Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em, Tình Cảm Anh Chị Em

--- Bài mới hơn ---

  • Top 101 Những Câu Stt Về Tình Yêu Buồn Khi Chia Tay Người Yêu
  • Những Câu Nói Hay Về Anh Em Xã Hội Cực Chất!
  • 99 Lời Chúc Buổi Sáng Tốt Lành Cho Người Yêu Dễ Thương Nhất
  • Lời Chúc Tết 2022 Tặng Thầy Cô Giáo, Câu Chúc Năm Mới Đinh Dậu
  • Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới, Stastus Kỷ Niệm Ngày Cưới
  • Tình cảm anh em là 1 trong những chủ đề rất hay xuất hiện trong những câu ca dao tục ngữ từ thời xưa tới nay. Vì tình cảm của anh em, hay chị em trải qua rất nhiều thời kỳ giai đoạn và có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yêu tố khác nhau gây chia rẽ mất đoàn kết. Nhờ những câu ca dao và tục ngữ mà cha ông để lại có thể nhiều anh em trong gia đình sẽ chín chắn và trưởng thành hơn để giữ tình cảm anh em ngày thêm gắn bó khăng khít. Tuyển chọn những câu ca dao tục ngữ hay nhất về tình anh em, tình cảm anh chị em

    Trong cuộc sống của mỗi người, ai cũng có một gia đình, một tổ ấm cho riêng bản thân mình. Con người ai sinh ra cũng có cha mẹ, có những anh chị em hết mực yêu thương nhau, những tình cảm đáng quý ấy luôn được quý trọng và nâng niu từng phút giây. Tình cảm gia đình có tình cảm cha mẹ dành cho con cái, tình cảm của con cái dành cho cha mẹ và tình cảm anh chị em trong gia đình dành cho nhau.

    Tục ngữ về anh em, chị em, tình cảm anh chị em:

    Câu tục ngữ trên thể hiện tình cảm an hem, một tình cảm ruột thịt chân thành và sâu sắc. câu tục ngữ nói lên được mối quan hệ giữa an hem trong gia đình, anh với em đều do cha mẹ sinh ra, họ giống như tay với chân, không thể thiếu và không thể tách rời, hình ảnh anh em yêu thương và gắn bó với nhau.

    Anh em đều được sinh ra bởi cha mẹ, họ cùng chung giọt máu, cùng chung một huyết thống. một giọt máu bẻ đôi để tạo nên con người, tạo nên người anh và người em. Câu tục ngữ nói lên mối quan hệ an hem huyết thống, mối quan hệ ruột thịt và chân thành.

    Câu tục ngữ này nói về tình chị em thắm thiết, mượn hình ảnh dây bầu dây bí để nói lên mối quan hệ chị em. Nhưng dây bầu dây bí có thể cắt đi chứ dây tình chị em sâu cắt. thể hiện mối quan hệ chị em, tình cảm ruột thịt với nhau.

    Chị em là những con người có mối quan hệ mật thiết, luôn yêu thương và giúp đỡ nhau, câu tục ngữ nói đến mối quan hệ chị em thắm thiết, khi em bị ngã thì sẽ có chị nâng, chị luôn yêu thương và giúp đỡ em những lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nguy.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về tình anh em, chị em, tình cảm anh chị em:

    Ca dao về anh em, chị em, tình cảm anh chị em:

    Anh em, chị em một nhà luôn yêu thương, giúp đỡ nhau, không ganh ghét đố kị thì cha mẹ sẽ vui, sống đời với chúng ta. Tình cảm anh chị em thắm thiết sẽ tạo nên một gia đình hạnh phúc, vui tươi và bền vững.

    Anh chị em trong nhà luôn luôn tin tưởng nhau, luôn giúp đỡ và quan tâm nhau trong những khó khăn, gian khổ. Không nên nghi ngờ hay trách anh chị em trong gia đình với nhau. Chúng ta nên có lòng tin vào những người trong gia đình của mình.

    Câu ca dao nói đến tình anh em vì bởi đồng tiền mà đấm đá, tranh giành nhau. Đây là mặt trái của tình cảm an hem thắm thiết, những con người ấy khi không yêu thương những người trong gia đình sẽ không yêu thương được ai trong xã hội.

    Câu ca dao khuyên chúng ta không nên vì đồng tiền mà bỏ anh chị em, bỏ đi người thân gia đình, không vì đồng tiền mà gây mất tình cảm gia đình, tình cảm anh chị em trong cuộc sống.

    Tổng hợp những câu ca dao về an hem, chị em, tình cảm anh chị em:

    Trên đây là Ca dao, tục ng về anh em, chị em, tình cảm anh chị em, hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà bạn cần. xin chân thành cảm ơn. Nếu bạn thấy còn thiếu câu ca dao nào còn thiếu về tình cảm anh em, tình cảm chị em vui lòng góp ý thêm cho chúng tôi nhé. Cảm ơn đã đọc bài viết và mong bạn sẽ share bài viết này cho nhiều người cùng đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Midu Đăng Dày Đặc Status Buồn Bã Trên Facebook Cá Nhân
  • Những Câu Châm Ngôn Về Tình Yêu Buồn Vui Hạnh Phúc Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Stt 8/3 Hay Tặng Mẹ, Người Yêu Ý Nghĩa Nhất
  • Stt Valentine Buồn Dành Cho Fa Vơi Bớt Cô Đơn
  • Lời Chúc Sinh Nhật Bố Mẹ Dành Cho Con Gái, Con Trai
  • Tục Ngữ, Ca Dao Về Quan Hệ Gia Đình (Phạm Việt Long

    --- Bài mới hơn ---

  • Mách Bạn Những Cách Phản Ứng Cực Hay Khi Tỏ Tình…thất Bại
  • Stt Hay Chất Đểu Độc Đáo Về Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Những Danh Ngôn Về Lạc Quan Hay Nhất !!!
  • Những Lời Chúc Sinh Nhật Hay Dành Tặng Bạn Gái
  • Trải Lòng Với Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Bị Lừa Dối
  • Published on

    Mời độc giả vào đọc Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam với nhiều tư liệu về văn hoá nghệ thuật đáng quan tâm. Địa chỉ: vanhien.vn

    1. 1. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình LỜI CẢM ƠN Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo sư, tiến sĩ khoa học Phan Đăng Nhậtđã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thànhcông trình này. Tác giả cũng chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ýkiến quý báu giúp tác giả hoàn thiện công trình: – GS. TS Lê Chí Quế – Boxxyno.com Trần Đức Ngôn – GS. TS Nguyễn Xuân Kính – Boxxyno.com Vũ Anh Tuấn – Boxxyno.com Nguyễn Chí Bền – TS. Nguyễn Hữu Thức – TS. Nguyễn Thị Huế. Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Khoa học xã hội và nhânvăn và Trung tâm Công nghệ thông tin (Văn phòng Bộ Văn hoá Thông tin, nay làBộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch) đã giúp dỡ tận tình tác giả trong suốt quá trìnhnghiên cứu, công bố công trình này. Phạm Việt Long 1
    2. 4. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđể nhờ vào sự che chở của người chồng… Xem thế, người đàn bà đối với chồngchỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”3 Như vậy các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam coi người phụ nữ Việt Nam”sống trong chế độ Tam tòng” của Nho giáo, tuân theo đạo tam tòng nghiêm khắcnày. Phạm Việt Long có nhận định khác. Ông cho rằng: “Qua ca dao, chúng tathấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà có cả đàn ông theo vợ, vàquan trọng hơn là họ theo nhau, “phu phụ tương tòng”… Cách thức theo chồngcủa người phụ nữ Việt thời phong kiến đa dạng, phong phú, với nhiều ý nghĩatích cực, thể hiện sự chủ động của người phụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắphạnh phúc cho mình. Trong sự chủ động ấy, người phụ nữ sẵn sàng gánh vác việckhó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịu đựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làmcho vợ chồng được gắn bó. Từ khái niệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả đãchuyển hoá thành khái niệm theo nhau-“tương tòng”, là biểu tượng cho sự gắnbó vợ chồng người Việt trong xã hội phong kiến” 4 Kết luận như vậy có tính uyển chuyển, nhưng quan trọng là bằng conđường nào, bằng phương pháp nào để đi đến kết luận trên. Trước hết, tác giả không tự định ra trong đầu mình một tư tưởng, rồi tìmnhững đơn vị ca dao thích ứng để minh hoạ cho nó. Ông bao quát một kho tàngca dao đồ sộ khá đầy đủ 5, chứa đựng 11.825 đơn vị ca dao. Từ kho tàng đó, ôngchọn ra 1.179 đơn vị nói về đề tài gia đình, chiếm 9,97% tổng số. Từ đó, để khảosát vấn đề quan hệ vợ chồng, ông chọn được 690 đơn vị có đề tài này, chiếm58,52% đơn vị ca dao nói về gia đình (ngoài quan hệ vợ chồng còn có các quanhệ cha mẹ- con cái, anh chị em…) Từ toàn bộ các đơn vị ca dao nói về quan hệ vợ chồng được rút ra từ Khotàng ca dao, gồm 11.825 câu, tác giả bằng thống kê, chỉ ra có 3 kiểu phục tòng(nôm na là theo): – Vợ theo chồng. “Lấy chồng theo thói nhà chồng”, “Có chồng thìphải theo chồng, Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui”… Trong quan hệ này,tác giả cũng rút ra những trường hợp ngược lại, nghĩa là vợ không theo chồng, sốlượng không đáng kể, ví như: “ăn cam ngồi gốc cây cam, Lấy anh thì lấy về Namkhông về” “ăn chanh ngồi gốc cây chanh, Lấy anh thì lấy về Thanh không về”. – Chồng theo vợ. “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo”, “Mình về anh cũngvề theo, Sum vầy phu phụ hiểm nghèo có nhau”… – Cả hai theo nhau. “Theo nhau cho chọn lời vàng đá”, “Quyết theonhau cho trọn đạo”… (Xin xem các trang 65,66- vi tính, ở đó có đầy đủ dẫn chứng)3 Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.198,194.4 Phạm Việt Long, sách đã dẫn, tr.66 (vi tính).5 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên và các cộng sự: Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá-Thông tin, H, năm 1995. 4
    3. 6. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhvề sau nữa, khi được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của người bản địa, chỉcòn giữ được ở nơi xuất phát có cái vỏ hình thức nữa thôi (thường là tên gọi)trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn” 8 Tóm lại, tác giả Phạm Việt Long trong sách Tục ngữ ca dao về quan hệ giađình đã nghiêm túc tiếp thu người đi trước về phương pháp tiếp cận văn hoá, đólà nguyên nhân quan trọng đem đến những đóng góp mới trong công trình nghiêncứu của ông và đây cũng là kinh nghiệm cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểubản sắc văn hoá Việt Nam./. P.Đ.N.8 Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá – Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệthuật, H, 1996, tr.240. 6
    4. 8. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Văn học dân gian, trong đó có tục ngữ, ca dao, là kho tàng văn học quýgiá của đất nước, đã vượt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành một thànhtố quan trọng trong gia tài văn hoá nước ta. Thông qua nghệ thuật ngôn từ, tụcngữ, ca dao đúc kết trí tuệ, tình cảm của nhân dân và phản ánh nhiều mặt củaxã hội, trong đó có phong tục, tập quán, có các mối quan hệ trong gia đình.Việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ, ca dao đã phát hiện ngày càng nhiều nhữnggiá trị tiềm ẩn trong đó, giúp cho con người của xã hội đương đại có cơ sở đểthực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, bảo tồn và phát huy truyền thống vănhóa của dân tộc. Trong qúa trình nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian, vớikhối lượng lớn tục ngữ, ca dao đã được sưu tầm, cần có các công trình nghiêncứu theo chuyên đề, đi thật sâu vào những nội dung chủ yếu của tục ngữ, cadao, qua đó làm cho người đương thời hiểu sâu hơn tục ngữ, ca dao, để cócách thức ứng xử phù hợp với kho tàng văn hoá quý giá này của dân tộc và đểrút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hiện tại. Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển toàn diện, hướng tới mụctiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phù hợp vớixu hướng của thời đại, Đảng cộng sản Việt Nam coi văn hóa vừa là mục tiêuvừa là động lực của phát triển. Trong quá trình mở rộng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập với thế giới, bên cạnh những yếu tố tích cực, một vấn đề nóng bỏnghiện nay là sự hấp thụ thiếu chọn lọc những biểu hiện văn hóa ngoại lai, xa rờinhững tiêu chuẩn đạo lý dân tộc từng tồn tại hàng nghìn đời nay. Nhiều mặttiêu cực của xã hội hiện đại đã tác động vào gia đình, tạo ra nguy cơ phá vỡ sựbình yên của gia đình. Trong điều kiện đó, gia đình trong xã hội hiện đại đang là một vấn đềđược quan tâm. Quay trở về những giá trị truyền thống, trong đó có quan hệgia đình, đã trở thành xu hướng của thời đại. Việc nghiên cứu những giá trịtrong gia đình truyền thống thể hiện qua tục ngữ, ca dao là một cách thức đónggóp vào việc định hướng xây dựng gia đình trong xã hội ngày nay. Trong bối cảnh trên, việc làm sáng tỏ vấn đề phong tục, tập quán trongquan hệ gia đình qua tục ngữ, ca dao, chọn lựa và đề cao những phong tục tậpquán tốt đẹp của dân tộc, tìm ra và loại bỏ những hủ tục, sẽ góp phần đáng kểvào việc làm rõ nội hàm của khái niệm “Truyền thống văn hóa Việt Nam”,chống lại lối sống thực dụng, xa rời những chuẩn mực đạo đức, giáo dục, nângcao trình độ văn hóa, củng cố gia đình, ổn định xã hội, góp phần xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp cách mạng hiệnnay cũng như lâu dài. 8
    5. 9. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Với những lý do như đã trinh bầy, chúng tôi căn cứ vào tục ngữ, ca daocủa người Việt đã được sưu tầm và in thành sách để khảo sát về quan hệ giađình người Việt truyền thống. Sở dĩ chúng tôi chọn hai thể loại này vì chúnggần gũi với nhau trong phương thức hình thành, lưu truyền cũng như trong nộidung và nghệ thuật. Tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm, hai thểloại này sẽ bổ trợ cho nhau để chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề gia đình từ cảhai góc độ lý trí và tình cảm. Thực hiện phương châm kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá của dân tộc,chúng tôi đã tìm hiểu khá kỹ công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao củanhững bậc tiền bối và thấy như sau: Việc sưu tầm, chú giải tục ngữ, ca dao nóichung đã được tiến hành từ nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, nhưng chưa có côngtrình nào đi sâu nghiên cứu riêng về phong tục tập quán trong quan hệ gia đìnhngười Việt mà chỉ có một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này trong một sốchương, mục. Năm 1940, qua Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu)nói về Gia tộc phụ hệ và Chống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Namthể hiện qua ca dao. Năm 1960, ở tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phongkiến trong ca dao Việt Nam, Hằng Phương nêu lên những nội dung có tínhchất chống đối trong ca dao. Từ năm 1956 đến năm 1978, qua việc phân tíchca dao, Vũ Ngọc Phan nêu lên sự đối xử bất công đối với người phụ nữ, mâuthuẫn mẹ chồng – nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng tróibuộc người phụ nữ. Từ những năm 90 đến nay, các nhà nghiên cứu đã chú ý nghiên cứu vềtục ngữ, ca dao theo chuyên đề. Có những công trình được xuất bản hoặc táibản đáng chú ý như: Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Ca dao tụcngữ với khoa học nông nghiệp của Bùi Huy Đáp, Tìm hiểu thi pháp tục ngữViệt Nam của Phan Thị Đào, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việtcủa Triều Nguyên, Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp của Nguyễn TháiHòa, Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúccủa Triều Nguyên… Có hai tác phẩm đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặcbiệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con người trong xã hội, đó là Thica bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm ngườitrong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân. Nghiên cứu về phong tục, tập quán trong gia đình người Việt, các côngtrình ngiên cứu khoa học trên góc độ xã hội học, văn hoá học, và đặc biệt làdân tộc học, đã có những tác phẩm chuyên sâu hoặc đã có những chuyên mụcchuyên sâu. 9
    6. 14. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG MỘT TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ GIA ĐÌNH ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỄC NGỮ, CA DAO 1. NHỮNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAMTRUYỀN THỐNG 1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội,gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đápứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trịvăn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách conngười, phát triển kinh tế – xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốcgia trong tiến trình lịch sử. 1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóaViệt Nam. Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bínhtrong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc,gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự tổ tông,đạo làm con, thượng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, kỵ nhựt, tứthời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý làtrong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minhchứng. Phan Kế Bính đã đưa ra nhận xét như sau: trong quan hệ gia đình ngườiViệt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, đạo làm con phải trọng chữ hiếu, vợchồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau. Ông cũng phê phán một số biểu hiệntiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình như trọng nam khinh nữ, đathê… Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả ToanÁnh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh:Gia đình chỉ “những người thân thuộc trong một nhà.” . Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã xem xét Giađình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo và viết: 14
    7. 15. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình “Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị – kinh tế – xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là: – Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp. – Trật tự trên dưới theo phân vị. – Tổ chức làng – họ. – Cuộc sống nông thôn và cung đình. – Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tưởng sống êm ấm, trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông, người cha, người chồng”. Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước tatrước đây để chỉ ra có bốn hạng người trong dân là sĩ, nông, công, thương,nhưng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông “Phân biệt gia đình truyềnthống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ.”. PGS. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm vànhận xét bước đầu về gia đình người Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồngbằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình người Việt cổ truyền, Nguyễn Từ Chinhấn mạnh đến loại mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từnông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cả trên khắp đấtnước, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt 15
    8. 17. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhthất thế, Vũ Đình Liên với bài thơ Ông Đồ chia sẻ tâm trạng của cả xã hội ViệtNam đối với tầng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giaitầng mới, trong đó có viên chức và công nhân. Ngày nay, từ kết quả của các công trình nghiên cứu về Nho giáo, chúngta không phủ nhận ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với văn hóa giađình ở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và xã hội cho nên mẫu hìnhtruyền thống của gia đình Việt Nam có những nét rất khác với gia đình truyềnthống ở Trung Quốc. Cũng vì vậy, tư tưởng về gia đình của Nho giáo đã bịkhúc xạ trong gia đình truyền thống ở Việt Nam. Ví dụ gia đình truyền thốngcủa Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họtộc và thường gia đình phát triển theo hướng gia đình nhỏ thành đại tộc. Trongxưng hô, người Trung Quốc đưa họ lên vị trí chủ yếu (Lưu tiên sinh, Trần đạinhân…), tên người là phụ. Trong khi đó, ở Việt Nam, gia đình thường ở quymô nhỏ, cách xưng hô thân mật hơn, nhấn mạnh tên người, đề cao tính cộngđồng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần” chứkhông đề cao tuyệt đối tộc họ, coi đó như là một đẳng cấp phân biệt trong xãhội. Những đặc tính nói trên được phản ánh rõ trong các mối quan hệ tronggia đình mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương sau qua tục ngữ, ca dao. 2. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ, CA DAO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về tục ngữ, ca dao,phong tục tập quán. Tuỳ từng góc độ chuyên môn, mỗi nhà nghiên cứu quantâm đến những đặc tính này hay đặc tính khác của đối tượng để định nghĩakhái niệm, nhưng nói chung đã tương đối thống nhất ở những điểm cơ bản. Kếthừa quan niệm của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi nêu lên những kháiniệm sát với hướng nghiên cứu của chúng tôi như sau: 2.1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, được hình thành và sử dụngtrong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn,có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biếnrộng rãi trong nhân dân. 2.2. Khái niệm ca dao Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu(phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưutruyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tìnhcảm. Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca. Vào giai đoạn muộn vềsau, ca dao cũng được sáng tác độc lập. 17
    9. 20. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình “Đứa con không là gì hết, người đàn bà không là gì hết, con người không là gì hết. Cha là tất cả, chồng là tất cả, đàn ông là tất cả. Đó là chân lý phụ quyền của Nho giáo, mà giai cấp sĩ phu vẫn muốn dùng làm luân lý nền tảng của xã hội Việt Nam cũ, bởi nó rất thích hợp với chế độ quân quyền và kinh tế nông nghiệp, hai nguồn quyền lợi của giai cấp ấy. Nhưng chế độ quân quyền với trạng thái nông nghiệp ở xứ ta cũng mang một hình thức đặc biệt không giống xã hội Trung Quốc. Cho nên chế độ gia tộc Việt Nam chỉ tiến được đến khuôn khổ phụ hệ là ngừng lại, không đủ điều kiện chuyển sang khuôn khổ phụ quyền tuyệt đối như ở Trung Hoa. Vì thế mà ở trong dân gian luôn luôn lưu hành một sức chống nam quyền, chống phụ quyền, chống Nho giáo rất là mạnh mẽ.” . Tác giả nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca daolà: – Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xưa. – Cưỡng ép hôn nhân. – Tảo hôn. – Đa thê – Cảnh góa bụa. – Mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng. – Không dân chủ trong gia đình. Vào năm 1960, viết như trong tiểu luận thể hiện một tinh thần chống đốiphong kiến đáng trân trọng. Công trình nghiên cứu tuy còn sơ lược nhưngcũng đã nêu lên diện mạo phía trái của gia đình Việt Nam; tuy nhiên, nếukhông nhìn sang phía phải, thì e rằng sẽ không tìm ra những truyền thống quýbáu trong quan hệ gia đình người Việt để gìn giữ và phát huy. Nguyễn Nghĩa Dân chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại:một loại về lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân, và loại về đạo làmngười trong quan hệ gia đình. Tác giả viết: “Tục ngữ, ca dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ,”… “Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người.”. “Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận.” . “Nhưng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ưng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh:” . Nguyễn Tấn Long và Phan Canh nhấn mạnh đến luật pháp của phongtục, nó khiến cho chế độ cai trị phải tôn trọng lề thói của địa phương. Các tácgiả liên hệ: Trong thi ca bình dân, những tầng lớp phụ nữ đã nối tiếp nhau quanhiều thế hệ, nói lên ý thức chống đối của họ, cho nên, ngoài sự phát triển mứcsống của hệ thống kinh tế, sự chống đối giữa ý thức cai trị và ý thức tục lệchính là mầm mống phân chia trong hệ thống chính trị.” . Các tác giả nhận xét rằng người đàn bà bình dân đã chống lại chế độ phụ quyền bằng cách lật đổ hình tượng người đàn ông, chỉ rõ những thứ xấu xa của người đàn ông, phủ nhận ý thức tôn thờ người đàn ông: “Cho nên, nếu người đàn ông đem giá trị người đàn bà hạ nhục để khống trị9, thì người đàn bà cũng đem giá trị người đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam, …” . …”Tóm lại, giáo lý “tam tòng” của Khổng Mạnh đã bị đổ nát. Dòng lịch sử đấu tranh chống phụ quyền của người đàn bà chiến thắng, phá vỡ hoàn toàn cái hình tượng tôn thờ đàn ông. Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cương quyết cực đoan, trắng trợn. Họ đòi bình quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nhưng, cương quyết và cực đoan chưa phải là lợi khí mầu nhiệm trong lịch sử đấu tranh của họ. Điều thành công là họ đã khéo lôi cuốn đàn ông, lớp người tân tiến, cùng đứng chung trong ý thức chống đối của họ để tạo thành một phong trào giải phóng phụ nữ.” . Về những khắc khoải của tình yêu qua tập tục lễ giáo, có những ý chínhnhư sau: “Quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của con chính là nguyên nhân phát sinh những tâm hồn khắc khoải của nam nữ thanh niên thời bấy giờ.” . Về tình vợ chồng, các tác giả viết: “Trước nhất, chúng ta thường thấytrong ca dao Việt Nam, người bình dân quan niệm sự sống chung giữa vợchồng là một cái “đạo”. . Nói về gia đình nhà nho, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã nhận xét: “Tuy thế, trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khoá lại là ở người đàn bà, người chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi là nội tướng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhưng thực tế thì là người chủ trì việc nhà.”. Nhà giáo Nguyễn Nghĩa Dân nghiên cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, và đặc biệt là phương pháp quy nạp, để luận bàn về đạo làm người được thể hiện qua tục ngữ, ca dao: “Kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp, gia đình vừa là đơn vị lao động vừa là tế bào của tổ chức xã hội, lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều “công thức” về đạo làm người do giai cấp phong kiến thống trị áp đặt như phụ: từ, tử: hiếu, phu: xướng, phụ: tùy, tam tòng, tứ đức; trọng nam, khinh nữ. Trong gia đình cũng có những thành kiến về “bà gia10 nàng dâu”, về “dì ghẻ con chồng”, về “anh em rể, chị em dâu”, về “ông chú mụ o”… làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Chín đời họ mẹ còn hơn người dưng”. Tục ngữ về đạo làm người một mặt làm nhiệm10 Từ bà gia do tác giả viết theo phương ngữ, có nghĩa là mẹ chồng. 25
    10. 26. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến nói trên” . “Cho nên, trước kia cũng như hiện nay, trong đạo làm người của Việt Nam vẫn tồn tại những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ hoặc ca dao về đạo làm người, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, vào tinh hoa văn hóa chung về dựng nước và giữ nước hình thành từ hàng nghìn năm qua.” . “Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thường xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm”. . “…trong quan hệ nếp sống cộng đồng ta cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục, mê tín dị đoan… là những nhược điểm cần loại trừ khỏi đời sống hiện nay.” . “Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu…” 26
    11. 29. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình + Những nét chung nhất là: Tương thân tương ái. Muốn tạo hoà khí giađình thì cách ứng xử phổ biến là nhịn nhục, nhưng chỉ có phụ nữ nhịn nhục.Không lấy tình yêu trai gái làm yếu tố chính cho tình cảm gia đình, mà lấy tìnhcảm sinh hoạt làm căn bản. Gia đình là cơ sở giáo dục con người. Người dânViệt đã bảo vệ phong tục lễ giáo, nhờ thế mà ngày nay ta còn được những mầusắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem nhưmột chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người. Ngày nay,đạo thờ cúng tổ tiên còn được duy trì và tồn tại chính là nhờ ý thức hiếu đạocủa người bình dân. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nôngthôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi. Trong đạo làm người của Việt Nam vẫnlưu giữ những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xácđịnh là qua tục ngữ, ca dao, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bảnsắc dân tộc, góp phần tạo ra tinh hoa văn hóa chung từ thời dựng nước, trải quahàng nghìn năm hình thành và phát triển. Tục ngữ, ca dao Việt Nam thể hiệnkhông chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lênnếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bóđoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước. Quan hệ dọctrong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữthuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, “Uống nước nhớnguồn”. Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp. Tìnhnghĩa là chất keo sơn gắn bó mọi thành viên trong một gia đình, một địaphương và trong cả nước, tạo nên sự cố kết vững chắc. “Nghĩa” là một giá trịđạo đức có trong luân lý Khổng Mạnh nhưng “nghĩa tình” lại là sáng tạo mangbản sắc dân tộc Việt. Tình nghĩa làm cho quan hệ giữa người với người ViệtNam bền chặt trong từng cộng đồng, từ gia đình đến xã hội. Nếp sống cộngđồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tếnông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thườngxuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm. Trong quan hệ nếp sống cộngđồng Việt cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục,mê tín dị đoan… Cùng với xu hướng phản phong của văn học dân gian ViệtNam, tục ngữ, ca dao về đạo làm người chống lại những thói hư tật xấu,những hành vi vô đạo đức, phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưutruyền như kinh nghiệm xấu, cần phải khắc phục… + Về mối quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ, ca dao nhấn mạnh quan hệ mẹcon, ghi lại thiên chức và tình cảm của người mẹ. Tục ngữ, ca dao cũng nêuđược truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Có tác giả khẳng địnhrằng qua tục ngữ, ca dao thấy quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của 29
    12. 30. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcon. Tục ngữ, ca dao phê phán những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ của conđối với mẹ. + Về mối quan hệ vợ chồng: Tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quanniệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy quyền hạngiữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trêntính chất tương ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu vàhòa thuận. Người phụ nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu”của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụtương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực,chung thủy, khác với đạo “tam tòng” của Khổng Mạnh. Người phụ nữ ViệtNam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắtbuộc, mà phát xuất từ tình thương, từ lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Trongluật lệ của triều đình phong kiến, có một số trường hợp, như Lê triều hìnhluật có những điều khoản tỏ ra coi trọng phụ nữ. + Về mối quan hệ anh chị em: Trong tục ngữ, ca dao, tình anh em đượcnói tới ít, nhưng cũng thiết tha. Quan hệ anh em có khi bị ý thức tư hữu chiphối, nhưng tình huyết thống vẫn giữ một vai trò thiêng liêng. 4. NHÂN TỐ TÁC GIẢ CỦA TỤC NGỮ, CA DAO VỀ QUAN HỆ GIAĐÌNH. Tác giả của tục ngữ, ca dao chủ yếu là nông dân. Xã hội Việt Nam trướctháng 8 năm 1945 có tới 95% dân chúng mù chữ. Người được học chữ Hán haychữ quốc ngữ thời ấy không nhiều, hay nói đúng là quá ít ở nông thôn ViệtNam. Phương thức sáng tác ngẫu hứng, truyền miệng trong môi trường sinhhoạt dân dã sản sinh những câu ca dao chan chứa tình cảm và hàm chứa nhiềutâm sự. Phương thức canh tác nông nghiệp cổ truyền, những luật tục của họtộc, làng quê trong một xã hội tiến triển chậm chạp là môi trường nẩy sinhnhững câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của con người đối với tự nhiên, xã hộivà gia đình để truyền lại các các thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, nếu khảo sát hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ còn lưu giữ đếnhôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò của những nhà nho trong việc sángtác và phổ biến những câu ca dao, tục ngữ. Cũng cần nói thêm rằng ở một sốbài viết về tác giả của tục ngữ và ca dao, một số nhà nghiên cứu đã minh chứngvề sự hiện diện của tầng lớp nho sĩ trong các cuộc hát ví phường vải, những bàidiễn ca tế thần, hát trống quân… Cũng không là ngoại lệ trong số 730 câu tục ngữ và 1.179 câu ca dao nóivề gia đình có ghi dấu ấn của nhà nho. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đưanhững câu tục ngữ, thành ngữ của Trung Quốc, những châm ngôn của Nho 30

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Hay Và Độc Đáo Nhất Dành Cho Vợ/chồng
  • Stt Về Hoa Hồng, Những Câu Nói Hay Về Loài Hoa Tình Yêu Bất Tử
  • Những Lời Chúc Tết Dương Lịch Tặng Bố Mẹ
  • Top 200 Stt Du Lịch Hay Và Ý Nghĩa Nhất Tháng 9 2022
  • Những Câu Status Hay Ý Nghĩa Cảm Động Nhất Về Tình Yêu Nhất Định Sẽ Khiến Bạn Rơi Lệ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em (Phần 5)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Vui Về An Toàn Giao Thông
  • Top 100 Khẩu Hiệu An Toàn Giao Thông Hay, Hài, Ý Nghĩa Nhất 2022
  • Những Bài Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về An Giang Hay Nhất
  • Về An Giang Ghé Thăm 7 Núi
  • Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Anh chị em bạn

    Anh chị em bạn dì

    Anh chị em con cô con cậu

    Anh chị em dị bào

     Anh chị em dì già

     Anh chị em đồng hao

    Anh chị em họ

    Anh chị em kết nghĩa

     Anh chị em ruột

     Anh chị em sinh đôi

    Anh chị em thúc bá

    Anh chị em trong nhà dĩ hòa vi quý

     

    Chị em một ruột mà ra

    Chị giàu em khó hóa ra người ngoài.

     

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi 

    Chị em dâu như bầu nước lã

     

    Chị em ơi! Người ta trông thấy chồng thì mừng

    Sao tôi trông thấy mặt chồng thì đắng như gừng với vôi

    Chị em ơi! Lấy chồng trước thì chẳng kén đôi

    Từ ngày tôi lấy phải nó, chẳng nguôi trong lòng

    Ba bốn lần, tôi trả của chẳng xong

     

    Chị em thì thật là hiền

    Chỉ vì đồng tiền mà nát lòng nhau

     

    Em khôn cũng là em chị

    Chị dại cũng là chị em

     

    Cây mít ướt trồng bờ ao cũng ướt

    Cây ớt cay trồng nơi ang nước cũng cay

    Chị em mình hò hố cho hay

    Anh hùng xa xứ cắn móng tay đứng nhìn

     

    Năm thìn năm tị chị chẳng nhìn em

    Hoa bí đỏ ngoài

    Hoa bầu trắng xóa

    Muốn ăn được quả

    Xin chớ ngắt hoa

    Ai về nhắn chị em nhà

    Muốn cho hoa tốt liệu mà bón phân

     

    Yêu nhau chị em gái vái nhau chị em dâu

    Đánh nhau đến vỡ đầu là anh em rể

     

    Nỡ dang tay em dứt tơ hồng

    Đứng đầu núi nọ mà trông non nầy

    Ánh phong lưu son phấn đọa đầy

    Thay đen đổi trắng để ai rày yêu thương

    Chẳng may ra tán tía tàn vàng

    Mười phương thiên hạ xem thường vào đâu

    Tấm thân em chẳng nghĩ mặc dầu

    Bọn đàn bà còn để tiếng xấu về sau muôn đời

    Chị em ơi thế cũng kiếp người

    Anh có thương thì thương cho chắc

    Có trục trặc thì trục trặc cho luôn

    Đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông

    Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn trăng!

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Anh Em, Tình Cảm Anh Em Trong Gia Đình
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Thầy Cô Giáo Ý Nghĩa Nhất Chia Sẻ Nhiều Trên Zalo, Fb • Adayne.vn
  • Danh Sách Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Ngày 20/11 Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em (Phần 8)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu Chung Thủy Trong Dân Gian
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Một nhánh tra, năm ba nhánh trảy,

    Một nhánh trảy, năm bảy nhành nho,

    Em tới đây, có đủ quan văn, quan võ, trẻ nhỏ, học trò.

    Ai mà đối đặng tôi gả em chị em cho,

    Ai mà đối không đặng, tôi bắt chăn bò ba năm.

    Một nhánh trảy, năm bảy nhánh mai

    Một nhánh mai trăm hai nhánh thị

    Chữ văn, chữ sĩ, anh đối hết trăm câu

    Đối rồi anh hỏi chị em đâu

    Nếu chị không có, anh bắt em hầu ngàn năm

    Một nhánh trảy, năm bảy cành mai

    Một nhánh mai, trăm hai nhánh thị

    Chữ văn, chữ sĩ, anh đối trọn trăm câu.

    Đối rồi, anh hỏi chị em đâu ?

    Nếu chị em không có, anh bắt em hầu mười năm.

    – Một bụi tre sinh năm, ba bụi trảy

    Một nhánh trảy sinh năm, bảy cây viết son,

    Em có gả chị cho anh thì nhân nghĩa vẫn còn,

    Em mà không gả, anh bắt giữ con trọn đời.

    Miệng mời tay lại mở nem,

    Nem thời có ít, chị em thời nhiều.

    Thân em như thể bình vôi

    Bỏ lăn bỏ lóc mồ côi một mình

    Chị em ai thấy đừng khinh

    Đỏ môi thắm miệng nhờ mình chớ ai

    Chồng già vợ trẻ là xinh

    Vợ già chồng trẻ như hình chị em

    Bảy thua bảy dày, Cùng là ngạt kéo,

    Chị em khéo léo, Dễ mượn dễ vay,

    Thân tôi ngày rày, Dầm sương dãi nắng,

    Chị em có mắng, Tôi cũng ngồi đây

    Nó là tuồng dày,

    …………………Nó cũng a dua,

    Ăn thì tôi vùa, Thua thì tôi chạy.

    Nhà ai xay lúa ầm ầm,

    Cho xin nắm trấu về hầm bà gia.

    Bà gia mới chết hôm qua,

    Trong chạy, ngoài bội tốn ba mươi đồng.

    Không khóc thì tội bụng chồng,

    Khóc thì lạt lẽo như đưa hồng mắc mưa.

    Ớ chị em ơi !

    Cho tôi xin tí nước mắt thừa,

    Tôi về tôi khóc tiễn đưa bà mẹ chồng.

    Khóc rồi, tôi đổ xuống sông,

    Cá mương, cá diếc, cá hồng ních no… !

    Mở lời chào gió, chào trăng

    Chào quanh Núi Chúa, chào băng Sông Trà

    Mở lời chào chị em ta

    Bên hữu đàn bà bên tả đàn ông

    Mở lời chào gái nữ công

    Chào trai tiết hạnh giữa đám đông hội nầy

    Khoan khoan bớ bạn khoan chào

    Lại đây ta hỏi người nào biết ta

    Từ khi cha mẹ sinh ra

    Tự lớn chí nhỏ, bạn ta mấy lần

    Xưng rằng bạn cựu bạn tân

    Lại đây ta hỏi mới giao lân kết nguyền

    Anh em, như tre cùng khóm.

    Chị em gái, như trái cau non.

    Chị em, trên kính dưới nhường,

    Là nhà có phúc, mọi đường yên vui.

    Chị em khi túng, chúng bạn khi cùng.

    Em khôn, cũng là em chị,

    Chị dại, cũng là chị em.

    Bữa nay giọng tắt tiếng khan,

    Trong mình mỏi mệt choan van cả đầu.

    Tai anh nghe chị em hò hát đã lâu,

    Giật mình trở dậy bới đầu bịt khăn.

    Bước ra ba bước than rằng :

    Biết nơi đâu xứng nợ,

    Biết nơi nào bằng kết đôi?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 100+ Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu, Về Cha Mẹ, Chế
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Bạn Thâm Thúy Và Đáng Suy Ngẫm!
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Sự Tiết Kiệm, Hoang Phí, Lãng Phí Thời Gian Của Cải Tiền Bạc Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo Hay Và Ý Nghĩa Nhất Mà Bạn Nên Đọc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Danh Lam Thắng Cảnh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em Bạn Bè

    1. Thói thường gần mực thì đen

      Anh em bạn hữu phải nên chọn người

      Những người lêu lổng chơi bời

      Cùng là lười biếng ta thời tránh xa.

    2. Anh em cột chèo như mèo với chó
    3. Có chè có rượu không thiếu anh em
    4. Anh em chém đằng gọng

      Ai chém nhau đằng lưỡi.

    5. Bán anh em xa mua láng giềng gần
    6. Anh em chém nhau đằng gọng (bề sống)

      Không ai chém nhau đằng (bề) lưỡi

    7. Anh em một khí huyết dây (huyết phân)

      Cũng như người có chân tay (tay chân) khác gì

      Ai ơi lấy đấy mà suy

      Có câu đường lệ trong thi để truyền

    8. Anh em như chông như chà
    9. Anh em như thủ túc
    10. Anh em như dao với mác
    11. Anh em như kèn với trống

    ⚡️ Chia sẽ bạn 1001 Câu 😍 CA DAO VỀ CON NGƯỜI 😍 Hay Nhất

    Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em Xã Hội

    Những câu ca dao tục ngữ về anh em xã hội ý nghĩa nhất:

    Anh em bốn bể là nhà

    Người dưng khác họ vẫn là anh em

    Khi nghèo thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

    Anh em cốt nhục đồng bào

    Vợ chồng cũng nghĩa lẽ nào chẳng thương

    ⚡️ Tặng bạn 1001 Câu ❣️ CA DAO TỤC NGỮ VỀ QUÊ HƯƠNG ❣️ Hay Nhất

    Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Chị Em

    SCR.VN tặng bạn các câu ca dao tục ngữ về chị em hay nhất

    • Ai ơi giữ chí cho bền ()

      Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai

      Xin đừng làm, nói đơn sai

      Tin mình đừng sợ những lời dèm pha

      Chị em một họ một nhà

      Thương nhau chân thật đường xa cũng gần

    • Chị ngã em nâng
    • Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em.
    • Cắt dây bầu dây bí, ai nỡ cắt dây chị dây em.
    • Chẳng khôn thể chị lâu ngày, chị đái ra váy cũng tày em khôn.

    ⚡️ Tặng bạn 1001 Câu 😍 CA DAO VỀ MẸ 😍 Hay Nhất

    Ca Dao Tục Ngữ Về Cha Mẹ Anh Em

    Những câu ca dao tục ngữ về cha mẹ anh em trong cùng một nhà

    Anh em hiền thậm là hiền

    Bởi một đồng tiền mà đấm đá nhau.

    Anh em bất nghĩa chi khèo (khoèo)

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    Anh em hiếu thảo thuận hiền

    Chớ vị đồng tiền mà mất lòng nhau.

    Anh em chín họ mười đời

    Hai đằng cùng có, chẳng rời nhau ra

    Anh em như thể chân tay

    Cùng cha cùng mẹ hăng say việc nhà.

    Anh em chồng vợ sum vầy

    Vui này đã bỏ những ngày chia ly

    ⚡️ Chia sẽ bạn 1001 Câu 😍 CA DAO TÌNH CẢM VỀ GIA ĐÌNH 😍 Hay Nhất

    Anh em như chân như tay

    Vợ chồng như áo, cởi ngay tức thì.

    Anh em cốt nhục một nhà

    Kẻ sau người trước thuận hòa cho vui

    Quý hồ ăn ở tới lui vừa lòng

    Có tiền thì đãi người dưng

    Anh em bất nghĩa thì đừng anh em.

    Anh em hiền thật là hiền

    Bởi một đồng tiền làm mất lòng nhau

    Anh em như chân với tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Làm người phải biết cương thường

    Xem trong ngũ đẳng quân vương đứng đầu

    Thờ cha kính mẹ trước sau

    Anh em hòa thuận mới hầu làm nên

    Vợ chồng đạo nghĩa cho bền

    Bạn bè chung thủy, dưới trên đàng hoàng.

    Anh em như chân như tay

    Vợ chồng như áo, cởi ngay tức thì

    Anh em trên kính dưới nhường

    Là nhà có phúc mọi đường yên vui.

    Anh em như chân với tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    Anh em như thể chân tay

    Cùng cha cùng mẹ hăng say việc nhà

    Ai ơi giữ chí cho bền

    Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai

    Xin đừng làm, nói đơn sai

    Tin mình đừng sợ những lời dèm pha

    Anh em một họ một nhà

    Thương nhau chân thật đường xa cũng gần.

    Anh em như thể tay chân

    Anh em hòa thuận hai thân vui vầy

    ⚡️ Chia sẽ bạn 1001 Câu 😍 CA DAO TỤC NGỮ VỀ XÃ HỘI 😍 Hay Nhất

    Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Chị Em

    Những câu ca dao tục ngữ về tình cảm chị em gắn kết vui buồn và ý nghĩa:

    1. Chị ngã em nâng

    Chị ngã em nâng đây là nói về khi chị ngã em sẽ nâng chị dậy nhưng ý nghĩa sâu xa mà nó thể hiện đó là nói về tình cảm của hai chị em trong gia đình luôn luôn phải tương trợ giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh, khi khó khăn và khi gian nan nhất.

    2. Anh em như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần

    Anh em trong gia đình đều sống chung trong một mái nhà, cùng lớn lên trong mối quan hệ tình cảm gắn bó với nhau. Anh có thể giúp em và, ngược lại, em có thể giúp anh. Mối quan hệ đó giống như mối quan hệ giữa tay và chân.

    3. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Đã là anh em cùng mẹ cùng cha thì nên yêu thương nhau, đùm bọc chia sẻ lẫn nhau vì chẳng có ai mà có thể đùm bọc hơn là người thân, anh em ruột thịt.

    4. Anh em trên kính dưới nhường Là nhà có phúc, mọi đường yên vui

    Anh em trong nhà mà yêu thương nhường nhịn lẫn nhau thì trong nhà sẽ luôn yên vui và êm ấm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo
  • ‘một Lần Bất Tín, Vạn Lần Bất Tin’
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Và Xã Hội
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá
  • Triết Lý Biện Chứng Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam Và Việc Vận Dụng Vào Dạy Học Triết Học
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Ca dao tục ngữ về tình chị em

    Chồng con nó chẳng ra gì

    Tổ tôm sóc đĩa nó thì chơi hoang

    Nói ra, xấu thiếp hổ chàng

    Nó giận, nó phá tan hoang cửa nhà

    Nói đây, có chị em nhà

    Còn năm ba thúng thóc với một và cân bông

    Em bán đi trả nợ cho chồng

    Còn ăn hết nhịn cho hả lòng chồng con

    Đắng cay ngậm quả bồ hòn

    Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

    Nói ra, sợ chị em cười

    Con nhà nho-giáo lấy phải người đần ngu

    Rồng vàng tắm nước ao tù

    Người khôn ở với người ngu nặng mình

    Chồng em nó chẳng ra gì

    Tổ tôm, xóc đĩa, nó thì chơi hoang

    Nói ra xấu thiếp hổ chàng

    Nó giận nó phá tang hoang cuẳ nhà

    Nói đây, có chị em này

    Còn năm thúng thóc, một vài cân bông

    Em bán đi, trả nợ cho chồng

    Còn ăn hết nhịn, hả lòng chồng con

    Đắng cay ngậm quả bồ hòn

    Cửa nhà gia thế, chồng con kém người

    Nói ra sợ chị em cười

    Con nhà gia giáo, gặp ngưởi đần ngu!

    Rồng vàng tắm nước ao tù

    Người khôn ở với người ngu bực mình.

    Chồng lớn vợ bé thì xinh

    Chồng bé vợ lớn ra tình chị em

    Em ơi đừng khóc chị yêu

    Nín đi chị kể truyện Kiều em nghe

    Gái có chồng như gông đeo cổ

    Gái không chồng như phản gỗ long đanh

    Phản long đanh anh còn chửa được

    Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi

    Không chồng khốn lắm chị em ơi!

    Mọi người có cả, em ngồi em than

    Hoa bí đỏ ngầu hoa bầu trắng xóa

    Muốn được ăn quả, đừng có ngắt hoa

    Ai về nhắn chị em nhà

    Muốn cho hoa tốt liệu mà bón phân

    Lẳng lơ chẵng một mình tôi

    Thanh Lâm, Ðồng Sớm cũng đôi ba người

    Nói ra sợ chị em cười

    Lấy chồng tháng chín, tháng mười đẻ con

    Lúc đêm sương sương lạnh trăng mờ

    Canh tàn, rượu tỉnh, lúc bấy giờ em nghĩ thương thân

    Em tiếc thay trong giá trắng ngần

    Nỡ gieo mình vào đám phong trần mà chơi

    Chốn hang sâu lẩn khuất hương trời

    Non xanh nước biếc để ai người biết cho

    Con chim khôn đã mắc phải dò

    Vui gì cái kiếp giang hồ hỡi chị em ơi

    Tính đốt tay quá nửa xuân rồi

    Đầu xanh mấy nỗi da mồi tóc sương

    Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà thương

    Tài tình chi lắm để mang nợ đời

    Trông non sông mà thẹn với Trời

    Khi vui vui gượng, khi cười em cười suông

    Ruột con tằm trăm mối tơ vương

    Bên trời góc bể biết gởi can trường vào đâu

    Ai về nhắn ả Mạc Sầu.

    Mày đẹp cho mẹ mày lo

    Đêm đêm lắm kẻ rình mò ước ao,

    Xấu xí như chị em tao,

    Đêm nằm ngỏ cửa, gió vào mát thay

    Muốn cho anh chị em nhà

    Trên dưới thuận hòa, nếp sống an vui

    Miệng mời tay lại mở nem

    Nem thời có ít, chị em thời nhiều

    Một lo đứng cửa trông ra

    Hai lo đi lấy chồng xa nước người

    Ba lo sợ chị em cười

    Bốn lo đi ngược, về xuôi sao đành

    Năm lo lúc tử, lúc sinh

    Sáu lo phận (con) gái một mình đường xa

    Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà

    Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi

    Chín lo em thiệt cả mười

    Mười lo (Để em) kiếm lối tìm nơi đi về

    Một năm là mấy mùa xuân

    Gái kia hồ dễ mấy lần đưa dâu

    Chị em dâu như bầu nước lã

    Chị em gái như cái nhân sâm

    Ngày xưa đại tướng cầm quân

    Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

    Nhờ cô nhờ bác giúp lời

    Chị em giúp của, ông trời định đôi

    Người ta năm bảy chị em

    Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Duy Tâm Chủ Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Valentine Tặng Bạn Trai, Lời Chúc 14/2 Tặng Bạn Trai Hay Nhất
  • Lời Chúc Valentine 14/2 Tặng Bạn Trai Cảm Động Ngọt Ngào Lãng Mạn
  • Những Câu Stt Hay Về Tình Bạn Thân Ngắn
  • Top Những Câu Nói Hay Về Thời Gian Khiến Bạn Phải Giật Mình Suy Ngẫm
  • Danh Ngôn Tiếng Anh Về Sự Thành Công Và Thất Bại
  • Ca doa tục ngữ là một kho tàn vô cùng quý giá, là những kinh nghiệm ông bà ta đúc kết qua bao đời nay. Ca dạo tục ngữ thường được sử dụng nhiều trong lao động sản xuất và có một vai trò nhất định trong lao động sản xuất của con người. những hoạt động khắc họa nên cuộc sống lao động sản xuất con người như thể hiện thiên tai, bão lũ, đồng thời khơi dậy tinh thần đoàn kết, và bên cạnh đó ca dao tục ngữ còn góp phần tạo nên nhân cách con người.

    Cho đến nay, cuộc sống hiện đại nên những câu ca dao tục ngữ được cho là lỗi thời, lạc hậu. tuy nhiên, những câu ca dao tục ngữ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, giá trị tinh thần của nó đối với cuộc sống lao động sản xuất. để thể hiện giá trị của những câu ca dao tục ngữ trong cuộc sống, trong duy tâm chủ quan, chúng ta cùng đi tìm hiểu các câu ca dao tục ngữ về duy tâm chủ quan.

    Câu 1:

    • Tục ngữ về duy tâm chủ quan:
    • Ai là người sinh ra mặt đất?
    • Ai là người tạo ra bầu trời?
    • Bà Chày sinh ra trời đất
    • Ông Chày sinh ra bầu trời

    Đây là một câu tục ngữ nói về quan niệm duy vật mà ông bà ra đã thể hiện rõ điều ấy. quan niệm suy vật được thể hiện qua sự khắc họa nguồn gốc của trời đất, của muôn loài. Chính vì thế mag quan niệm của ông bà ta mang tính duy tâm chủ quan sâu sắc và mang yếu tố tâm linh thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa trời đất, con người.

    Câu 2:

      Mệnh do ngã lập, khúc do kỷ cầu.

    Những quan niệm về duy tâm chủ quan của con người xưa rất chất phát, bên cạnh những tính chất phát ấy thì những quan niệm ấy cũng mang tính thần thánh hóa trời. câu tục ngữ trên khẳng định việc làm chủ bản thân làm chủ vận mệnh của chính bản thân mình. Khẳng định rằng số mệnh của mình do mình tạo ra, hạnh phúc của mình o mình tự tìm đến.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về duy tâm chủ quan:

    • Người sang tại phận.
    • Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
    • Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
    • Nhập giang tuỳ khúc,
    • Một người làm nên cả họ được cậy,
    • Gần lửa rát mặt.
    • Ngắn tay với chẳng tới trời.
    • Xấu chữ nhưng lành nghĩa.
    • Nguồn đục, dòng cũng đục.
    • Nước chảy chỗ trũng.
    • Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.
    • Hậu sinh khả úy.
    • Tre già măng mọc.
    • Không thầy đố mày làm nên;
    • Dốt đến đâu học lâu cũng biết.
    • Thánh cũng có khi nhầm.
    • Học hay cày giỏi
    • Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
    • Muốn ăn cá cả, phải thả câu dài.
    • Tre già, măng mọc.
    • Rắn già rắn lột, người già, người tọt vô xăng.
    • Người là hoa của đất.
    • Năm ngón tay, có ngón ngắn, ngón dài.
    • Người mà vô lễ khác gì muông dê.
    • Tứ hải giai huynh đệ.
    • Quan nhất thời, dân vạn đại.

    Ca dao về duy tâm chủ quan:

    Câu 1:

    • Non cao ai đắp mà cao?
    • Sông kia ai bới, ai đào mà sâu?
    • Nước non là nước non trời
    • Ai ngăn được nước ai dời được sông?

    Con người chưa lý giải được nguồn gốc của con người, của vũ trụ, nhưng con người đã có quan niệm cho rằng sự tồn tại của vũ trụ là khách quan, không phải do thần linh tạo ra, cũng không do một yếu tố tâm linh tạo nên, những yếu tố đó được độc lập với ý thức của con người.

    Câu 3:

    • Thức đêm mới biết đêm dài
    • Lội sông mới biết sông nào cạn sâu.

    Câu tục ngữ nói lên ý thức tự làm chủ cuộc sống, tự làm chủ thời gian của bản thận mình. Câu tục ngữ còn khuyên con người sống phải bám sát thực tiễn, chuyện gì cũng phải xuất phát từ thực tế bản thân.

    Tổng hợp những câu ca dao về duy tâm chủ quan:

    Thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng.

    Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.

    Có cột có kèo mới có đòn tay.

      Người có lúc vinh lúc nhục,

    Nước có lúc đục lúc trong.

    Thân ai nấy lo, phận ai nấy giữ.

    Đèn nhà ai nấy rạng.

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    Như cây có cội như sông có nguồn.

    Kiến tha lâu đầy tổ;

    Có công mài sắt có ngày nên kim;

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.

    Con giun xéo lắm cũng oằn.

      Được người mua, thua người bán;

    Được lòng ta xót xa lòng người.

      Trách người một, trách ta mười,

    Bởi ta tệ trước nên người bạc sau.

      Anh tưởng giếng nước sâu,

    Anh nối sợi gầu dài,

    Ai ngờ giếng nước cạn,

    Anh tiếc hoài sợi dây.

      Học khôn học đến chết, học nết học đến già;

    Ông bảy mươi học ông bảy mốt.

      Non cao cũng có người trèo,

    Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi.

    Đã đẵn thì vác cả cành lẫn cây.

      Lên non mới biết non cao,

    Lội sống mới biết sông nào cạn sâu.

      Có thực mới vực được đạo;

    Có bột mới gột nên hồ.

      Trăm hay không bằng tay quen;

    Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    Không dưng ai dễ đem phần đến cho.

      Khi khó thì chẳng ai nhìn,

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

      Giàu nhân nghĩa hãy giữ cho giàu, khó tiền bạc chớ cho rằng khó;

    Hai chữ tài sắc thì để dưới đất, hai chữ than nghĩa thì cất lên tra.

    Trên đây là Ca dao, tục ngữ, câu nói về duy tâm chủ quan hay nhất, hi vọng bài viết đã đáp ứng được những kiến thức mà bạn cần. xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 16 Lời Chúc Giáng Sinh Noel Cho Bạn Bè Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Thường Ngày
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Khiến Bạn Vô Cùng Tâm Đắc
  • Những Câu Nói, Status Về Cuộc Sống Gia Đình Rất Hay
  • Tổng Hợp Câu Nói, Status Hay Về Tình Yêu Tuổi Học Trò
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Anh Em, Tình Cảm Anh Em Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em (Phần 5)
  • Tục Ngữ Vui Về An Toàn Giao Thông
  • Top 100 Khẩu Hiệu An Toàn Giao Thông Hay, Hài, Ý Nghĩa Nhất 2022
  • Những Bài Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về An Giang Hay Nhất
  • Về An Giang Ghé Thăm 7 Núi
  • Câu ca dao, tục ngữ nào hay về anh em?

    Những câu ca dao, tục ngữ hay về anh em, tình cảm anh em trong gia đình

    1.

    Anh em nào phải người xa

    Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân

    Yêu nhau như thể tay chân

    Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy​

    Bài ca dao là lời khuyên lời nhắn nhủ tới thế hệ chúng ta, đã là anh em một nhà, cùng do cha mẹ sinh ra chúng ta phải hòa thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng. Có như vậy chúng ta mới báo hiếu được cha mẹ, xã hội mới yên bình và phát triển được.

    2..

    Anh em bát máu sẻ đôi.​

    Câu này cho thấy tình anh em tình thân thiết trong cách ăn ở, nhẫn nhịn, nhường nhịn lẫn nhau

    3.

    Cắt day bầu dây bí, ai cắt dây chị dây em.​

    Câu này muốn nói tình chị em không ai nỡ cắt đứt, so sánh dây tình chị em với dây bầu dây bí làm tăng thêm hình ảnh đẹp về tình chị em.

    4.

    Chị ngã em nâng​

    Đây là một câu tục ngủ nói về tình cảm chị em với nhau, với hình ảnh đẹp đó con người đã trở nên găn bó gắn kết với nhau hơn. Là sự chia sẽ cùng nhau khi gặp bất cứ khó khăn hoạn nạn nào.

    5.

    Em thuận anh hoà là nhà có phúc.​

    Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta phải hòa thuận cùng với những người anh người em trong gia đình, chỉ cần anh em hòa thuận thì gia đình đó sẽ có phúc

    6.

    Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau.​

    Câu này ý muốn nói là dù cho có xảy ra việc gì đi nữa thì anh em trong nhà nên đóng cửa lại và giải thích giải quyết nhẹ nhàng cụ thể với nhau, đừng làm lớn chuyện sẽ ảnh hưởng đến hàng xóm và người khác chê cười

    7.

    Anh em cốt nhục đồng bào

    Kẻ sau người trước phải hào cho vui

    Lọ là ăn thịt ăn xôi

    Quý hồ ở nết tới lui bằng lòng.​

    Bài thơ này không nói về tình anh em ruột thịt, mà ý muốn nói đến tình anh em cùng một màu da, cùng sống chung một đất nước phải luôn đoàn kết và thương yêu nhau như anh em ruột

    8.

    Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần​

    Bài ca dao này là bài học về tình nghĩa anh em trong gia đình, thân thiết thuỷ chung. Tình cảm ấy phải được coi là máu thịt, có như vậy mới mong gìn giữ những đạo lý truyền thống của ông cha răn dạy chúng ta.

    9.

    Anh em như thể chân tay

    Cùng cha cùng mẹ hăng say việc nhà

    Hai câu ca dao này ý muốn nói anh em cần phải hòa thuận và phải biết yêu thương cha mẹ, phụ giúp cha mẹ làm công việc nhà

    10.

    Anh em thật thậm là hiền

    Chỉ một đồng tiền làm mất lòng nhau​

    Hai câu thơ đang phê phán những cặp anh em chỉ vì đồng tiền mà làm mất lòng nhau, qua đó khuyển nhủ chúng ta cần phải coi trọng tình anh em là trên hết.

    11.

    Anh em bốn bể là nhà

    Người dưng khác họ vẫn là anh em​

    Hai câu ca dao đang nói đến tình ae, tình đồng bào với tình thần đoàn kết của dân tộc ta.

    12.

    Anh em chín họ mười đời

    Hai đằng cùng có, chẳng rời nhau ra​

    Câu ca dao với cụm từ “chẳng rời xa nhau”, ý muốn nói ta hãy luôn coi trọng tình ae, tình cảm máu mủ ruột thịt , luôn đoàn kết và gắn bó với nhau

    13.

    Anh em trai ở với nhau mãn đại

    Chị em gái ở với nhau một thời

    Dù ai nói ngược nói xuôi

    Ta đây vẫn giữ đạo trời khăng khăng​

    Cũng giống hết với câu ca dao trên, thì bài thơ này cũng có ý nghĩa tình anh chị em trong nhà luôn đoàn kết và không rời xa nhau.

    14.

    Ai về đợi với em cùng

    Thân em nay bắc mai đông một mình

    Chi bằng ruộng tốt rừng xanh

    Vui cha, vui mẹ, vui anh em nhà!​

    Bài thơ chứa đựng tình ae thiêng liêng cao cả, ae hòa thuận thì cha mẹ sẽ vui lòng, mà gia đình cũng đầm ấm, đầy tiếng cười và sự yêu thương

    15.

    Anh em bất nghĩa chi khèo (khoèo)

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    Câu thơ này ý muốn châm biếm những tình anh em hay cãi cọ qua lại, không nhường nhịn lẫn nhau mà ai cũng để cái tôi của mình lên

    16.

    Anh em chồng vợ sum vầy

    Vui này đã bỏ những ngày chia ly​

    Ý muốn ám chỉ tình anh em khi mỗi người đã có vợ hoặc chồng, gia đình riêng thì lại quên mất tình nghĩa ae khi xưa, 2 câu thơ này nhằm mục đích phê phán

    17.

    Có tình thì đãi người dưng

    Anh em bất nghĩa thì đừng anh em.​

    Câu ca dao này đề cao tình nghĩa giữa con người, thậm chí là những người xa lạ với nhau, phê phán những con người sống không có tình nghĩa.

    18.

    Bà con xa không bằng láng giềng gần​

    Câu tục ngữ muốn nói về tình anh em hàng xóm láng giềng, tối lửa tắt đèn có nhau. Dù là ae ruột nhưng ở xa cũng không thể giúp đỡ được như những người hàng xóm gần nhà.

    19.

    Anh em trên kính dưới nhường

    Là nhà có phúc mọi đường yên vui.​

    Ý nghĩa của câu này là anh em trong nhà mà yêu thương nhường nhịn lẫn nhau thì trong nhà sẽ luôn yên vui và êm ấm.

    20.

    Anh em ăn ở thuận hoà

    Chớ điều chếch lệch người ta chê cười.​

    Anh em là máu mủ, là ruột thịt, là bạn bè, là những người cùng ta vượt qua tuổi thơ, tuổi trẻ và những năm tháng khó khăn trong cuộc đời. Dù bạn có muốn phủ nhận đến thế nào đi chăng nưa thì tình anh em vẫn mãi trường tồn mà không điều gì có thể chia cắt được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Thầy Cô Giáo Ý Nghĩa Nhất Chia Sẻ Nhiều Trên Zalo, Fb • Adayne.vn
  • Danh Sách Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Ngày 20/11 Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Tiếng Anh.
  • 110 Tục Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng Nhất
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • 1. Dĩ thực vi tiên Ngày xưa, có người đã nhận thấy cái tánh cách tối quan trọng của miếng ăn trong đời sống con người nên đã chủ trương “Dĩ thực vi tiên”. Phải ăn đã, rồi muốn gì hãy hay. Văn nghệ, triết lý, tôn giáo, v.v… đều phải đứng sau cái ăn. Chẳng thế mà có người nhất định đòi hỏi ngay sự thỏa mãn cái bao tử trước khi bắt tay vào một việc đã cả gan hô hào: “Có thực mới vực được đạo”. Câu triết lý vị nhân sinh trên kéo người về thực tại, đặt trước những vấn đề cần phải giải quyết hàng ngày. Dù cho kẻ sĩ đã khuyên “Thực bất cầu bão”, nghĩa là ăn chẳng cần no, nhưng trước sự dày vò mãnh liệt của cái nhu cầu số một thì con người đạo lý cũng không thể làm gì khác hơn như thầy đồ sau đây :

    Cái cười vừa trào lộng, vừa thiết thực trên đã hé cho ta thấy được một phần cái nhân sinh quan của người bình dân. Tuy nhiên, ăn thì cũng có năm bảy đường ăn. Và nghệ thuật ăn cũng đòi hỏi lắm công phu. Ăn phải thế nào? Trong một xã hội xô bồ, giữa những ý nghĩ phiền toái về nhân sinh thì miếng ăn phải được đánh giá thế nào cho hợp lý? Ta hãy thử tìm hiểu quan niệm về miếng ăn trên lãnh vực ca dao, tục ngữ.

    2. Miếng ăn mang tính dân tộc

    Mỗi lần nghĩ đến một địa phương nói hẹp hay một dân tộc nói rộng ra là người ta nghĩ ngay đến những món ăn của địa phương hay của dân tộc ấy. Ai lại không hay nhắc nhở đến món gỏi cá sống của người Nhật, món ca-ry cay của người Ấn, món mỳ sợi của người Ý, các thứ phô-mách của người Pháp và các món mắm đặc biệt của người Việt Nam. Trong ca dao, tục ngữ, ta thấy nhiều địa danh được nhắc nhở đến bên cạnh tên những món ăn được nêu ra. Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hạp với khẩu vị người từng vùng, người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở :

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương. Nếu có lìa làng xa xứ, thì lòng người dân cũng ngập ngừng, xót xa : Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt : Còn những người sành ăn thì bao giờ cũng thích :

    Nhất béo, nhì bùi là cá rô câu. Trăm đám cưới chẳng bằng hàm dưới con cá trê. Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Chắc hẳn, những món ăn đặc biệt nấu với những bộ phận của mỗi thứ cá trên đã làm khoái khẩu thực khách. Lẽ dĩ nhiên, thực khách cũng khó mà quên địa phương đã cung cấp “đồ nhắm” ấy cho mình. Rồi khách du rời miền Bắc, vào đến xứ Trung thì làm sao quên được :

    Cái chất giải khát ủ bằng dâu rừng chua chua, ngọt ngọt của miền này đã hơn một lần đắm say lòng người trai: Rượu ở đây thật đã lấn át cả ảnh hưởng của tình ái, đã làm khách rượu quên hẳn hình ảnh yểu điệu của người thục nữ. Vô tới Huế, đất Đế đô, ta thưởng thức :

    Tất cả các món ăn trên đã làm cho khách khó quên được hình ảnh duyên dáng của các tỉnh đã vượt qua. Nhưng kìa, những tỉnh bên kia đèo Hải Vân như ân cần mời mọc khách. Dù lòng khách đã bâng khuâng khi trèo núi vượt đèo, nhưng cùng khuây khỏa phần nào nếu được nếm các món ăn xứ Quảng :

    Ở đây, trên eo đất hẹp lách mình giữa dãy Hoành Sơn cao ngất và biển cả mênh mông, người dân cần thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa hai miền sơn cước và đồng bằng hơn đâu hết để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Tình đoàn kết cần thiết cho sự sống còn của người miền Trung được biểu hiện trong câu ca dao :

    Đất hẹp người đông, nếu bành trướng ra phía Đông thì gặp trở ngại của biển cả, nên đành quay lên rừng vỡ đất, làm quen với vùng sơn cước : Măng giang nấu cá ngạch nguồn Đến đây nên phải bán buồn mua vui.

    Thật ra, món ăn của núi rừng có làm khuây được nỗi sầu muộn không? Coi chừng đấy, người ta không phải chỉ dùng những nét quyến rũ của một nhan sắc để nhen một

    mối tình, mà còn dùng hương vị của một món ăn mộc mạc để cám dỗ người trai xa xứ : Hay là : Vào đến Quảng Ngãi, ta thưởng thức : Đến Quy Nhơn, ta nếm được hương vị đậm đà của món bánh ít lá gai : Vào tới Khánh Hòa, ta được dịp thưởng thức các món sơn hào hải vị :

    Lòng khách cảm thấy thoải mái, thơ thới khi đặt chân đến miền Nam phì nhiêu, dân cư yên vui và ai lại không biết tiếng:

    Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.

    Ngoài ra, đất ở đây thì rộng, dân thì thưa thớt, cái xứ ruộng cò bay thẳng cánh, có tiếng là nơi hưởng được đời sống tương đối sung túc vì thực phẩm dồi dào :

    Ở các đảo ven bờ biển trong vịnh Thái Lan có những khu rừng sác trù mật mà các loại chim biển thường về trú ngụ, làm tổ : Mỗi miền lại sản xuất một món ăn mang hương vị đặc biệt :

    Cá, tôm, cua, còng dồi dào đã nuôi sống người dân, nhưng vật thực cần phải thêm các loại rau cải để các món ăn đưỡc cải thiện cho thích với khẩu vị : Cho đến gia vị thêm thắt vào nồi canh cá để cho món ăn đậm đà, quyến rũ hơn cũng được ca tụng : Miền Nam cũng có nhiều món ăn đặc biệt như món hầm gà sau đây : Và các tay rượu thì không thích gì bằng:

    Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh.

    ♦♦♦

    1. Tập quán, lễ nghi qua mỗi món ăn

    Các món ăn được nhắc nhở đến như thế vì đã liên hệ đến tính chất của mỗi địa phương. Cho nên, trong lễ nghi cưới xin, miếng ăn biến thành lễ vật, thay đổi tùy theo từng vùng. Sau mối tình khắn khít thì người con trai phải nhờ đến lễ nghi để hợp thức hóa cuộc sống chung tương lai.

    Hay là lễ vật đơn sơ:

    Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng

    Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong.

    Hay là : Cũng có vùng lấy sản phẩm địa phương làm lễ vật : Cũng đôi khi cuộc tình duyên ép uổng đã làm khổ sở người con gái phải ngậm ngùi phục tùng lễ giáo, vâng lời tuyệt đối người trên, cha mẹ “đặt đâu thì ngồi đó”. Cái tập quán “ép uổng duyên con” ấy thường đi theo với sự ham muốn “môn đăng hộ đối”, sự tham lam lễ vật quá ư linh đình của nhà trai :

    Mẹ tôi tham thúng xôi rền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ rằng: “Đừng!”

    Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ kẻ thấp người cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

    Lời than thân trách phận của người đàn bà bị ép duyên với người chồng không cân xứng nghe thật xót xa, não nùng. Và đây, cũng ở trong vòng tập quán, khi nghe tiếng cu kêu báo hiệu mùa hoa nở đến, ta lại liên tưởng đến Tết, đến những ngày đầu xuân rảnh rang đầy những bữa ăn ngon, bao giờ cũng có nồi chè dân tộc : Cu kêu ba tiếng, cu kêu

    Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

    Hồi trước, ở nhà quê, lúc chế độ xôi thịt còn đang thịnh hành thì được làng chia cho một phần thịt thật là cả một vinh dự : “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

    Bồng em đi dạo vườn cà

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua…

    Có phải hình ảnh nhàn hạ ở đồng quê yên vui đã giữ chặt con người với nơi chôn nhau cắt rốn :

    ♦♦♦

    PHẦN 03: MIẾNG ĂN THỂ HIỆN TÌNH CẢM CON NGƯỜI

    Thu hẹp lại trong phạm vi cá nhân, mỗi món ăn tiêu biểu cho sở thích của con người thì thế nào cũng tố giác được tình cảm, tánh tình của người ấy. Ta thử tìm hiểu tình cảm con người phát lộ trong miếng ăn như thế nào.

    1. Lòng hiếu thảo

    Đầu tiên, ta đề cập đến lòng hiếu thảo. Người con phải tận tâm săn sóc cha mẹ già, cố gắng tìm món ngon vật lạ để dâng cho song thân :

    Hay là : Dù cho bà mẹ có nghiêm khắc đến đâu, phận con cũng phải cố phụng dưỡng cho chu đáo : Hay là : Gặp những năm đói kém thì lòng hiếu thảo càng được tỏ rõ. Người con chịu sống kham khổ, ăn quơ quào để đánh lừa cái đói, miễn là mẹ già được no ấm :

    2. Tình yêu trai gái

    Giữa trai và gái, món ăn là một mối dây nối kết. Để thể hiện một mối tình chớm nở, để nói lên được niềm nhớ nhung người yêu, không gì bằng câu ca dao sau đây :

    Tình ái như một vị hương ngào ngạt làm đắm say lòng người, kẻ được yêu cảm thấy ngây ngất như được thưởng thức món ăn ngon vật lạ :

    Lòng nhớ thương của người con trai được thể hiện trong câu : Ví von như thế thật là vừa thực tế và cũng vừa ngộ nghĩnh… Tuy nhiên, người con gái dùng hình ảnh cụ thể qua những lời thâm thúy và thanh nhã để nói lên được một cách kín đáo lòng trong trắng của mình : Hay là : Hay là :

    3. Tình vợ chồng

    Khi trai gái đã thành gia thất thì mối tình kia lắng xuống đậm đà hơn để đương đầu với bao thử thách đắng cay :

    Vì đã lấy nhau vì tình thì đâu có ngại cảnh sống nghèo khó, đâu có sờn lòng trước gian khổ : Lên non thiếp cũng lên theo Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.

    Yêu thương như thế thật là gắn bó keo sơn, thật là một bài học thiết thực cảnh tỉnh những người hèn hạ đã từng “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Và đây là một hình ảnh ấm cúng, cảnh vợ chồng hòa thuận, tâm đầu ý hợp trong bữa ăn đạm bạc : Tình thương chồng được phát lộ trong cách thức săn sóc chồng từng bữa ăn, lúc bình thường cũng như khi đau yếu : Hay là :

    Tuy nhiên, đôi khi gặp cảnh tình lạt, nghĩa phai, người vợ hiền đau khổ và thở than :

    4. Tình bác ái trong miếng ăn

    Khi quyền lợt cá nhân đã được thỏa đáng, khi bản thân đã ấm no thì thói thường con người hay nghĩ đến những người bất hạnh khác, những người sống đời đói rét, đương đau khổ hay đương kéo dài đời sống cô đơn :

    Tình bác ái được nêu rõ với một lập luận vừa cụ thể, vừa hợp lý. Hình ảnh người giàu thóc đối xứng với kẻ chạy ăn hằng bữa, hình ảnh đầm ấm của đời sống lứa đôi làm nổi bật cảnh lạnh lùng của kẻ cô đơn. Nhưng tình thương người không phải chỉ nằm trong vòng lý thuyết, nghĩa là chỉ là tình thương hại suông thôi. Lòng nhân từ phải cần được thi hành đúng đắn, nghĩa là phải thiết thực cứu giúp người, trong lúc người còn đương hoạn nạn, đau khổ :

    Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

    Tương trợ như vậy mới tránh được tình cảm thiên vị, khỏi phải mang tiếng là vì quyền lợi cá nhân hay vì hiếu danh, hiếu thắng

    ♦♦♦

    PHẦN 04: MIẾNG ĂN HAY LÀ TRIẾT LÝ CỦA CUỘC ĐỜI

    1. Thói đời qua miếng ăn

    Có người quần quật suốt ngày cũng vì miếng ăn. Có người ty tiện, bán cả danh cả tiếng, cầu cạnh cho được bả vinh hoa, mồi phú quý. Hạng người này có biết đâu “Miếng thịt là miếng nhục”. Suốt đời chạy theo miếng ăn, sống chết vì miếng ăn, coi miếng ăn là tuyệt đích:

    Trái lại cũng có người trước danh lợi vẫn giữ được nếp sống trắng trong. Họ quan niệm đời một cách khác, vì họ cho đời lẫn lộn đắng cay, ngọt bùi. Sở dĩ người ta giành giật, xâu xé nhau vì đời là trường tranh đấu : Trong thiên hạ, nhiều người tranh nhau từng miếng ăn, nói xấu, hãm hại nhau, tìm cách dìm người khác xuống : Hơn nữa, ngoài chợ đời thì thiếu chi người gian trá, bịp đời, sống trên lưng người, thuộc vào phường “treo đầu dê, bán thịt chó”. Họ còn lắm mồm lắm miệng, nói ngược nói xuôi, chê khen vô lối : Tuy nhiên, có khi tranh giành nhau đến trầy vi tróc vảy mà chung quy vẫn hoài công, vì kết quả thu được chẳng là bao : Thật là một chuỗi cười trào lộng pha vị chua chát, như chửi vào mặt bọn buôn danh bán tiếng, suốt đời chạy theo cái bóng hư danh? Ý tưởng này nhắc ta nhớ đến quan niệm về cuộc đời của nhà thơ Lý Bạch cho rằng, đời chỉ là một giấc mộng lớn, cần gì phải lao đao, lận đận (Xử thế nhược đại mông/ Hồ vi lao kỳ sinh?). Câu ca dao sau đây cũng giúp ta suy nghĩ nhiều về thái độ giả dối của những người chỉ tha thiết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình thôi : Cuối cùng, qua miếng ăn, ta thấy ca dao tục ngữ cũng bày ra hạng người vong bổn, chỉ biết mới chuộng cũ vong, chẳng khác chi :

    Ăn cháo đá bát. 2. Thái độ đối phó

    Cuộc đời quả thật phiền toái và đắng cay. Cho nên, dựa trên kinh nghiệm, chúng ta phải có thái độ đối phó như thế nào, phải khôn ngoan xử thế làm sao cho hợp lý. Ca dao tục ngữ dạy ta sống là phải đấu tranh, phải chịu đựng gian khổ mới có thể mưu sinh dễ dàng.

    Muốn ăn phải lăn vào bếp.

    Làm sao mà ăn không, ở vì được trong khi mọi người đếu lấy “bát mồ hôi đổi bát cơm”? Thành thử, khi ra đời, phải tập luyện cho cơ thể quen thuộc với nắng mưa, chịu đựng gian khổ : Nếu có gặp được cảnh sống thư thả, sung túc thì phải nghĩ đến những lúc thiếu thốn và một ngày mai có thể bị sa cơ thất thế : Thái độ có hậu, chung thủy như trên rất hợp với tinh thần nhân nghĩa của người Á Đông. Còn muốn đảm bảo thành công ở đời thì ta phải khôn ngoan xử sự, có óc thiết thực, không bao giờ chuộng những cái gì hão huyền : Cái lối sống thiết thực ấy phải là lối sống có điều độ, hợp với lẽ phải : Tuy rằng phải tùy cơ ứng biến, phải “Ăn theo thuở, ở theo thì”, nhưng con người trung nghĩa thì bao giờ cũng phải chuộng sự thật, tránh thái độ gian tham, giả dối :

    Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối.

    Những câu phương ngôn trên diễn tả những món ăn, vật uống đã là những lý luận mẫu mực, xác đáng dạy ta phép xử thế thực tiễn.

    3. Bổn phận trong miếng ăn

    Tuy là phải “vắt đầu cá, vá đầu tôm”, một nắng hai sương để chạy từng bữa ăn, nhưng con người còn có cái gì quý hóa, thiêng liêng hơn, đó là bổn phận :

    Người con trai ra đi, vẫy vùng bốn phương cho phỉ chí nam nhi, cũng yên tâm vì có được người vợ hiền ở nhà chăm sóc gia thất, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con thơ. Món ăn thanh đạm muối dưa nói lên được cái tình nghĩa sắt son của người đàn bà. Hơn nữa, người con gái còn mang nặng bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ, kính nhường anh em, giữ hòa khí trong gia đình :

    Nhà em có vại cà đồng

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương

    Dẫu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em

    Một nhà vui vẻ êm đềm

    Đói no trong cảnh không thèm lụy ai.

    Đối với người thân ta phải có bổn phận đã đành rồi, còn đối với vô số người vô danh trong xã hội đã góp phần vào đời sống công cộng, thì hết lòng tri ân :

    Thái độ biết ơn trên cũng là thái độ cố hữu của người Việt, là bổn phận của người dân được hưởng thụ, vẫn ghi nhớ công đức đối với các bậc tiền bối đã khai sáng đất nước.

    4. Khí tiết của miếng ăn

    Như vậy, con người lấy nhân nghĩa mà xử sự ở đời, sống phải có trước có sau mặc dầu gặp cảnh nghèo khó, gian khổ phải luôn luôn thủy chung như nhất :

    Cao hơn nữa, cái khí tiết trung nghĩa được phát lộ trong mấy câu ca dao thời thế sau đây. Trước cám dỗ vật chất, trước những miếng ăn thịnh soạn của tân trào mang lại, con người trung nghĩa quyết cam phận thanh bần :

    Văn minh gặp buổi Lang Sa

    Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều

    Khuyên ai giữ chí về sau

    Đừng còn tập tễnh Tây, Tàu mà no

    Thà rằng chịu đói no rau cháo

    Lấy chồng nghèo giã gạo nấu cơm

    Chẳng hơn thịt cá đầy mâm

    Mà đem thân thế ra thân thế này…

    Những người tiết nghĩa như vậy bao giờ cũng chọn cái gì trong trắng, cao quý và ghét đời ô trọc gian tham :

    Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm

    Ngọt như cam sành héo cuống anh chê.

    Ai lại không thích ăn sung mặc sướng, sống đời vương giả, đầy đủ và tiện nghi? Tuy nhiên, nếu sống được như vậy mà phải nô lệ tân trào thì trở về với đời sống đạm bạc còn hơn : Cũng như người con gái, chống lại chế độ đa thê, thà chịu cảnh nghèo nàn chứ nhất định không chịu lấy chồng chung :

    ♦♦♦

    Để kết luận, ta thấy miếng ăn diễn tả trong câu ca dao tục ngữ thật là quan trọng, có thể chế ngự được tình cảm và lý trí, chi phối cả đời sống con người, có thể hạ phẩm giá con người cũng như gây xô xát ngoài xã hội. Tuy nhiên, miếng ăn không có giá trị tuyệt đối, chưa phải là cứu cánh cao quý nhất của con người, vì ở đời còn có điều nhân nghĩa, còn có niềm thủy chung là giá trị tinh thần cố hữa quý hóa của người dân Việt : Con người phải có hậu, không bắt chước những kẻ “có mới thì nới cũ”, biết trọng nghĩa khinh tài và nhất định không bao giờ :

    Xưa nay ăn đâu ở đâu Bây giờ có bí, chê bầu rằng hôi.

    Lưu Văn – Tạp chí Tiến thủ Ảnh: TL-KV sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Kiến Thức Hay Và Bổ Ích Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Rượu Bia
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100