Top 15 # Ca Dao Tục Ngữ Về Người Mẹ / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Boxxyno.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ / 2023

Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Công cha nghĩa mẹ cao vời, Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta. Nên người con phải xót xa, Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao. Đội ơn chín chữ cù lao, Sanh thành kể mấy non cao cho vừa

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới chân tu

Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ. Nuôi con khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ song thân

Mẹ già ở tấm lều tranh, Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Đêm khuya trăng rụng xuống cầu, Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau

Biển Đông còn lúc đầy vơi, Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá, Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua. Đi về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

Muốn cho gần mẹ gần cha, Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

Ai về tôi gởi buồng cau, Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy. Ai về tôi gởi đôi giày, Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi

Ơn hoài thai, to như bể! Công dưỡng dục, lớn tựa sông! Em nguyện ở vậy không chồng, Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con

Chim đa đa đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Bát cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?

Nếu mình hiếu với mẹ cha, Chắc con cũng hiếu với ta khác gì? Nếu mình ăn ở vô nghì, Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận, Ngỗ nghịch nào con có khác chi! Xem thử trước thềm mưa xối nước, Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì

Ở đời ai cũng có lần, Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành. Người xưa khó nhọc nuôi mình, Khác gì mình đã hết tình nuôi con

Mẹ dạy thì con khéo, Bố dạy thì con khôn

Mồ côi cha, ăn cơm với cá Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

Ai rằng công mẹ như non, Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn

Lòng mẹ như bát nước đầy, Mai này khôn lớn, ơn này tính sao

Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm bú mớm biết bao thân tình

Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi

Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

Mẹ ngoảnh đi, con dại, Mẹ ngoảnh lại, con khôn

Mẹ giàu con có, mẹ khó con không

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một, như đường mía lau

Bồng cho con bú một hồi, Mẹ đã hết sữa, con vòi con la

Nuôi con buôn tảo bán tần, Chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, Con đau là mẹ đứng ngồi không yên. Trọn đời vất vả triền miên, Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con

Thêm một người quả đất chật thêm, Thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt

Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ, Tình Mẹ Con / 2023

Những câu ca dao tục ngữ hay nhất về mẹ: Lên non mới biết non cao, Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

Ca dao tục ngữ về mẹ, tình mẹ con

Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Công cha nghĩa mẹ cao vời, Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta. Nên người con phải xót xa, Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao. Đội ơn chín chữ cù lao, Sanh thành kể mấy non cao cho vừa

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới chân tu

Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ. Nuôi con khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ song thân

Mẹ già ở tấm lều tranh, Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Đêm khuya trăng rụng xuống cầu, Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau

Biển Đông còn lúc đầy vơi, Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng

Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá, Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua. Đi về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha

Muốn cho gần mẹ gần cha, Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền

Ai về tôi gởi buồng cau, Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy. Ai về tôi gởi đôi giày, Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi

Ơn hoài thai, to như bể! Công dưỡng dục, lớn tựa sông! Em nguyện ở vậy không chồng, Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con Chim đa đa đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, để lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Bát cơm đôi đũa, chén trà ai dâng?

Nếu mình hiếu với mẹ cha, Chắc con cũng hiếu với ta khác gì? Nếu mình ăn ở vô nghì, Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?

Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận, Ngỗ nghịch nào con có khác chi! Xem thử trước thềm mưa xối nước, Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì

Ở đời ai cũng có lần, Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành. Người xưa khó nhọc nuôi mình, Khác gì mình đã hết tình nuôi con

Mẹ dạy thì con khéo, Bố dạy thì con khôn

Mồ côi cha, ăn cơm với cá Mồ côi mẹ lót lá mà nằm

Ai rằng công mẹ như non, Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn

Lòng mẹ như bát nước đầy, Mai này khôn lớn, ơn này tính sao

Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm bú mớm biết bao thân tình

Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi

Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn. Mẹ ngoảnh đi, con dại, Mẹ ngoảnh lại, con khôn

Mẹ giàu con có, mẹ khó con không

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp một, như đường mía lau

Bồng cho con bú một hồi, Mẹ đã hết sữa, con vòi con la

Nuôi con buôn tảo bán tần, Chỉ mong con lớn nên thân với đời. Những khi trái nắng trở trời, Con đau là mẹ đứng ngồi không yên. Trọn đời vất vả triền miên, Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con

Thêm một người quả đất chật thêm, Thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt

Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Người Khác / 2023

Ca dao tục ngữ về tôn trọng người khác.

Ca dao tục ngữ Việt Nam

Việt Nam ta là đất nước giàu truyền thống và văn hóa lâu đời. Từ ngàn xưa thì ông cha ta đã đúc kết ra biết bao nhiêu kinh ngiệm quý báu và để lại cho con cháu đời sau.học hỏi noi theo. Ngoài ra thì các bậc tiền bối khi xưa đã để lại rất nhiều ca dao và tục ngữ hay để nhắc nhở con cháu. Xoay quanh bài viết này vforum sẽ đề cập đến những câu ca dao và tục ngữ tôn trong người khác. Sau đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

Những câu ca dao tục ngữ tôn trọng người khác

Tục ngữ:

1.

Ý muốn nói chúng ta phải kính trọng người lớn tuổi.

2.

Phải biết tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi và nhường nhịn đối với người nhỏ tuổi.

3.

Trọng thầy mới được làm thầy

Muốn nhắc nhở chúng ta muốn sau này làm thầy cô giáo thì trước tiên phải tôn trọng thầy cô.

4.

Tôn trọng những người đã dạy dỗ mình (thầy, cô giáo)

5.

Không thầy đố mày làm nên

Muốn nhắc nhở chúng ta phải tôn trọng những người đã có công dưỡng dục dạy dỗ, nếu không có thầy cô dạy dỗ thì chắc rằng bạn sẽ không làm được gì

6.

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

Dù dạy có nhiều hay ít vẫn là thầy chúng ta, cho nên phải luôn luôn tôn trọng thầy cô giáo.

7.

Tức là tôn trọng những người có nghĩa, người có tài mà không có nghĩa cũng vô dụng. Sống tình nghĩa là mục tiêu đặt ra đầu tiên.

8.

Khi đến nhà ai đó thì phải tôn trọng những gì mà nhà người đó thực hiện.

9.

Tiếng chào, cao hơn mâm cỗ.

Khi gặp ai đó phải chào hỏi, để thể hiện sự tôn trọng người khác.

10.

Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.

Ý muốn nói yêu quý trẻ con thì sau này chắc chắn nó sẽ đến tiếp

Ca dao 1.

Nói lời, thì giữ lấy lời Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Ở đây muốn nói, khi đã hứa với ai một điều gì đó thì bắt buộc phải thực hiện nhằm mục đích tôn trọng người khác.

2.

Kim vàng, ai nỡ uốn câu Người không ai nỡ nói nhau nặng lời

Tức nên tôn trọng lẫn nhau, không nên nói những lời lẽ không hay dành cho nhau.

3.

Nói chin thì nên làm mười Nói mười làm chin, kẻ cười người chê

Tức là đã nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, nói mà không làm tức là bạn không giữ lời hứa và không tôn trọng người khác.

4.

Biết thì thưa thốt, Không biết, dựa cột mà nghe.

Nếu không biết thì thôi đừng nói, đừng có kiểu khi người ta đang nói mà tỏ ra nguy hiểm nhảy vào mồm người khác.

5.

Ai ơi chớ vội cười nhau Cười người hôm trước hôm sau người cười

1 nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ, cười không đúng chỗ lấy rỗ hứng răng. Tức là đừng vội cười người ta sau này bạn cũng sẽ gặp quả báo sau đó người ta cười lại bạn. Vì vậy nên tôn trọng người khác.

6.

Tự trọng người lại trọng thân Khinh đi khinh lại, như lần trôn quang

Muốn được người khác tôn trọng thì bạn phải tôn trọng người khác trước.

Trên đây là bài viết về những câuca dao tục ngữ về tôn trong những khác, mong rằng sẽ giúp cho độc giả của vforum có thêm nhiều kiến thức về những ca dao tục ngữ hay của Việt Nam ta.

Chúc các bạn luôn vui vẻ và thành công trong cuộc sống ! Xem thêm:Top những status, caption thả thính hay nhất trên facebook

Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy) / 2023

Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

– Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

– Sểnh nhà ra thất nghiệp

Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

– Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

– Khỏe một mình làm không được

Khôn một mình làm không xong

Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

Không nặng tiếng trái lời

Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

– Anh em như thể chân tay

Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

– Khôn ngoan đá đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

– Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

– Không ai gặp xấu cả năm

– Người ta có gặp vận rủi

Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

– Đất có thổ công, sông có hà bá

Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

Cũng như người Kinh quan niệm :

Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

– Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

Làm ác thể nào cũng gặp ác

Người không đáp thì ma cũng đáp

Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

– Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

– Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

Người Kinh cũng có những câu tương tự:

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

– Mật ngọt thì ruồi chết tươi

Những nơi cay đắng là nơi thật thà

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

– Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

– Trứng rồng lại nở ra rồng

Liu điu lại nở ra dòng liu điu

– Giỏ nhà ai quai nhà nấy

Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

– Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

(“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

– Lúc khó thì chẳng ai nhìn

Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

– Bần cư thành thị vô nhân vấn

Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

(nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

– Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

– Người già hãy bảo con cháu

Để quá thì chúng lớn khó bảo

Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

– Dạy con từ thưở còn thơ

Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

– Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

– Đi cho biết đó biết đây

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

– Cây nhọn không bằng sắt cùn

Trẻ hiểu biết không bằng già quên

Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

– Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

2. Những chuẩn mực đạo đức

Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

– Đừng chây lười ngại việc

Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

Bởi vì có lao động mới có cái ăn

– Muốn để bụng đói hãy nằm im

Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

– Lười biếng bụng trống rỗng

– Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

Trong đó có ít người số may mà được

Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

– Nhẫn được thành người khôn

Chăm được thành người tài

Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

Không dưng ai dễ mang phần đến cho

– Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

– Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

– Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

Còn người Kinh dặn dò con cháu:

– Của làm ra là của trong nhà

Của ông bà là của ngoài sân

Của phù vân có chân nó chạy

Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

– Gom của phòng mùa thiếu

– Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

– Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

– Đừng trộm hái rau quả của vườn người

Cũng như tục ngữ của người Kinh:

Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ ”

3. Về kinh nghiệm sản xuất

Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

– Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

– Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

Tài liệu tham khảo

1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.