thì bắc cầu Kiều
    • Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Câu nói nói lên vai trò của người thầy,người dạy chúng ta chữ nghĩa, dạy chúng ta điều hay lẻ phải trong cuộc sống. Chính vì thế mà muốn cho con minh hay chữ thì trước tiên chúng ta cần phải yêu thương thầy,yêu cái chữ để con mới có một kiến thức vững chắc và nền tảng vững chắc.

    • Ngày nào em bé cỏn con
    • Bây giờ em đã lớn khôn thế này
    • Cơm cha, áo mẹ, công thầy
    • Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

    Câu thơ nói về ơn nghĩa tơ lớn của cha mẹ và ơn thầy cũng là một ân tình to lớn. ơn của thầy cũng giống như ơn nghĩa của cha mẹ, của những người sinh ra ta và yêu thương ta. Người thầy có vai trò rất quan trọng, tạo nên kiến thức cho con người chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn đối với những người xung quanh:

      Muốn ăn quả chín, nhớ ơn người trồng.

    Câu tục ngữ này cũng nhắc đến người trồng cây, người đã tạo ra những thành quả để chúng ta có những quả tươi ngon và sạch sẽ. câu thơ cũng nhắc chúng ta nhớ ơn đến những người giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống này.

      Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Ăn quả thì chúng ta cần phải nhớ đến người trồng cây, ăn khoai thì chúng ta cũng nên nhớ đến người cho dây, nhờ những người ấy chúng ta mới có được quả ngon, khoai to để ăn, nhắc nhở chúng ta phải biết lễ nghĩa trong cuộc sống này.

    Ngoài những câu ca dao nói về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn ở trên, chúng ta còn có những câu ca dao hay về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn như :

    – Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo nhà hàng.

    – Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi.

    – Uống nước nhớ nguồn.

    – Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.

    – Ơn cha nghĩa mẹ trìu trìu

    Mưa mai lòng sở, nắng chiều dạ lo

    – Biển Đông còn lúc đầy vơi,

    Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

    – Con người có tổ có tông

    Như cây có cội như sông có nguồn

    – Chim có tổ người có tông

    Cây có cội, nước có nguồn.

    – Nước có nguồn, cây có gốc.

    – Mạch trong nước chay ra trong, thế nào đi nữa còn dòng cũng hơn.

    – Ai về Phú Thọ cùng ta

    Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười.

    Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày gỗ tổ mùng mười tháng ba.

    – Tháng ba nô nức hội đền

    Nhớ ngày giổ tổ bốn nghìn năm nay.

    Khôn ngoan nhờ đức cha ông

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ

    Đạo làm con chớ hững hờ

    Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên

    – Sống tết, chết giỗ.

    – Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    – Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    – Uống nước chớ quên người đào mạch.

    – Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    – Đường mòn ân nghĩa không mòn.

    – Bền người hơn bền của.

    – Ăn tám lạng trả nửa cân.

    – Ăn quả phải vun cây.

    – Ăn ở như bát nước đầy.

    – Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    – Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    – Uống nước chớ quên người đào mạch.

    – Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    – Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Ca Dao Tục Ngữ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Thành Ngữ Và Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Khánh Hòa – Nhà Văn Việt Nam
  • Tình Nghĩa Vợ Chồng Đầm Ấm:
  • Giáo Án Môn Đạo Đức 2
  • Vần Thơ Về Mẹ Măng Đen
  • Một Số Câu Thành Ngữ – Tục Ngữ Về Sự Tiết Kiệm
  • Ca dao là gì?

    Định nghĩa về ca dao

    Ca dao là một từ Hán Việt. Trong đó, “ca” dùng để chỉ những bài hát; còn từ “dao” được dùng để chỉ những bài hát ngắn, thường không có chương khúc, giai điệu. 

    Vì vậy, có thể hiểu ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, được dùng để miêu tả, ngụ ý hay diễn đạt tình cảm. Hầu hết ca dao đều là lời thơ trữ tình dân gian, thường được kết hợp với âm nhạc để diễn xướng và phản ánh thế giới nội tâm của con người.  

    Ca dao được lưu truyền theo hình thức truyền miệng nên rất ngắn gọn, súc tích và sử dụng thể thơ dân tộc (thơ lục bát hoặc lục bát biến thể) cho dễ thuộc, dễ nhớ. Bên cạnh đó, ca dao cũng sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, ngôn ngữ gần gũi, đời thường và được diễn đạt mang đậm sắc thái dân gian.

    Nội dung ca dao

    • Phản ánh lịch sử: Ca dao thường nhắc tên các sự kiện lịch sử và bày tỏ quan điểm, thái độ của nhân dân chứ không đi sâu vào quá trình hay diễn biến của nó. 

    • Phản ánh phong tục – tập quán, nếp sống hay đời sống tình cảm của nhân dân trong quan hệ gia đình, lứa đôi, đất nước,…. Đồng thời, ca dao cũng phản ánh cuộc sống của nhân dân trong xã hội cũ, điển hình là những bài ca dao than thân. 

    • Ca dao thể hiện tiếng cười bông đùa, trào phúng. 

    Phân loại ca dao

    • Đồng dao:

    Là những bài thơ ca truyền miệng của trẻ em và hầu như không có tác giả, ví dụ như vè. Đồng dao được chia thành hai loại chính là: gắn với trò chơi hoặc gắn liền với công việc của trẻ nhỏ. 

    “Dung dăng dung dẻ

    Dắt trẻ đi chơi

    Đến hỏi ông trời

    Xin vài cái bánh

    Gặp xe thì tránh

    Đội mũ trên đầu

    Đi chậm đi mau

    Lâu lâu lại ngồi!”

    • Ca dao lao động: 

    “Em là con gái nhà nông,

    Thấy anh gánh lúa vừa mừng vừa thương.

    Mồ hôi ướt đẫm trán lưng,

    Hỏi anh có mệt gánh giùm cho anh.

    Mời anh bát nước chè xanh,

    Thi nhau ta gánh cho nhanh bạn cùng.”

    • Ca dao hát ru: 

    “Ru con, con ngủ cho lâu

    Để mẹ đi cấy ruộng sâu lâu về

    Ru con, con ngủ cho mê

    Mẹ còn lo chuyện lê thê kéo cày

    Ru con, con ngủ cho say

    Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng

    Ru con, con ngủ cho nồng

    Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người.”

    • Ca dao về các nghi lễ và phong tục: 

    “Thịt Mỡ dưa hành câu đối đỏ,

    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”

    • Ca dao bông đùa, trào phúng: 

    “Chồng người đánh giặc sông Lô

    Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần

    Chồng người cưỡi ngựa bắn cung

    Chồng em ngồi bếp cầm thun bắn ruồi.”

    • Ca dao trữ tình: 

    “Cô kia đứng ở bên sông,

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

    • Ca dao than thân: 

    “Thân em như củ ấu gai

    Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

    Ai ơi, nếm thử mà xem

    Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.”

    Hay

    “Nước non lận đận một mình,

    Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

    Ai làm cho bể kia đầy,

    Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”

    Tục ngữ là gì? 

    Những thông tin về tục ngữ

    Tục ngữ là gì? Đây là một thể loại văn học dân gian, được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích và có nhịp điệu nên rất dễ nhớ và dễ truyền đạt. 

    Trong các câu tục ngữ, cả hình thức và nội dung luôn có sự gắn bó chặt chẽ với nhau để tạo thành một câu hoàn chỉnh và thống nhất. Một câu tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa là: nghĩa đen và nghĩa bóng.

    Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm sống thực tế

    * Ví dụ về câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

    Chúng ta có thể giải thích câu tục ngữ này theo hai nghĩa như sau:

    • Nghĩa đen: Nếu để mực rây ra tay thì sẽ bị dính màu đen của mực. Còn nếu ngồi gần đèn thì sẽ được nhìn rõ tất cả mọi vật do đèn chiếu sáng vào. 

    • Nghĩa bóng: Cha ông ta muốn nhắn nhủ rằng môi trường sống có tầm ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến nhận thức và lối sống của mỗi cá nhân. Nếu sống sống trong môi trường có nhiều điều xấu, con người sẽ bị ảnh hưởng và có thể bị tha hóa về đạo đức sống. Ngược lại, nếu sống trong môi trường có nhiều điều tốt đẹp thì chúng ta sẽ sống lành mạnh, có ích hơn cho gia đình và xã hội. 

    Tính hình tượng trong câu tục ngữ thường được thể hiện qua các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Ông cha ta muốn thông qua những sự vật, hiện tượng thân thuộc để thể hiện quan niệm và đúc kết thành chân lý, kinh nghiệm; vừa sáng tạo nhưng lại rất sâu sắc. Chính tính hình tượng hóa này sẽ giúp chúng ta dễ hiểu và biết các suy ngẫm. 

    Bên cạnh đó, tục ngữ thường được gieo vần liền hoặc vần cách, được ngắt nhịp linh hoạt tạo nên sự hài hòa, cân đối và nhịp nhàng.  

    Nội dung của tục ngữ

    • Tục ngữ đúc kết và phản ánh kinh nghiệm sản xuất của người dân lao động.

    Ví dụ: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

    • Tục ngữ ghi nhận về các sự kiện, hiện tượng lịch sử – xã hội.

    Ví dụ: “Ăn lông ở lỗ”, “Một người làm quan cả họ được nhờ”, “Cá lớn nuốt cá bé”,..

    • Thể hiện các triết lý của dân tộc.

    Ví dụ: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,… 

    Những câu ca dao tục ngữ Việt Nam hay nhất

    Ca dao tục ngữ về thầy cô:

    1. “Muốn sang thì bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.”

    1. “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.”

    1. “Tiên học lễ, hậu học văn”

    2. “Bán tự vi sư, nhất tự vi sư”

    3. “Không thầy đố mày làm nên”

    Ca dao tục ngữ về tình yêu đôi lứa

    1. “Đôi ta như cái đòng đòng,

    Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.”

    1. “Thật thà cũng thể lái trâu,

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.”

    1. “Theo cha theo mẹ đã đành,

    Theo đôi theo lứa mới thành thất gia.”

    1. “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

    Như đứng đống lửa, như ngồi đống than!”

    Ca dao tục ngữ về gia đình

    1. “ Lên non mới biết non cao,

    Nuôi con mới biết công lao mẹ, thầy.

    1. “Ơn cha nặng lắm ai ơi,

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.”

    1. “Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.”

    1. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”.

    2. “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.

    3. “Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng”. 

    Ca dao tục ngữ về tình bạn

    1. “Ai ơi nhớ lấy câu này

    Tình bạn là mối duyên thừa trời cho.”

    1. “Ra đi vừa gặp bạn thân

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.”

    1. “Khi nào trái đất còn quay

    Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.”

    1. “Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở”

    2. “Giàu vì bạn, sang vì vợ”

    3. “Lắm kẻ yêu hơn nhiều kẻ ghét”.

    Ca dao tục ngữ về tôn trọng người khác

    1. “Nói lời, thì giữ lấy lời 

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.”

    1. “Ai ơi chớ vội cười nhau 

    Cười người hôm trước hôm sau người cười.”

    1. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây 

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông. 

    Đường đi cách bến cách sông 

    Muốn qua dòng nước, nhờ ông lái đò!”

    1. “Kính lão đắc thọ”.

    2. “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”.

    3. “Đường mòn nhân nghĩa không mòn”.

    4. “Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho”. 

    Ca dao tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất

    1. “Én bay thấp mưa ngập cầu ao 

    Én bay cao mưa rào lại tạnh.”

    1. “Cơn đằng Đông, vừa trông vừa chạy 

    Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi 

    Cơn đằng Bắc, đổ thóc ra phơi 

    Cơn đằng Tây, mưa ngu bão ngáo.

    1. “Muốn cho lúa nảy bông to 

    Cày sâu bừa kĩ phân tro cho nhiều.”

    1. “Ai ơi nhớ lấy lời này 

    Nuôi tằm ba lứa, ruộng cày ba năm 

    Nhờ trời hòa cốc phong đăng 

    Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi 

    Được mùa dù có tại trời 

    Chớ thấy sóng cả mà rời tay co.

    1. “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”.

    2. “Tháng bảy mưa gãy cành tràm”.

    3. “Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa”.

    4. “Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”.

    Những câu ca dao tục ngữ về con người và xã hội

    1. “Uốn cây từ thuở còn non,

    Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

    Dạy con, dạy thuở còn thơ,

    Dạy vợ, dạy thuở ban sơ mới về.”

    1. “Con ơi! Mẹ bảo con này,

    Học buôn, học bán cho tày người ta.

    Con đừng học thói chua ngoa,

    Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan.

    Phòng khi đóng góp việc làng,

    Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

    Trước là đẹp mặt cho chồng,

    Sau là họ mạc cũng không chê cười.”

    1. “Đã sinh ra kiếp ở đời,

    Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

    Gái thời trinh trỉnh lòng son,

    Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

    Trai lành gái tốt ra người,

    Khuyên con trọng bấy nhiêu lời cho chuyên.”

    1. “Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật”.

    2. “Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp”.

    3. “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay”.

    4. “Nước đổ lá khoai”

    5. “Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi”.

    Ca dao tục ngữ về tính tự lập và tự chủ

    1. “Nước lã mà vã nên hồ

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan”.

    1. “Khi ăn chẳng nhớ đến ai

    Đến khi chết bỏng cứ tai mà rờ!”

    1. “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

    1. “Thân tự lập thân”.

    2. “Có thân phải khổ, có khổ mới nên thân”.

    3. “giúp lời không ai giúp của, giúp đũa không ai giúp cơm”.

    4. “Sông sâu sóng cả, chớ ngã tay chèo”.

    Ca dao tục ngữ về Hà Nội:

    1. “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng”.

    1. “Thăng Long Hà Nội đô thành

    Nước non a vẽ nên tranh họa đồ

    Cố đô rồi lại tân đô

    Nghìn năm văn vật bây giờ là đây”.

    1. “Ai về Hà Nội, ngược nước Hồng Hà

    Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui”.

    1. “Đường về xứ Lạng mùa xa

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang”.

    1. “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

    Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An”.

    Sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ Việt Nam 

    Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam đều là những câu nói ngắn gọn, súc tích; phản ánh tri thức của con người về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Bởi vậy mà rất khó để phân biệt hai khái niệm này.

    Tuy nhiên, bạn có thể phân biệt được thành ngữ và tục ngữ qua một số đặc điểm sau: 

    Đặc điểm

    Thành ngữ

    Tục ngữ

    Định nghĩa

    Là cụm từ được cấu tạo cố định và thể hiện một ý nghĩa hoàn chỉnh. 

    Là những câu nói ngắn gọn, có vần điệu và được đúc kết từ những tri thức, kinh nghiệm sống thực tế của người dân. 

    Về hình thức

    Thường là các cụm từ cố định. 

    Là một câu ngắn gọn và hoàn chỉnh. 

    Về nội dung

    • Chưa diễn đạt trọn vẹn một ý mà chỉ đề cập đến như một khái niệm.

    • Thành ngữ thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, thường là một vế câu được dùng để tạo câu hoặc chen thêm vào các câu nói. 

    Ví dụ: Chúc cậu “mẹ tròn con vuông”. 

    • Diễn đạt trọn vẹn một ý. Đó có thể là lời đánh giá, sự nhận xét hay một kinh nghiệm sống, một lời khuyên,… nhằm khuyên răn và hướng dẫn con người cách sống, cách ứng xử đúng đắn.

    • Tục ngữ thuộc lĩnh vực văn học, được dùng độc lập. 

    Ví dụ: “Thất bại là mẹ thành công”. 

    4.5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • ​​những Tục Ngữ Thường Dùng Của Người Hàn Quốc ( Phần 2)
  • Học Tiếng Hàn Qua 26 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Phổ Biến
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Thơ Ru Hay Con Ngủ.
  • Những Câu Ca Dao Ru Con
  • Ca Dao Tục Ngữ Thời Hiện Đại
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lịch Sự Tế Nhị

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Lời Chúc Sinh Nhật Bạn Người Yêu Là Con Trai Ý Nghĩa
  • Tổng Hợp 33 Status Chúc Mừng Bé Chào Đời Và Mẹ Mới Sinh Hay Nhất
  • Stt Tâm Trạng Buồn Ngắn Về Áp Lực Cuộc Sống Khiến Bạn Mệt Mỏi
  • Những Stt Tâm Trạng Buồn Về Cuộc Sống Cực Kỳ Ý Nghĩa
  • Những Câu Chúc Hôn Nhân, Đám Cưới Hay Nhất
  • Tìm hiểu lịch sự, tế nhị là gì?

    – Lịch sự là những cử chỉ hành vi dùng trong giao tiếp, ứng xử phù hợp với quy định của xã hội thể hiện truyền thống đạo đức của dân tộc.

    – Tế nhị là sự khéo léo sử dụng những cử chỉ ngôn ngữ trong giao tiếp ứng xử thể hiện là con người có hiểu biết, có văn hóa.

    – Lịch sự tế nhị biểu hiện ở hành vi giao tiếp, biểu hiện ở sự hiểu biết những phép tắc, những quy định chung của xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tôn trọng người giao tiếp và những người xung quanh.

    Những câu ca dao về lịch sự tế nhị, ứng xử trong giao tiếp

    1. Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    2. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

    3. Rượu nhạt uống mấy cũng say

    Người khôn nói mấy dẫu hay cũng nhàm.

    4. Đừng khinh dưa muối tương cà

    Tuy không lịch sự nhưng mà tự do.

    5. Đất xấu trồng cây khẳng khiu

    Những người thô tục nói điều phàm phu.

    6. Miếng trầu của đáng là bao

    Chẳng ăn cầm lấy cho vừa lòng nhau.

    7. Bốn phương sum họp một nhà

    Miếng trầu lịch sự nhưng mà tự do.

    8. Cạn đồng thì uống nước khe

    Hết người lịch sự thì ve người đần.

    9. Nước có lúc đỏ lúc vàng

    Làm nơi lịch sự hơn chàng chàng ơi!

    10. Người ngu chẳng biết xã giao

    Những người lịch sự thì nào ai chê.

    11. Mê anh chẳng bởi túi tiền

    Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng.

    12. Nhà em rau muống tương cà

    Tuy không lịch sự nhưng mà sạch trong.

    13. Phong lưu mỗi người một cách

    Lịch sự mỗi người một kiểu.

    14. Khen ai khéo tạc nên dừa

    Đấy trèo đây hứng cho vừa lòng nhau.

    15. Miếng trầu chẳng đáng là bao

    Chẳng ăn cầm lấy cho đây vừa lòng.

    16. Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn

    Con sông Giang Hà chỗ cạn chỗ sâu.

    17. Đời cha vo tròn đời con bóp méo

    Ăn nắm xôi dẻo nhớ nẻo nhà hàng

    Chẳng gì tươi tốt bằng vàng

    Chẳng gì lịch sự vẻ vang bằng tiền.

    18. Thổi quyển phải biết chuyền hơi

    Khuyên người phải biết lựa lời khôn ngoan.

    19. Xin trời đừng nắng chớ mưa

    Râm râm gió mát cho vừa lòng tôi.

    20. Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên.

    21. Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

    22. Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu.

    23. Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê.

    24. Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo.

    25. Rượu lạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

    26. Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

    27. Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

    Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

    28. Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

    29. Chim ngu ăn mận ăn me

    Người ngu ăn nói chua lè mắm tôm.

    30. Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

    Những câu tục ngữ về lịch sự tế nhị trong cuộc sống giữa người với người

    1. Lời chào cao hơn mâm cỗ.

    2. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

    3. Một sự nhịn, chín sự lành.

    4. Nói ngọt lọt tới xương.

    5. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.

    6. Gọi dạ bảo vâng.

    7. Đi thưa về trình.

    8. Đi hỏi về chào.

    9. Thủ khẩu như bình phòng ý như thành.

    10. Ăn có nhai, nói có nghĩ.

    11. Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

    12. Lời nói, gói vàng.

    13. Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

    14. Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

    15. Tiên học lễ, hậu học văn.

    16. Học ăn, học nói, học gói, học mở.

    17. Trên kính dưới nhường.

    18. Đi thưa cho biết, về trình cho hay.

    19. Tiếng mời thơm hơn mùi rượu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Con Gái Yêu Của Bố Mẹ Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Tiếng Anh Hay Về Cha Mẹ
  • Stt Hay Về Tình Bạn Đẹp, Thân Thiết (Đăng Trên Facebook, Status Cho Bạn)
  • Những Câu Nói Hay Về Mưa Và Tình Yêu
  • Tin Nhắn Tán Gái Hài Hước Hiệu Quả Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Con người Việt Nam từ bao đời nay đã được biết đến với bao tấm lòng tốt đẹp và tươi sáng của con người. Dù xã hội có thế nào, cuộc sống có thay đổi ra sao thì con người Việt Nam vẫn trung thực, kiên trung và yêu nước đến lạ. một trong những điều tốt mà con người Việt Nam vẫn lưu giữ muôn đời này là những lời dạy bảo, khuyên nhủ của ông bà ta xưa về cuộc sống về kinh nghiệm cuộc đời đó là kho tàng ca ao tục ngữ quý báu.

    Ca dao tục ngữ là một kho tàng văn học vô cùng quý giá, là tài sản quý báu đối với dân tộc Việt Nam. Ca dao tục ngữ được xếp vào là một những giá trị truyền thống văn học của dân tộc. những câu ca dao tục ngữ thường nói về cuộc sống con người, nói về thiên nhiên,nói về con người, nói về cây cối thiên nhiên,…. Bên cạnh những yếu tố đó thì ca dao tục ngữ còn nói về những đức tính quý giá của con người, đức tính được thể hiện rõ qua nhiều câu ca dao tục ngữ nhất là lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn được chia ra làm nhiều khía cạnh như lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ, đối với thầy cô giáo, đối với bạn bè hoặc đối với những người chúng ta không quen biết. chúng ta cùng đi tìm hiểu từng khía cạnh về lĩnh vực này.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với ông bà, cha mẹ:

    Câu 1:

    • Con ơi ghi nhớ lời này
    • Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên

    Cha mẹ là người đã sinh ta ra, tạo nên hình hài cơ thể của chúng ta, chính vì thế mà cha mẹ luôn là nguồn, là cội của mỗi chúng ta. Câu ca dao này nói về công ơn to lớn của cha mẹ, của người đã sinh ra ta và cho ta cuộc sống này. Người mà chúng ta phải báo đáp, phải ghi nhớ công ơn lớn nhất đó là cha mẹ của chúng ta.

    Câu 2:

    • Ơn cha núi chất trời Tây
    • Láng lai nghĩa mẹ nước đầy biển Đông

    Câu thơ này đã so sánh ơn cha giống như trời Tây, nơi mà mặt trời lặn, nơi mà chúng ta không biết mặt trời sẽ đi về đâu. Vế sau so sánh nghĩa mẹ như nước biển Đông, biển Đông là nơi nước không thể cạn, nơi bao la bát ngát. Cả hai vế đều so sánh côn ơn cha mẹ như trời đất, không thể so sánh với nơi nào, ơn nghĩa rộng lớn đến thế là vậy đã làm chúng ta thêm yêu cha mẹ hơn.

    Câu 3:

    • Ơn cha trọng lắm ai ơi
    • Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau

    Câu thơ trên nói về công ơn cha mẹ, những người đaz sinh ra chúng ta,tạo nên cơ thể và cho chúng ta cuộc sống ngày hôm nay. Ơn nghĩa của cha mẹ là những ơn nghĩa vô cùng to lớn, những ơn nghĩa ấy không thể đong đầy và không thể kế hết. chúng ta nên nhớ công ơn cha mẹ và có những hành động thể hiện sự báo đáp tình yêu thương của cha mẹ.

    Câu 4:

    • Công cha như núi Thái Sơn
    • Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
    • Một lòng thờ mẹ kính cha
    • Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Đây là câu thơ mà chúng ta thường nghe trong cuộc sống nhất, mỗi chúng ta ai cũng biết câu ca dao về tình nghĩa cha mẹ với con cái này. Công cha được so sánh với núi Thái Sơn, nghĩa mẹ được sánh với nước trong nguồn. để báo đáp lại ơn nghĩa của cha mẹ thì chúng ta nên yêu thương, kính trọng và hiếu thảo với cha mẹ, những người đã sinh ra chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với thầy cô giáo:

    Câu 1:

      Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy

    Bên cạnh công ơn to lớn và rộng lớn như Thái Sơn của cha mẹ thì công ơn của thầy cũng là một công ơn to lớn đối với mỗi người chúng ta. Thầy cho chúng ta những hiểu biết, những kiến thức cuộc sống, những điều lẻ phải trong cuộc sống. ơn thầy được xếp sau công cha, nghĩa mẹ, điều đó cho thấy công ơn của thầy cũng vô cùng to lớn.

    Câu 2:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    Câu thơ nói lên công ơn to lớn của người thầy, dù có học được một chữ hay học một ngày thầy đó cũng là người thầy, người truyền cho chúng ta những kiến thức, những điều hay lẻ phải trong cuộc sống để chúng ta nên người và có những kinh nghiệm trong cuộc sống.

    Câu 3:

    • Mấy ai là kẻ không thầy
    • Thế gian thường nói: đố mày làm nên !

    Câu thơ đề cao nên công ơn to lớn của người thầy, người đã cho ta chữ nghĩa. Câu thơ cũng khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong quá trình học tập và cuộc sống của mỗi người. Chính vì thế mà công ơn của thầy cô vô cùng to lớn.

    Câu 4:

    • Muốn sang thì bắc cầu Kiều
    • Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Câu nói nói lên vai trò của người thầy,người dạy chúng ta chữ nghĩa, dạy chúng ta điều hay lẻ phải trong cuộc sống. Chính vì thế mà muốn cho con minh hay chữ thì trước tiên chúng ta cần phải yêu thương thầy,yêu cái chữ để con mới có một kiến thức vững chắc và nền tảng vững chắc.

    • Ngày nào em bé cỏn con
    • Bây giờ em đã lớn khôn thế này
    • Cơm cha, áo mẹ, công thầy
    • Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

    Câu thơ nói về ơn nghĩa tơ lớn của cha mẹ và ơn thầy cũng là một ân tình to lớn. ơn của thầy cũng giống như ơn nghĩa của cha mẹ, của những người sinh ra ta và yêu thương ta. Người thầy có vai trò rất quan trọng, tạo nên kiến thức cho con người chúng ta.

    Những câu ca dao tục ngữ về lòng biết ơn, uốc nước nhớ nguồn đối với những người xung quanh:

    Câu 2:

      Muốn ăn quả chín, nhớ ơn người trồng.

    Câu tục ngữ này cũng nhắc đến người trồng cây, người đã tạo ra những thành quả để chúng ta có những quả tươi ngon và sạch sẽ. câu thơ cũng nhắc chúng ta nhớ ơn đến những người giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống này.

    Câu 3:

      Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Ăn quả thì chúng ta cần phải nhớ đến người trồng cây, ăn khoai thì chúng ta cũng nên nhớ đến người cho dây, nhờ những người ấy chúng ta mới có được quả ngon, khoai to để ăn, nhắc nhở chúng ta phải biết lễ nghĩa trong cuộc sống này.

    Ngoài những câu ca dao nói về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn ở trên, chúng ta còn có những câu ca dao hay về lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn như :

    Câu 1:

      Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo nhà hàng.

    Câu 2:

      Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi.

    Câu 3:Câu 4:

      Uống nước, nhớ kẻ đào giếng.

    Câu 5:

    • Ơn cha nghĩa mẹ trìu trìu
    • Mưa mai lòng sở, nắng chiều dạ lo

    Câu 6:

    • Biển Đông còn lúc đầy vơi,
    • Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

    Câu 7:

    • Con người có tổ có tông
    • Như cây có cội như sông có nguồn

    Câu 8:

    • Chim có tổ người có tông
    • Cây có cội, nước có nguồn.

    Câu 9:

      Nước có nguồn, cây có gốc.

    Câu 10:

    • Mạch trong nước chay ra trong
    • thế nào đi nữa còn dòng cũng hơn.

    Câu 11:

    • Ai về Phú Thọ cùng ta
    • Vui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười.
    • Dù ai đi ngược về xuôi
    • Nhớ ngày gỗ tổ mùng mười tháng ba.

    Câu 12:

    • Tháng ba nô nức hội đền
    • Nhớ ngày giổ tổ bốn nghìn năm nay.
    • Khôn ngoan nhờ đức cha ông
    • Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ
    • Đạo làm con chớ hững hờ
    • Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên

    Câu 13:Câu 14:

      Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    Câu 15:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    Câu 16:

      Uống nước chớ quên người đào mạch.

    Câu 17:

      Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    Câu 18:

      Đường mòn ân nghĩa không mòn.

    Câu 19:Câu 20:Câu 21:Câu 22:Câu 23:

      Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen.

    Câu 24:

      Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa.

    Câu 25:

      Uống nước chớ quên người đào mạch.

    Câu 26:

      Tiền là gạch, ngãi là vàng.

    Câu 27:

      Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu Chung Thủy Trong Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100