Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Và Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • ‘một Lần Bất Tín, Vạn Lần Bất Tin’
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Thầy Cô Giáo
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Gia đình là gì? Tại sao xuất hiện ca dao tục ngữ về gia đình và xã hội

    Gia đình là một cộng đồng nhỏ gồm tập hợp những người có chung huyết thống (hoặc có thể không); ràng buộc và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ mật thiết về mặc tình cảm, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng mỗi con người; có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Gia đình đã xuất hiện và trải qua một quá trình phát triển, hoàn thiện lâu dài; có tác động mạnh mẽ đến các chuẩn mực đạo đức, văn hóa, đời sống, xã hội.

    Trong một gia đình có nhiều mối quan hệ xoay quanh và kết nối với nhau thành thể thống nhất. Đó là những người yêu thương nhau một cách trọn vẹn nhất; không vụ lợi, không toan tính hay hơn thua; ở đó chỉ có tình cảm chân thành, sẻ chia và hy sinh cho nhau.

    Và để có một gia đình hạnh phúc mỗi thành viên phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng nhau nuôi dưỡng và xây dựng các mối quan hệ thật bền chặt.

    Ca dao, tục ngữ về gia đình và xã hội hay, ý nghĩa

    Chính vì gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp; cần được ca ngợi giữ gìn và nuôi dưỡng nó mỗi ngày. Vậy nên từ xưa ông bà ta đã truyền tai nhau những câu ca dao tục ngữ về gia đình để nhắc nhở, dạy bảo con cháu phải biết quý trọng, yêu thương, đùm bọc, sống chan hòa với nhau.

    Tục ngữ về gia đình

    1. Con có cha như nhà có nóc.
    2. Con dại cái mang.
    3. Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
    4. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.
    5. Mẹ dạy thì con khéo, cha dạy thì con khôn.
    6. Cha mẹ sinh con trời sinh tính.
    7. Ba tháng con sẩy, bảy tháng con sa.
    8. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.
    9. Chị ngã em nâng.
    10. Máu chảy, ruột mềm.
    11. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
    12. Anh em như chông như mác.
    13. Anh em hạt máu sẻ đôi.
    14. Anh ngủ em thức, em chực anh nằm.
    15. Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau.
    16. Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.
    17. Anh em chém nhau đằng dọng, ai chém đằng lưỡi.
    18. Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
    19. Anh em thuận hòa là nhà có phúc.

    Ca dao về gia đình

    1. Đố ai đếm được lá rừng,Đố ai đếm được mấy tầng trời cao.Đố ai đếm được vì sao,

      Đố ai đếm được công lao mẹ già.

    2. Đi đâu mà bỏ mẹ già,Gối nghiêng ai sửa,

      Chén trà ai dâng?

    Tục ngữ về xã hội

    1. Đã nghèo còn mắc cái eo.
    2. Sa cơ lỡ vận.
    3. Ăn thì hơn, hờn thì thiệt.
    4. Ăn tấm trả giặt.
    5. Cao cờ không bằng cao cổ.
    6. Khôn nhà dại chợ.
    7. Mạt cưa mướp đắng.
    8. Có tiền mua tiên cũng được.
    9. Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
    10. Trời sinh voi sinh cỏ.
    11. Ăn cơm với bò thì lo ngay ngáy, ăn cơm với cáy thì ngáy o o.
    12. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    13. Phép vua thua lệ làng.
    14. Đất có lề, quê có thói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Việt Nam Về Tình Cảm Gia Đình
  • 90+ Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Gia Đình Giúp Bạn Nhận Ra Giá Trị Tình Thân, Ruột Rà
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay ❤️ Thành Ngữ Gia Đình
  • Tổng Hợp 100 Câu Tục Ngữ Tiếng Anh Hay Nhất
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Yên Bái
  • Yên Bái: Những Tên Gọi Gợi Về Lịch Sử Và Thức Dậy Tiềm Năng
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Dân Ca Hay Và Sâu Sắc Về Tình Nghĩa Vợ Chồng
  • Một Số Câu Thành Ngữ
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Ca dao tục ngữ là những câu nói, câu hát có sử dụng cách diễn đạt ngắn gọn, cô đúc nhât để thể hiện những hiện tượng của xã hội, con người, hiện tượng trong cuộc sống. bên cạnh đó các câu ca dao tục ngữ có một cách cấu diễn đạt kiểu đối xứng, nhân quả để khiến cho người đọc cảm thấy hứng thú và nhịp nhàng hơn trong lúc đọc. Câu ca dao tục ngữ còn có ưu điểm là dễ nhớ, dễ vận dụng còn có vần, có nhịp rất linh hoạt và tinh tế giúp chúng ta vận dụng một cách tốt nhất.

    Con người và xã hội mỗi thời kỳ đều có những điểm khác nhau và chúng ta cần phải thích nghi với xu hướng đó. Ví dụ như thời buổi hiện tại xu hướng công nghệ thông tin và toàn cầu hóa rất rộng

    Những câu tục ngữ nói về con người và xã hội:

    Câu 1:

      Một mặt người bằng mười mặt của

    Câu tục ngữ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật hoán dụ và so sánh để nói lên phẩm chất và giá trị của con người. Câu tục ngữ thể hiện rằng con người còn quý hơn của cải, còn người quý hơn của cải vì con người làm ra của cải và những thứ khác , chính vì thế mà con người rất quan trọng.

    Câu 2:

      Cái răng, cái tóc là vóc con người

    Đây cũng là một câu tục ngữ nói về sự đề cao phẩm chất và giá trị của con người nhờ vào những hình ảnh quen thuộc và tinh tế của con người. những chi tiết nhỏ như cái răng, cái tóc cũng một phần góp nên tạo vẻ đẹp hình thức của con người. Đề cao vẻ đẹp bên ngoài bởi những hình ảnh nhỏ nhất của con người.

    Câu 3:

      Đói cho sạch, rách cho thơm

    Câu tục ngữ có lời nhắc nhở đến con cháu, mọi người rằng dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào thì mọi người cũng phải giữ gìn phẩm giá, nhân cách của chính bản thân mình, không làm điều xấu xa.

    Câu 4:

      Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Câu tục ngữ trên nói về việc học tập và tu tâm dưỡng tính của con người. câu tục ngữ như lời nhắc nhở mọi người nên rèn luyện, tu dưỡng mình từ những hành động và công việc tưởng như rất nhỏ. Ăn, nói, gói, mở là những hành động nhỏ nhoi nhưng chúng ta cũng cần học tập để có những cách đúng nhất.

    Câu 5:

      Không thầy đố mày làm nên

    Câu tục ngữ trên khẳng định vai trò của người thầy trong công việc học tập của chúng ta. Thầy là một người rất quan trọng tạo nên kết quả học tập cũng như đạo đức của mỗi chúng ta.

    Câu 6:

      Học thầy không tày học bạn

    Đây cũng là câu tục ngữ nói về sự tu tâm dưỡng tính, bên cạnh vai trò quan trọng của người thầy thì chúng ta cũng nên học tập bạn bè. Ngoài việc học thầy thì chúng ta có thể hỏi bạn bè và những người khác, không nên phụ thuộc vào người thầy hoặc không học thầy mà chỉ học bạn.

    Câu 7:

      Thương người như thể thương thân

    Đây là câu tục ngữ về truyền thống tốt đẹp của con người cũng như dân tộc ta, lòng nhân đạo, lòng biết ơn của con người. câu tục ngữ trên khuyên chúng ta phải thương người khác như thương bản thân mình, thương người như thương chính mình. Tình yêu thương con người được đề cao.

    Câu 8:

    Đây cũng là một câu tục ngữ nói tình yêu thương con người, tình cảm của con người. câu tục ngữ nhắc nhở lòng biết ơn những người đã tạo ta thành quả và chúng ta được hưởng. khi chúng ta ăn quả hãy nhớ đến những người trồng cây để chúng ta có quả để ăn thứ quả ấy.

    Câu 9:

    • Một cây làm chẳng nên non
    • Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Câu tục ngữ sử dụng biên pháp ẩn dụ để thể hiện truyền thống tốt đẹp của con người. câu tục ngữ thể hiện tinh thần đoàn kết, găn bó của con người. thể hiện tinh thần đoàn kết tinh thần gắn bó giữa con người với con người.

    Bên cạnh những câu tục ngữ về con người và xã hội trên, ta còn có những câu tục ngữ về con người và xã hội hay sau:

    • Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau.
    • Người sống đống vàng.
    • Người là vàng của là ngãi.
    • Của đi thay người.
    • Người làm ra của chứ của không làm ra người.
    • Lấy của che thân chứ không lấy thân che của.
    • Một yêu tóc bỏ đuôi gà

    Hai yêu răng trắng như ngà dễ thương.

    • Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
    • Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.
    • Chết giả mới biết bụng dạ anh em.
    • Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.
    • Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.
    • Người khôn dồn ra mặt.
    • Trông mặt mà bắt hình dung.
    • Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,
    • Con mắt là mặt đồng cân.
    • Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
    • Lòng người như bể khôn dò.
    • Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.
    • To mắt hay nói ngang.
    • Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
    • Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.
    • Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.
    • Chết giả mới biết bụng dạ anh em.
    • Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.
    • Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.
    • Người khôn dồn ra mặt.
    • Trông mặt mà bắt hình dung.
    • Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,
    • Con mắt là mặt đồng cân.
    • Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.
    • Lòng người như bể khôn dò.
    • Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.
    • To mắt hay nói ngang.
    • Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
    • Nước đổ lá khoai.
    • Đèn soi ngọn cỏ.
    • Chó cắn áo rách.
    • Giơ cao, đánh sẽ.
    • Giầu điếc, sang đui.
    • No nên bụi, đói nên ma.
    • Người giầu tham việc

    Thất nghiệp tham ăn.

    • Tay làm hàm nhai
    • Của người bồ tát

    Của mình lạt buộc

    • Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.
    • Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.
    • Bần cùng sinh đạo tặc.
    • Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    • Phép vua thua lệ làng.
    • Đất có lề, quê có thói.
    • Lá lành đùm lá rách.
    • Uống nước nhớ nguồn.
    • Trời sinh voi, trời sinh cỏ.
    • Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.
    • Khôn ở trại, dại ở nhà
    • Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
    • Lảm khi lành, để dành khi đau
    • Lửa thử vàng, gian nan thử sức
    • Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén
    • Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
    • Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm
    • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
    • Vàng thiệt đâu sợ lửa

    Những câu ca dao nói về con người và xã hội:

    Câu 1:

    • Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Râu rồng trời cho”:
    • Đêm nằm thì ngáy o o,
    • Chồng yêu, chồng bảo: ngáy cho vui nhà”.
    • Đi chợ thì hay ăn quà,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Về nhà đỡ cơm”.
    • Trên đầu những rác cùng rơm,
    • Chồng yêu, chồng bảo: “Hoa thơm rắc đầu’.

    Đây là bài ca dao nói về vẻ đẹp của con người, hình ảnh người phụ nữ qua cách thể hiện dí dỏm, hài hước. những hình ảnh trên nói về hình ảnh người phụ nữ lo làm không chăm sóc đến nhan sắc của bản thân mình.

    Câu 2:

    • Hai nách những lông xồm xồm,
    • Chống yêu chồng bảo mối tơ hồng trời cho.
    • Đêm ngủ thì ngáy o o,
    • Chồng yêu chồng bảo lái đò cầm canh.
    • Ăn vụng bụng to tày thùng,
    • Chồng yêu chồng bảo cái giành đựng cơm.

    Hình ảnh người phụ nữ thể hiện hình ảnh con người, người phụ nữ một hình ảnh không đẹp nhưng thể hiện hình ảnh người phụ nữ không đẹp những rất được chồng yêu thương và quan tâm

    Câu 3:

    • Bà già ra chợ Cầu Đông,
    • Xem một quẻ bói: lấy chồng lợi chăng?
    • Thầy bói xem quẻ, nói rằng:
    • Lợi thì có lợi nhưng răng không còn”.

    Hình ảnh nói về con người và xã hội, những hình ảnh nói về một bà già đi xem bói xem mình có lấy được chồng. sự dí dỏm, hóm hỉnh thể hiện con người rất vui vẻ, dí dỏm và yêu thương nhau.

    Bên cạnh nhưng bài ca dao trên, chúng ta còn có những ca dao về con người và xã hội hay nhất sau:

    Học buôn, học bán cho tày người ta.

    Con đừng học thói chua ngoa,

    Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

    Dù no dù đói cho tươi,

    Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan.

    Phòng khi đóng góp việc làng,

    Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

    Trước là đẹp mặt cho chồng,

    Sau là họ mạc cũng không chê cười.

      Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

    Con em phải giữ lấy nền con em.

    Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường.

    Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.

    Gái thời trinh trỉnh lòng son,

    Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

    Trai lành gái tốt ra người,

    Khuyên con trọng bấy nhiêu lời cho chuyên.

      Làm trai nết đủ năm đường,

    Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay.

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

    Thức khuya dậy sớm chuyên cần,

    Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

    Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

    Dạy con, dạy thuở còn thơ,

    Dạy vợ, dạy thuở ban sơ mới về.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam
  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Đọc Sách Mỗi Ngày: 50+ Stt, Danh Ngôn Hay
  • “hãy Hướng Về Phía Mặt Trời, Bóng Tối Sẽ Ngả Dần Về Sau Bạn” (Trong Quà Tặng Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Về Sức Khỏe Sẽ Làm Thay Đổi Bạn
  • Câu Nói Hay Về Sức Khỏe Tổng Hợp Những Câu Nói Hay
  • Xem Bài Thơ Những Câu Danh Ngôn Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa Khiến Trái Tim Thổn Thức, Đọc Bài Thơ Những Câu Danh Ngôn Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa Khiến Trái Tim Thổn Thức Chi Tiết
  • Đề bài: Nghị luận xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường

    Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng. Điều này khiến ta phải suy nghĩ …

    Từ đầu năm đến nay, đã có thêm không biết bao nhiêu thống kê mới về tình trạng môi trường ở Việt Nam ta. Và đáng buồn thay, đó là những con số gây thất vọng…

    {-Chỉ số chung}

    Theo bản tổng kết môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) Hà Nội và Tp. HCM nằm trong danh sách 6 thành phố ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới. Về nồng độ bụi, hai thành phố lớn nhất Việt Nam này chỉ đứng sau Bắc Kinh, Thượng Hải, New Delhi và Dhaka. Mối đe doạ tiềm tàng này chắc chắn sẽ cản trở quá trình phát triển hơn nữa của các thành phố này. Cũng theo một nghiên cứu về các chỉ số môi trường ổn định do Trường Đại học Yale (Mỹ) thực hiện, Việt Nam đứng thứ hạng thấp nhất trong số 8 nước Đông Nam Á.

    {-Ô nhiễm môi trường nước}

    Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn với vấn đề xử lý chất thải, nước thải nên ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô thị đang ở mức báo động. Trong tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước, có trên 60% khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các đô thị chỉ có khoảng 60% – 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải, chất thải nên chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường…Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý đều đổ thẳng ra sông, hồ và dự báo đến năm 2010 là 510.000m3/ngày. Một ví dụ đau lòng của việc xả nước thải, hẳn không ai không biết, là trường hợp của con sông Thị Vải bị ô nhiễm bởi hoá chất thải ra từ nhà máy của công ti bột ngọt Vê Đan suốt 14 năm liền. Điều này khiến cho con sông bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều người dân ở xung quanh. Một ví dụ khác chính là việc ô nhiễm hồ Hoàn Kiếm, một biểu tượng của nền văn hoá dân tộc.

    {-Ô nhiễm môi trường không khí}

    Không chỉ có môi trường nước mà môi trường không khí và môi trường đất cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Môi trường không khí ở hầu hết các đô thị Việt Nam đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, kết quả đo đạc tại 6 trạm quan trắc không khí cho thấy 89% mẫu kiểm tra không khí không đạt tiêu chuẩn cho phép, luôn ở mức nguy hại cao cho sức khỏe, trong đó lượng bụi lơ lửng đang là nhân tố gây ô nhiễm nghiêm trọng hàng đầu trên địa bàn. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí do chì cũng gia tăng nhanh chóng, cụ thể nồng độ chì đo đượ cừ đầu năm 2009 đến nay thường dao động ở ngưỡng 0,22 – 0,38g/m³, quá chuẩn cho phép khoảng 1,5 lần. Về môi trường đất, kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long (Bình Phước) hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần. (Cr,Cd,As: các chất hoá học độc hại) Thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ảnh hưởng đến đất. Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.

    {Nguyên nhân}

    Vậy nguyên nhân của những sự việc trên là do đâu?

    {-Sự thiếu ý thức của người dân}

    Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng của nhiều người dân mà đặc biệt là các bạn trẻ. Nhiều người nghĩ rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường. Một số người khác lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền mà không phải là của mình. Số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì đi chăng nữa cũng không đáng kể, và việc ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng gì tới mình nhiều…Thấy vậy nhưng không phải vậy! Việc phá hoại môi trường của một người tuy chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng tập hợp nhiều người lại là lớn. Trách nhiệm bảo vệ môi trường tuy cũng có một phần là của nhà nước nhưng đa phần lại là của người dân. Và những việc chúng ta làm đối với môi trường, tuy hiện giờ ta chưa thấy được, nhưng về lâu về dài nó sẽ ảnh hưởng tới ta ít nhiều.

    {- Một số doanh nghiệp vì lợi nhuận bất chấp hậu quả}

    Một nguyên nhân khác gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, chính sự chưa chặt chẽ trong việc quản lý bảo vệ môi trường của nhà nước cũng đã tiếp tay cho các hành vi phá hoại môi trường tiếp diễn. Việt Nam thiếu những chính sách và quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và do đang thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư để phát triển nên dễ mắc vào “cạm bẫy”: trở thành nơi tiếp nhận nhiều ngành công nghiệp “bẩn”. Ví như, ngành cán thép làm tốn nhiều tài nguyên như đất, nước, năng lượng, thải ra những chất thải nguy hại cho môi trường. Ngoài ra, lượng xe cô lưu thông ngày càng nhiều ở nước ta cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí.

    Điều này đã để lại hậu quả gì?

    {-Làng ung thư}.

    {Hướng giải quyết}

    Lẽ nào ta lại nhắm mắt làm ngơ?

    Không! Chúng ta cần phải tiếp tục công cuộc bảo vệ và làm sạch môi trường bằng những biện pháp tốt hơn, thiết thực hơn nữa! Thứ nhất, phải có các hình thức xử phạt thật nặng và nghiêm minh đối với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có hành vi phá hoại môi trường, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, cũng cần giáo dục ý thức cho người dân qua các hình thức tuyên truyền, cổ động như tổ chức những buổi giao lưu bàn về vấn đề môi trường tại các đơn vị hành chính cấp phường, xã…Đưa những bài viết chi tiết hơn về môi trường trong các sách giáo khoa ngay từ cấp tiểu học, giúp học sinh có thái độ và cái nhìn đúng đắn về môi trường và những hậu quả của việc phá hoại môi trường, từ đó giúp các em biết yêu và bảo vệ môi trường mình đang sống. Một cách khác để giúp bảo vệ môi trường phát động thường xuyên hơn những phong trào tình nguyện như bảo vệ môi trường khu dân cư, dọn rác ở các khu vực công cộng, làm sạch bãi biển…

    {Tổng kết – Nhận xét riêng của bản thân}

    Tình trạng môi trường ở Việt Nam tuy nghiêm trọng nhưng vẫn có thể cứu vãn nếu mỗi người dân biết góp sức của mình, chung tay bảo vệ môi trường. Vì vậy, chúng ta cần chung tay bảo vệ môi trường và tránh gây ô nhiễm. Vì tương lai một Việt Nam xanh, sạch, đẹp và vì cuộc sống của chính chúng ta cũng như của các thế hệ sau!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 800 Câu Danh Ngôn Của Benjamin Franklin (P.1)
  • “hồ Chí Minh: Danh Ngôn Tư Tưởng
  • Các Thánh Nói Về Sự Đau Khổ Và Mầu Nhiệm Thập Giá
  • Những Câu Danh Ngôn Hay Nói Về Học Tập
  • Câu Nói Chia Tay Người Yêu Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dân Chủ Và Kỷ Luật, Công Bằng Xã Hội Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Thành Ngữ, Tục Ngữ Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình
  • Sưu Tầm Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cái Nuôi Dạy Con Cái, Giáo Dục Con Người
  • Sự công bằng dân chủ và kỷ luật luôn là những tiêu chí hàng đầu trong việc phát triển xã hội ngày càng văn mình hiện đại và giầu đẹp hơn. Con người ngày càng có suy nghĩ và tư duy mở hơn so với ngày xưa. Họ đề cao sự tự do sự công bằng lên hàng đầu. Ca dao tục ngữ về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống ngày nay thì những quy định về dân chủ, kỷ luật, công bằng xã hội là một yếu tố rất cần thiết đối với con người trong xã hội ngày nay. Những quy định về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội khiến con người ta có những ý thức và ý nghĩa tốt đẹp đối với cuộc sống ngày nay. Những quy định về kỷ luật làm cho chúng ta có ý thức và sống tốt hơn trong cuộc sống.

    Khi xã hội ngày càng phát triển và tiến bộ hơn thì con người ngày càng tiến tới sự công bằng dân chủ trên nhiều mặt khác nhau. Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều mặt trái và khoảng cách giấu nghèo ngày càng có vẻ được nới rộng

    Từ bao đời nay, từ thời Vua hùng đến ngày nay thì những quy định về dân chủ, tính dân chủ luôn được đặt lên hàng đầu. những hình thức kỷ luật, những quy định về kỷ luật được đưa ra để tập thể phát triển toàn diện và hùng mạnh hơn. Công bằng xã hội là một yếu tố rất cần thiết trong xã hội, luôn được mọi người quan tâm. Chúng ta cùng đi tìm những câu ca dao tục ngữ về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội để hiểu rõ thêm về dân chủ và kỷ luật, công bằng xã hội.

    Ca dao tục ngữ về tính dân chủ:

    Tục ngữ về tính dân chủ:

    Câu 1:

      Đói tự do hơn no luồn cúi.

    Câu tục ngữ nói về sự dân chủ, dù no hay hay đói thì cũng cần có những tính dân chủ. Câu tục ngữ nói rằng thà chịu đói nhưng tự do còn hơn no và sống cúi trước người khác. Câu tục ngữ khẳng định tự do luôn được đặt lên trước vật chất.

    Câu 2:

      Bể rộng cá nhảy, trời cao chim bay.

    Câu tục ngữ nói về sự tự o, tự tại của con người trong cuộc sống. con người có được dân chủ cũng giống như cá bơi trong bể rộng, không sợ bị nhốt, bị tù túng. Giống như con chim bay trên trời, bay không có giới hạn, không có diểm dừng. con người cũng cần có những khoảng không gian, sự ân chủ cho chính mình.

    Câu 3:

      Cá kình cá nghê sao chịu vũng nước vừa chân trâu.

    Câu tục ngữ nói về sự dân chủ của con người được thể hiện qua sự chịu đựng của con cá kình và con cá nghệ. Cá kình và cá nghệ là hai con cá lớn nhưng làm sao có thể sống trong vũng nước vừa chân trâu. Qua đó thể hiện sự tự do dân chủ của người.

    Câu 4:

      Không có gì quý hơn độc lập tự do.

    Đúng như thế, khi con người có độc lập tự do thì con quý hơn vàng bạc đá quý. Khi có độc lập tự do thì gì cũng có, gì cũng sẽ không bằng việc tự do, độc lập.

    Ca dao về tính dân chủ:

    Câu 1:

    • Thà làm chim sẻ trên cành
    • Còn hơn sống kiếp hoàng anh trong lồng.

    Câu ca dao mượn hình ảnh con chim sẻ và con chim hoàng anh để nói lên sự tự do của con người. con chim sẻ là một con chim xấu xí, con chim hoàng anh là một con chim đẹp. nhưng khó thay con chim sẻ nó luôn tự do, tự tại sống với cuộc sống tự do, còn con chim hoàng anh dù đẹp nhưng lại bị nhốt trong lồng, không có tự do.

    Ca dao tục ngữ về kỷ luật:

    Tục ngữ về kỷ luật:

    Câu 1:

      Muốn tròn phải có khuôn, muốn vuông phải có thước.

    kỷ luật là một hình thức tạo nên một tổng thể, có kỷ luật thì tập thể mới phát triển, mới vững mạnh. Khi muốn vẽ nên vòng tròn thì chúng ta cần phải có khuôn, muốn tạo nên hình vuông phải có thước, muốn con người phát triển thì cần có kỷ luật.

    Câu 2:

    Câu tục ngữ trên khẳng định vai trò và vị thế của kỷ luật. dù ở đâu nơi đâu thì đất nào cũng có lề, vùng quê nào cũng có thói, bởi những lề thói ấy mà đất nước mới vững mạnh, mới phồng vinh.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về kỷ luật:

    • Nước có vua, chùa có bụt.
    • Ở quen thói, nói quen sáo.
    • Người trên đứng đắn, kẻ dưới dám nhờn.
    • Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
    • Bề trên ở chẳng kỉ cương

    Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa.

    • Dột từ nóc dột xuống.
    • Nhà dột tại nóc.
    • Đục từ đầu sông đục xuống.
    • Tôn ti trật tự.
    • Phép Vua thua lệ làng
    • Vua phạm tội cũng giống thứ dân.
    • Quốc có quốc pháp, gia có gia quy.
    • Luật pháp bất vị thân.
    • Tha kẻ gian, oan người ngay.
    • Công ai nấy nhớ, tội ai nấy chịu.
    • Chớ dong kẻ gian, chớ oan người ngay.
    • Chí công vô tư.
    • Rõ ràng phải trái phân minh.
    • Cầm cân nảy mực.
    • Bênh lí, không bênh thân.
    • Ăn cho đều, kêu cho sòng.
    • Vay thì trả, chạm thì đền.
    • Làm điều phi pháp việc ác đến ngay.
    • Làm người trông rộng nghe xa

    Biết luật biết lí mới là người tinh.

      Thương em anh để trong lòng

    Việc quan anh cứ phép công anh làm.

    Ca dao về kỷ luật:

    Câu 1:

    • Bề trên ở chẳng kỉ cương
    • Cho nên kẻ dưới lập đường mây mưa

    kỷ luật là một yếu tố rất quan trọng, là một hình thức để quản lí những người ở dưới. câu ca dao nói rắng nếu chúng ta làm xếp, làm lớn mà không kỉ cương thì làm sao cấp dưới noi theo, chúng ta có kỉ cương, đúng đắn thì cấp dưới mới quý trọng và noi theo.

    Câu 2:

    • Thương em anh để trong lòng
    • Việc quan anh cứ phép công anh làm

    Câu ca dao trên khẳng định rằng tình yêu nam nữ cũng không thể vượt qua được lệnh của cấp trên. Dù yêu em, nhớ em nhưng việc quan phép công anh phải làm, tôn trọng kỷ luật.

    Ca dao tục ngữ về công bằng xã hội:

    Câu 1:

    Câu tục ngữ trên nói về sự công bằng, trong cuộc sống thì có những người giàu, cũng có những người nghèo, có những người khó khăn, cũng có những người hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu những người giàu có, hạnh phúc giúp đỡ những người khó khăn, nghèo khó thì xã hội sẽ công bằng hơn.

    Câu 2:

      Ăn cho đều, kêu cho sòng.

    Công bằng là một hình thức để phát triển xã hội, công bằng luôn có những điều tốt đẹp, khiến con người sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, có những sự đối nhân xử thế tốt đẹp hơn.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về công bằng xã hội:

    • Vậy thì trả, chạm thì đền
    • Có vay có trả, mới thỏa lòng nhau.
    • Tiền trao ra, gà bắt lấy.
    • Tiền trao cháo múc.
    • Tiền trả mạ nhổ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội
  • Những Bài Ca Dao Dành Cho Trẻ Mầm Non Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Tài Liệu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em Doc
  • TỤC NGỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI

    I/ TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN BẢN

    – Kho tàng tục ngữ Việt Nam rất phong phú và đa dạng, trong đó mảng tục ngữ về con người và xã hội, tập trung ở các đề bài: gia đình, kinh nghiệm ứng xử, lịch sử, xã hội, phương châm sống,…

    – Những câu tục ngữ viết về con người và xã hội thường rất giàu hình ảnh, các biện, pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, tính hàm súc về nội dung biểu hiện. Sức mạnh của tục ngữ ở việc chú trọng, tôn vinh những giá trị cao đẹp của con người, đưa ra những lời nhận xét, khuyên răn về những phẩm chất và lối sống mà con người cần phải có trong cuộc sống.

    – Nội dung các câu tục ngữ chủ yếu chỉ quan hệ giữa người với người trong xã hội, thường được tuân theo một chuẩn mực đạo đức luân lí nhất định. Chuẩn mực đạo đức đó đã được cộng đồng chấp nhận vá được người dân lao động sử dụng như một nguyên tắc sống và giao tiếp hằng ngày.

    II/ HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN TÍCH VĂN BẢN

    Đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ trong văn bản..

    Câu 1: “Một mặt người bằng mười mặt của”.

    – Có ý nghĩa khẳng định và đề cao giá trị của con người, ta cũng gặp trong nhiều câu tục ngữ khác như: Người sống, đống vàng; Người ta là hoa đất.

    – Câu tục ngữ này có thể được áp dựng trong nhiều trường hợp: như phê phán, phản bác những kẻ coi trọng của cải hơn con người; động viên, an ủi những người bị mất mát, thiệt hại về tiền của, và thông qua đó chỉ cho họ thấy rằng của cải đáng quý, nhưng con người còn đáng quý hơn cả. Còn người còn của, con người sẽ làm ra của cải vật chất.

    – Nêu lên hai nét đẹp của con người, cái răng cái tóc là phần thể hiện hình thức, tính nết con người.

    – Câu tục ngữ không chỉ nêu lên nét đẹp của con người mà còn nhắc nhở chúng ta biết giữ gìn chăm sóc từng yếu tố thể hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người.

    – Câu tục ngữ còn nhắc con người chú ý về hình thức bên ngoài, thông qua hình thức bên ngoài ta có thể soi xét một phần của “góc con người”, với cách hiểu này câu tục ngữ như một lời khuyên mọi người trong cách đánh giá một con người.

    Câu tục ngữ khuyên con người phải sống trong sạch dù có khó khăn về vật chất, dù hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn phẩm giá, nhân cách của mình.

    – Câu tục ngữ nêu lên bài học về cách thức giao tiếp ứng xử trong cuộc sống, cần phải học các hành vi ứng xử có văn hóa.

    – Câu tục ngữ là lời nhắn nhủ mọi người rằng: mỗi hành vi cử chỉ đều nói lên tư cách, phẩm chất của con người. Trong cuộc sống ta phải học tất cả những điều này để có cách giao tiếp có văn hoá, một nét sống cần thiết của con người trong xã hội.

    – Câu tục ngữ khẳng định vai trò to lớn của người thầy trong sự nghiệp giáo dục. Qua đây còn thể hiện sự thách thức đối với những người luôn tự đề cao mình, không biết nhớ ơn công lao dạy dỗ của thầy cô giáo.

    – Câu tục ngữ nhắc con người phải biết quý trọng và biết ơn công lao dạy dỗ của thầy cô giáo phê phán những ai vô lễ với người đã dạy dỗ mình nên người.

    – Xuất phát từ thực tế, không chỉ học các kiến thức từ sách vở mà có thể học từ chính những người bạn của mình. Bạn bè là những người cùng tuổi vì vậy việc học hỏi sẽ dễ dàng hơn, từ đó ta có thể thay đổi rèn luyện những mặt còn yếu kém.

    – Trong cuộc sống bản thân mỗi người cần phải biết kết hợp cả hai hình thức là học thầyhọc bạn, có như vậy thì mới phát triển toàn diện.

    “Bán anh em xa mua láng giềng gần”/ “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.

    Tục ngữ Việt Nam có những câu có ý tương hỗ, bổ sung ý nghĩa cho nhau như: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”/ “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”.

    Cả hai câu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập biết tìm thầy mà học thì con người mới có thể thành tài, có khả năng đóng góp cho xã hội và sống mới có ý nghĩa.

    Răn dạy con người hãy yêu thương người khác như chính bản thân mình vậy. Trong cuộc sống ai cũng có lúc gặp phải khó khăn cần sự giúp đỡ và chia sẻ, vì vậy con người cần có trái tim đồng cảm, chia sẻ giúp đỡ đùm bọc nhau, phải có lòng nhân ái, đó là đức tính tốt của con người.

    – Nghĩa của câu tục ngữ: Được hưởng thành quả phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó.

    Câu 9: “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nền hòn núi cao”.

    – Câu tục ngữ nhắc nhở con người khi được hưởng thành quả nào thì phải biết quý trọng và nhớ tới công ơn của người đã tạo dựng những thành quả đó. Con người sống phải biết trước sau, phải có tình nghĩa và có cách cư xử có đạo đức.

    – Câu tục ngữ mượn chuyện cây cối, sự vật để nói chuyện con người: trong cuộc sống nếu chỉ có một mình thì không làm được gì nhưng khi con người biết hợp sức lại thì công việc sẽ tiến hành tốt hơn.

    Như vậy:

    – Sức mạnh của khối đoàn kết trong thời đại nào cũng được đề cao, nếu con người sống tách rời tập thể sẽ bị cô lập, không thể vững bước đi lên trong cuộc sống. Mỗi cá nhân cần biết đoàn kết, giúp đỡ nhau như vậy mới tạo thành cộng đồng vững mạnh.

    Tục ngữ viết về con người và xã hội có từ lâu đời, nó có những đặc sắc riêng về nghệ thuật, là sự diễn đạt bởi các hình thức so sánh:

    Các câu 1, 6, 7 có sử dụng biện pháp so sánh, “một và mười”, câu 6 là ”khồng bằng” (không tày). Câu 7 là so sánh bằng (như thể),

    Nhờ biện pháp so sánh các hình ảnh, sự vật được nói đến trở nên cụ thể, người đọc như cảm nhận được một cách trực tiếp, hơn thế nữa nhờ việc sử dụng so sánh mà câu tục ngữ trở nên dễ thuộc, dễ nhớ.

    Nghệ thuật ẩn dụ với những hình ảnh “quả”, “núi cao” ở câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” để liên hệ với con người. Dựa trên sự tương đồng về ý nghĩa mà phép so sánh ngầm này cho người đọc nhận ra nét nghĩa sau văn bản.

    IV/ TRÍCH YẾU TƯ LIỆU THAM KHẢO

    Cách dùng từ và câu có nhiều nghĩa ở trong ca dao rất phố biến, cụ thể trong bài ở các câu 2, 3, 4, 8, 9 có thế hiểu theo nhiều nét nghĩa. Câu “Cái răng, cái tóc là góc con người” không những chỉ ” răng” và ” tóc” mà còn nói về hình thức nói chung, từ đó có cách nhìn nhận và đánh giá nhân cách con người.

    1/ …Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc ta. Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy, nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có thay đổi một vài từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau.

    Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích. Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người. Nói như Gorki: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động” (Gorki bàn về văn học, NXB Văn học, H. 1965, tập I, trang 229). Đồng thời tục ngừ cũng biểu hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống. Tục ngữ thể hiện một phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lí dân gian. Gắn với lao động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch sử, xã hội, nhân dân đã bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức của mình.

    Trong tục ngữ, qua những nhận xét tinh tế về thời tiết; về những kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, những phê phán sắc sảo: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”; “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”; những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa: ” Người ta là hoa đất”; “Người sống, đống vàng”; những đức tính quý báu của nhân dân: ” Có công mài sắt, có ngày nên kim”; “Đói cho sạch, rách cho thơm”; những chân lí từ ngàn đời: ” Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn”; “Nước chảy đá mòn”; “Tre già mãng mọc” … ý nghĩa của tục ngữ trước hết là ở nội dung. Tuy nhiên ý nghĩa của thể loại này còn ở chỗ biểu hiện được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc, ở chỗ chứng minh được rằng ngôn ngữ văn học dân gian là mẫu mực về tính chính xác, tính sinh động và tính hình tượng. Qua tục ngữ có thể thấy cách nhân dân phát huy những ưu điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp để biểu hiện tư tưởng của mình. Thông qua việc sáng tác tục ngữ, nhân dân đã rèn đúc, mài giũa ngôn ngữ dân tộc và làm cho nó ngày càng tinh xảo, chính xác, trong sáng và phong phú hơn.

    Mỗi câu tục ngữ đều dùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể để nói lên ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến vì vậy ở mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa bóng (nghĩa rộng). Cái cụ thể, cá biệt tạo nên nghĩa đen; cái trừu tượng, phổ biến tạo nên nghĩa bóng. Đặc biệt là ở những câu tục ngữ nói về quan niệm, lối sống và đạo đức của nhân dân: “Môi hở răng lạnh”; “Chó cắn áo rách”; “Đục nước béo cò”; “Năng nhặt chặt bị”;…

    Hình ảnh trong tục ngữ là những hình ảnh từ cuộc sống phong phú nhiều màu, nhiều vẻ được nhân cách hóa rất linh hoạt và sinh động: ” Đũa mốc chòi mâm son”; “Khố son bòn khố nâu”… hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, nhiều nhất là vần lưng (yêu vận) nên nhịp điệu nhanh, mạnh, vững chắc: “Được làm , làm giặc”; ” Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu”; “Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm”; “Gái một con trông mòn con mắt“… còn những câu không vần thường giữ được tính chất nhịp nhàng theo cách cấu tạo cân đối của các vế: “Già néo đứt dây”, “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Cũng có những câu không vần, không đối nhưng vẫn giàu chất nhạc, chất hàm súc của thơ: “Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”; “Nằm trong chăn mới biệt chăn có rận”‘, “Dao sắc không gọt được chuôi”‘;…

    Nghệ thuật tục ngữ biểu hiện đầy đủ lối suy nghĩ dân gian của dân tộc về giới tự nhiên và đời sống xã hội đồng thời cũng biểu hiện cách nói của dân tộc ta qua nhiều thế hệ, trong tiến trình lịch sử lâu dài. Nếu như tục ngữ thiên về lí trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại thiên về tình cảm (nội dung trữ tình) và ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian. Cũng như tục ngữ hoặc bất cứ thể loại văn học nào khác, ý nghĩa chủ yếu có thể thấy ở ca dao vẫn là về mặt nội dung, có điều là nội dung ấy thường đượm chất thơ. Nếu cho rằng một đặc điểm của thơ là ở chỗ biểu hiện một cách cô đúc nhất tư tưởng và tình cảm thì cũng có thể coi tục ngữ như là một dạng của thơ.

    (Mã Giang Lân, Lời giới thiệu “Tục ngữ ca dao Việt Nam “)

    2/ Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hộí hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đennghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lí. Hình tuợng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có một vế, chứa một phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc
  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông
  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Thành Ngữ, Quán Ngữ Trong Hoạt Động Giao Tiếp Của Giới Trẻ Hiện Nay
  • Ca Dao Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Hiếu, Tình Cảm Gia Đình, Tình Yêu Thiên Nhiên
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Tuổi Học Trò
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cha Hay ❤️ Những Câu Ý Nghĩa
  • Lớn Lên, Con Hiểu Ra Rằng Hạnh Phúc Của Con Là Nụ Cười Của Mẹ
  • Những Câu Ca Dao Về Tình Mẫu Tử Hay ❤️ Tình Mẹ Con
  • rong văn chương truyền khẩu, ca dao chiếm một địa vị quan trọng, đi sâu vào văn học Việt Nam. Muốn tìm hiểu văn chương phải tìm hiểu về ca dao là một kho tàng văn học phong phú vô tận. Ca dao thường ca tụng tình yêu nam nữ, tình cảm, phong tục con người. Bộ Thi Ca Bình Dân Việt Nam là lâu đài văn hoá dân tộc của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh biên soạn. Rất ít tìm thấy những câu ca dao ta thán, châm biếm nhà cầm quyền.

    Nhưng sau ngày 30/04/1975, Văn học dân gian phản ảnh về kinh tế, chính trị qua lời ca phổ biến âm thầm để nói về chế độ CSVN, được lưu truyền qua người này đến người khác. Những câu ca dao xuất hiện vào thời điểm đổi đời, đánh dấu một giai đoạn thi ca truyền khẩu, đã và đang tồn tại với đời sống văn học, dù những đoạn ca dao nầy không được in thành sách ở Việt Nam, đúng là :

    Thành phố Sài Gòn hơn 300 năm đã bị đổi mất tên, nhưng không thể xoá mờ trong tâm hồn của dân tộc cái tên Sài Gòn muôn thuở. Dù đổi tên nhưng người ta nói xuống Sài Gòn chơi, chứ không ai nói xuống TPHCM. Những con đường xưa quen thuộc nhiều thế hệ chúng ta từng đi qua, cũng bị thay đổi tên như đường Công lý và Tự Do:

    Chiến tranh chấm dứt. Niềm vui chưa trọn vẹn. Dân miền Nam bị chới với trước việc đổi đời. Đời sống dân miền Nam sung túc trước kia sau 75 trở nên nghèo đói, phải đăng ký, xếp hàng trước hợp tác xã để mua thực phẩm. Gạo thiếu phải ăn hột bo bo, thức ăn cho ngựa. Nhiều gia đình phải bán dần đồ dùng trong nhà để sống qua ngày, người đi làm lương không đủ sống.

    Lương giáo viên mỗi tháng khoảng 70 đến 80 đô la. Ngày dậy, tối về nhà phải chấm bài vất vả, lại hội họp, phê bình, kiểm điểm, liên tu. Nhưng đồng lương quá thấp, thời kinh tế thị trường “gạo châu củi quế” nên họ phải làm thêm như dậy kèm, chở rau ra chợ vào buổi sáng sớm, trước khi đến trường, có người phải chạy xe ôm …

    Hàng ngày mặt trời chưa ló dạng, đã nghe tiếng phát thanh oang oang kêu gọi nào : Thi đua sản xuất, lao động là vinh quang, gọi đi họp tổ dân phố, biểu tình hoan hô, chào mừng theo lệnh của nhà cầm quyền, dù bụng đói cũng phải thi hành, gọi là ‘hồ hởi’.

    Có những người còn ở trong hoàn cảnh nghiệt ngã, nghe lời nhà nước ra sức lao động, như ở miền Trung mưa nắng khắc nghiệt, mồ hôi đổ xuống mảnh vườn khô cằn trồng mía làm đường; các tỉnh cao nguyên trồng tiêu, điều, café hy vọng bán nông phẩm cải thiện đời sống, nhưng nhà cầm quyền không biết quản lý về kinh tế, thương mãi để cho nông dân gặp trường hợp bế tắc không bán được, gây nên cảnh nợ nần khánh tận.

    Nước Việt Nam chúng ta ngày xưa, phần lớn sống về nông nghiệp, có nhiều giai cấp địa chủ … bóc lột. Dân nghèo thiếu ruộng, thiếu vườn canh tác, phải làm tá điền. Địa vị giai cấp là đối tượng đấu tranh của con người trong xã hội. Phong trào giải phóng dân tộc, đánh đuổi thực dân phong kiến, trở thành cao trào từ năm 1945 mọi người đã hưởng ứng, hy sinh xương máu. Nay hết chiến tranh, Việt Nam độc lập, chỉ còn người Việt cai trị người Việt, nhưng bản chất thật sự của giới lãnh đạo cộng sản đã hiện nguyên hình.

    Khẩu hiệu tuyên truyền của CSVN, đảng là đầy tớ, còn nhân dân làm chủ, chỉ còn là một cái bánh vẽ mà thôi. Trên thực tế ai có quyền thì người đó hưởng phúc lợi giàu sang. Ai nghèo thì vẫn nghèo rớt mồng tơi, còn là nạn nhân bị cưỡng ép đi vùng kinh tế mới.

    Xã hội nào cũng có nạn tham nhũng nhiều hay ít. Trước năm 1975, cũng có phong trào chống tham nhũng, vạch trần 4 tướng tham nhũng trong quân đội VNCH, nhưng ngày nay dưới chế độ cộng sản, tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Nếu đọc những báo điện tử trong nước, ngày nào cũng có tin Tổng Giám đốc, Giám đốc quan chức nhà nước lớn nhỏ thường thâm thủng hàng triệu đô la. Báo chí Quốc tế cũng viết Việt Nam là nước tham nhũng, công việc gì đầu tiên phải có tiền hối lộ, đã làm ngưng trệ việc đầu tư và phát triển …

    Cũng có những đoàn thanh tra, để tỏ ra tiến bộ, nhưng chỉ là một hình thức thu tiền bỏ túi.

    Thời chúng ta còn trong nước từng thấy cán bộ, thủ trưởng còn ôm tập đi học bổ túc văn hoá, một năm hai lớp. Nhưng ngày nay nếu chúng ta về thăm quê hương, những người đó trước đây có nhiều bằng cấp đại học ” giảm “, để cầm quyền có cơ hội ” ăn trên ngồi trốc “, nhưng trình độ kiến thức thì chả ra gì.

    Trong sinh hoạt đời sống, áo cơm thường chi phối mọi tình cảm, tình yêu gia đình, tình yêu đôi lứa, bị ảnh hưởng và biến đổi tâm tình đó qua nhiều trạng thái.

    Trong giới bình dân cũng nhận định được khả năng lý trí, không thể đặt tâm tư con người ra ngoài ảnh hưởng đời sống vào thời gian và không gian … một số ít gia đình có con lấy chồng ra ngoại quốc hay vượt biên, may mắn có đời sống khá hơn, đã dành dụm gởi tiền về giúp gia đình.

    Huyền Trân công chúa kết duyên cùng Chế Mân, vua Chiêm Thành, theo lệnh của Phụ Hoàng để có sự bang giao tốt đẹp, thêm đất là 2 Châu Ô và châu Lý, nhưng ca dao thời đó cũng đã thương tiếc cho Huyền Trân công chúa.

    Nhưng ngày nay trong vấn đề hôn nhân, lấy chồng ngoại quốc trở thành một phong trào của những người dân quê bình dân mộc mạc, sống trên thửa ruộng nương dâu. Họ không thể tách rời cuộc sống, được mùa thì ấm no sung túc, ngược lại thiên tai mất mùa, đói khổ ! Không có cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài, chỉ nghe những lời đồn đãi của bọn buôn người. Bọn nầy làm trung gian, rao tìm con gái gả cho bọn đàn ông Đài Loan, Đại Hàn. Hạng đàn ông này bên quê hương của họ không thể tìm vợ để xây tổ ấm uyên ương, vì họ ít học, bị tật nguyền, hay là loại sở khanh lường gạt. Họ bỏ tiền mua gái quê trong trắng từ Việt Nam về làm nô lệ, phục vụ tình dục.

    Tệ nạn xã hội lường gạt, đĩ điếm từ thôn quê cho đến thành thị, đều có quán ăn nhậu, bia ôm, đủ thứ ôm để khai thác làm phương tiện sống, thành phố Cần Thơ với sông nước thiên nhiên, ghe thuyền tấp nập nhưng về đêm chúng ta không khỏi chạnh lòng, những cô gái buôn hoa bán phấn, tuổi đời còn non trẻ đã mời chào du khách.

    Muốn phản ảnh tốt về trạng thái xã hội, người làm ca dao cần phải luôn luôn theo sát với cuộc sống, xã hội lệ thuộc nặng về vật chất, thì giá trị tinh thần bị lu mờ. Ngày xưa sống ở trong rừng núi, bưng biền, người ta chia nhau củ sắn miếng dưa, nhưng về thành, mạnh ai nấy sống. Tiền là cứu cánh, là phương tiện tiến thân. Cái huy chương anh hùng dân tộc bán không ai mua.

    Thời toàn dân kháng chiến chống Pháp, Việt Nam Quốc Dân Đảng đã phản đối bọn thực dân và tay sai, đã lợi dụng mộ phu đi làm đồn điền cao su. Nhiều người nghèo tin đi làm, mong đời sống tốt hơn. Họ bỏ nhà cửa ruộng nương, đi lao động ở các vùng thiếu tiện nghi, bị bóc lột đánh đập.

    Ngày nay đất nước Việt Nam thống nhất tài nguyên phong phú, ” rừng vàng bể bạc ” nhưng nhà nước xuất cảng người đi lao động để thu tiền. Các địa phương những ngài chủ tịch còn hơn bọn cường hào ác bá, cướp đoạt đất đai, quốc hữu hoá. Sau đó bán giá đắt hơn để thủ lợi.

    Các nước theo chủ nghĩa xã hội, trước đây thường dựng tượng Lénin ở những công trường, vườn hoa để tôn vinh chủ nghĩa cộng sản. Hơn 15 năm qua, các nước Đông Âu từ bỏ chế độ cộng sản độc tài, thì tượng Lénin bị đập bỏ. Ngày nay, tượng Lénin chỉ còn ở Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba và Trung Cộng mà thôi.

    Trong văn học dân gian, giữa nội dung và hình thức có sự tương quan mật thiết, trong quá trình phát triển của xã hội, từ tư tưởng, tình cảm xã hội được phản ảnh qua thi ca. Xưa kia ca dao thường nói về ngoại cảnh ngoại vật, cây đa đầu làng dặm liễu bờ tre, những đêm trăng non trên đồng lúa xanh tươi. Hiện nay ca dao mới bước xa hơn, nói về thực trạng xã hội của 30 năm qua nhiều chuyển biến, ca dao tất nhiên thay đổi nội dung và hình thức nghệ thuật.

    Chúng ta không lạ gì chủ nghĩa cộng sản, lúc nào cũng tuyên truyền những từ ngọt như đường cát, mát như phèn, nhưng đụng vào thực tế đối đầu với chế độ chua hơn dấm. Dưới chế độ CS người dân bị đàn áp, thiếu tự do nên những thập niên về trước, nhiểu người liều chết vượt đại dương ra đi tìm tự do. Nếu chẳng may bị công an bắt, kết án là Việt gian, phản bội tổ quốc ra đi vì kinh tế, bị tống giam đày ải.Tuy nhiên cộng sản không thể chận bắt hết làn sóng người vượt biên hay các địa phương bán bãi lấy tiền, nên nhiều người vượt thoát được. Các quốc gia trên thế giới với lòng nhân đạo đón nhận, người Việt với bản tính cần mẫn, chịu khó học hành đi làm, ổn định đời sống gởi tiền về giúp thân nhân hàng năm lên tới 3, 4 tỷ đô la. Một phúc lợi lớn với chế độ CSVN, nên họ thay đổi chính sách như Nghị quyết 36, kêu gọi Việt kiều về đầu tư. Nhưng Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Marine, cho rằng chính phủ Việt Nam “chưa nỗ lực đủ và cần làm nhiều hơn nữa để hòa giải với cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

    Lịch sử cận đại, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1975. Cộng sản Việt Nam hay viện dẫn lịch sử lý luận và tự hào đã có công lao giải phóng dân tộc, chiến thắng thực dân Pháp và Mỹ, giành độc quyền lãnh đạo. Để có nhận xét công minh để các thế hệ sinh sau thấy rõ công và tội của đảng cộng sản Việt Nam, đảng đã tuyên truyền sai lệch về lịch sử, không thể lấy thúng úp voi. 30 năm đã qua nhưng đất nước còn chậm tiến và lạc hậu.

    Lịch sử điạ lý từ ngàn xưa thường nói từ Ải Nam Quan đến mũi Cà mau. Biên giới lãnh thổ lãnh hải Việt Nam, đã bị mất một phần đất biển về phía Trung cộng. Ngày nay mốc biên giới phải sửa lại từ Lạng Sơn, chứ Ải Nam Quan đâu còn nữa! Đời sống người dân đã khổ vì thiên tai, những nạn dịch gia cầm, nhưng người ta chờ đợi và mơ ước cái dịch đảng chết tiệt, may ra đời sống khá hơn.

    Đã 32 năm hòa bình, đất nước có phát triển nhưng còn giới hạn. Xã hội băng hoại. Đạo đức suy đồi. Tham nhũng lan tràn. Mức chênh lệch giàu nghèo càng ngày cách biệt. Đời sống nông dân chân lấm tay bùn, còn bần cùng khốn khổ. Nhiều người bán tài sản, góp tiền xin đi lao động nước ngoài. Gái quê mong lấy chồng ngoại quốc, dù làm tôi tớ nô lệ! Trường học, bệnh viện không xây dựng thêm, nhưng nhà hàng, hộp đêm thì mọc lên như nấm. Chúng ta không ngạc nhiên trước những suy đồi hư đốn trên, tôi chứng kiến được những sự kiện, đời sống hiện nay ở Sài Gòn chỉ làm cho chúng ta bi quan về tương lai đất nước. Đi đâu tôi cũng nghe người ta than thở, chê trách đảng viên, cán bộ cấp cao chiếm một tỷ số không nhỏ, đã tham nhũng hối lộ. Trong bản báo cáo hàng năm về tự do tôn giáo thế giới, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã nêu tên ba nước cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn và chính quyền quân nhân Miến Điện vi phạm nặng nề tự do tôn giáo.

    Thành thật tri ân ký giả lão thành Lê L., ngoài 80 tuổi nhưng ông còn minh mẫn, tiếu lâm đọc cho tôi ghi chép những câu ca dao mới, chắc chắn còn thiếu sót. Mong quý vị độc giả đóng góp cho thêm phần phong phú.

    Thi Ca Dao XHCN

    Nguyễn Quý Đại , 12/2007

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Có Giá Trị Sâu Sắc Nhiều Mặt
  • Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Nét Duyên Thầm Của Ẩm Thực Việt Qua Kho Tàng Ca Dao, Tục Ngữ
  • Chùm Ca Dao Dân Ca Hay Và Đặc Sắc Nhất Về Nghi Lễ, Phong Tục Của Dân Tộc
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Ở các địa phương này biển đảo là đối tượng chủ yếu của các đơn vị tục ngữ, ca dao. Biển đảo cũng đã có mặt trong nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ sưu tầm được ở các địa bàn khác của Hội An chứng tỏ ảnh hưởng sâu rộng của biển đảo trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương. Các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo đã góp phần quan trọng làm nên sự phong phú, đa dạng và sắc thái riêng có của kho tàng di sản văn nghệ dân gian Hội An nói riêng, xứ Quảng, Đàng Trong nói chung và mặt khác, quan trọng hơn, chúng chứng tỏ rằng từ lâu đời người dân ở đây đã có cuộc sống gắn bó máu thịt với biển đảo, không ngừng vươn ra chiếm lĩnh biển đảo để làm không gian sinh tồn và sáng tạo nên nhiều giá trị văn hóa có giá trị, trong đó có các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo.

    Trước hết những câu ca dao, tục ngữ này cho thấy nhận thức, tâm thức của người dân địa phương về biển đảo mà cụ thể ở đây là biển Đông. Đối với họ, biển đảo không phải là nơi ” lạ bến đậu nhờ ” mà là quê hương gần gũi, thân thương, gắn bó:

    – Quê ta biển bạc non vàng

    Biển bạc Đông Hải, non vàng Bồng Miêu

    – Cù Lao đảo nhỏ quê ta

    Dạt dào sóng biển thuyền ra thuyền vào

    Đêm nằm ngữa mặt trông sao

    Trông cho biển lặng cá vào đầy ghe

    – Ra Lao bước tới Mồ Dài

    Gần Khô có Lá gần Tai có Nồm

    Biển bạc có nhiều cá tôm

    Rừng vàng tươi thắm hoa thơm bốn mùa

    Hỏi rằng đây phải Cù Lao

    Thưa rằng Tân Hiệp đã bao nhiêu đời[1]

    Qua các câu ca dao, tục ngữ trên và qua nhiều câu khác không trích dẫn ở đây ta thấy biển đảo hiện ra rất thân thương, gần gũi, gắn bó với con người, biển đảo là quê hương, quê ta, quê mình chứ không hề là môi trường xa lạ, tạm thời, là nơi sống nhờ ở đậu. Đàng sau các câu chữ là một tình yêu mãnh liệt, nồng thắm đối với quê hương, biển đảo. Biển đảo qua các sáng tác dân gian cũng hiện lên rất đỗi tươi thắm, giàu đẹp không thua kém bất cứ một miền quê nào khác. Biển bạc, rừng vàng không hề là những câu hoa ngữ, khoa trương mà rất cụ thể với các nguồn tài nguyên phong phú vốn có của mình. Biển bạc Đông Hải là một hiển hiện thực tế sau những vụ mùa bội thu tôm cá:

    – Được cá làng Gành ghe mành chở gạo

    Hoặc biển bạc hiện ra với những tổ chim yến quý hiếm, được xem là vàng trắng của phương Đông:

    – Lao Chàm nắng đẹp ban mai

    Có đàn chin yến kéo dài mùa xuân

    – Rủ nhau cơm gói ra Hòn

    Muốn ăn được yến phải lòn hang Khô

    Cho dù biển khơi không phải lúc nào cũng trời yên gió lặng mà có lúc trái tính trái nết nhưng không vì thế mà người dân ở đây chối bỏ, xa cách biển. Họ vẫn kiên trì bám biển, dựa vào biển để sống với ước mơ biển đảo sẽ đem lại cho mình nhiều điều tốt đẹp, cuộc sống no đủ:

    – Ra khơi bữa có bữa không

    Lạy trời đừng để tố giông cho mình

    Biển đảo là quê hương đồng thời cũng đã đem lại cho cộng đồng dân cư ở đây một cái nhìn toàn diện về sự rộng lớn, bao la của đất nước, của tổ quốc. Từ rất sớm trong ca dao tực ngữ đã hình thành quan niệm, cách nhìn về phạm vi lãnh thổ của đất nước không chỉ gồm đất đai, rừng núi, sông hồ mà còn có cả biển đảo. Đó là một chỉnh thể không thể chia cắt, tách rời.

    – Sông Thu khúc lỡ, khúc bồi

    Khúc mô lỡ lỡ hết khúc mô bồi bồi luôn

    Trời sinh ra có biển có nguồn

    Có ta có bạn bạn buồn nỗi chi

    Quan niệm, nhận thức này đã được định hình và ăn sâu vào tâm thức của người dân địa phương để khi nói về quê hương họ có cái nhìn kết nối giữa núi rừng và biển đảo:

    Ngó lên trên rừng ngó về dưới biển” là câu nói cửa miệng và là mô típ lặp đi lặp lại ở nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ của địa phương. Thật ra, điều này không có gì lạ khi ta đọc lại truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên với 50 người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống biển. Đó chính là địa bàn cư trú truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó biển là môi trường mang tính cội nguồn. Có lẽ do tâm thức này mà tại địa phương có tục gát đòn đông nhà phải theo quy định ” Gốc biển ngọn nguồn “, gốc của cây đòn đông phải luôn quay về hướng đông, hướng biển, ngọn quay về hướng Tây, hướng núi.

    Cùng với việc thể hiện tình cảm gắn bó đối với quê hương biển đảo những đơn vị ca dao, tục ngữ nêu trên còn là sự khẳng định tư thế làm chủ của người dân địa phương đối với biển đảo nơi mình sinh sống. Các câu ca dao, tục ngữ với những địa danh cụ thể được xác định là quê mình, quê ta như Đông Hải, biển Đông, Cù Lao, hòn Khô, Lá, Tai, Nồm,… và nhiều địa danh biển đảo khác chứng tỏ chúng là những vùng biển đã được khai phá, chiến lĩnh và có chủ quyền từ lâu đời. Có thể nói đây là những tấm bản đồ xác định chủ quyền biển đảo bằng ca dao, tục ngữ.

    Qua các đơn vị ca dao, tục ngữ sưu tầm được cho ta thấy rằng người dân ở đây có những hiểu biết rất sâu sắc về biển đảo chứ không phải ” xa rừng nhạt biển ” như một số người nhận xét. Sự hiểu biết sâu sắc này là kết quả của quá trình chung sống lâu dài và không ngừng tìm tòi, khám phá để khái quát, tập hợp thành kho trí thức đồ sộ về biển đảo được diễn đạt, thể hiện ở nhiều hình thái, loại hình văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó có ca dao, tục ngữ.

    Trước hết đó là những câu ca dao, tục ngữ ghi lại những kinh nghiệm về thời tiết trên biển, về đặc điểm, tính chất của biển đảo.

    Rõ ràng đây là những nhận xét, tri thức của những người từng chung sống, lặn lội với biển, rất hiểu biết về biển kể cả về đặc điểm, tiềm năng, lợi thế về cả những hiểm nguy, bất trắc do biển mang lại. Các câu ca dao, tục ngữ trên cũng cho thấy để thích ứng với biển ngoài sự đoàn kết, đồng lòng, tính gan dạ, dũng cảm dám đương đầu với sóng gió thì sự hiển biết vể biển, kỹ năng đi biển cũng hết sức quan trọng.

    Đó là những tố chất, đức tính cần thiết để chung sống với biển và trở thành là dân biển thực thụ.

    Ảnh hưởng và sự thâm nhập sâu sắc của biển đảo trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương còn được thể hiện ở chỗ hình tượng biển đảo xuất hiện ở nhiều đơn vị ca dao, tục ngữ để chỉ những điều thiêng liêng cao quý, những cung bậc tình cảm; để diễn đạt tình yêu đôi lứa thủy chung cũng như sự chia ly, xa cách…

    Khi nói về công ơn lớn lao của cha mẹ các tác giả dân gian địa phương đã đi từ mô thức truyền thống ” Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” để có cách diễn đạt mới gắn với biển cả:

    – Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    – Ngó ra ngoài biển dờn dờn

    Cửa tiền chất đống cũng không bằng công ơn cha mẹ già

    Sớm mai cơm, trưa cháo chiều trà

    Ơn Cù Lao chín chữ bạn mà chớ quên

    Biển cả cũng đã cho ta một câu khẩu ngữ để diễn đạt công ơn sinh thành, dưỡng dục là ” công ơn trời biển “. Cách diễn đạt này có chiều sâu và mang tính khái quát hơn. Rõ rang núi, sông còn có giới hạn và có thể xác định nhưng trời biển, biển cả thì thật vô hạn và mang tính thiêng liêng, làm sao có thể xác định được.

    Hoặc khi nói về sự thâm sâu, khó dò của lòng người, các tác giả dân gian ở đây có cách diễn tả rất độc đáo, khác với truyền thống:

    – Dò sông dò biển dễ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    Lòng người thăm thẳm mù khơi

    Không bờ không bến biết nơi mô dò

    Lòng người thăm thẳm sao đo

    Ai đo dài ngắn ai dò nông sâu

    Lòng người ở đây không còn được so sánh với sông sâu như truyền thống ( Sông sâu còn có kẻ dò; Nào ai lấy thước mà đo lòng người) mà thay vào đó là biển khơi thăm thẳm. Hiệu quả của cách diễn đạt vì thế được tăng lên rõ rệt. Ở đây cho thấy biển đảo đã tạo nên một bước chuyển biến mới trong suy nghĩ, tâm thức của các lớp cư dân địa phương và thực tế này có thể xác định qua nhiều đơn vị ca dao tục ngữ.

    Biển đảo cũng đã trở thành hình tượng trong nhiểu câu ca dao tục ngữ để diễn tả tình yêu đôi lứa với nhiều cung bậc và trạng thái khác nhau, tạo thành một nét riêng mới:

    Ta thấy phải là những người dân biển thường xuyên hòa nhịp sống của mình với biển mới có cách diễn tả tình cảm sinh động và cụ thể đến như vậy.

    Để diễn tả sự chung thủy, gắn bó trong tình yêu những câu ca dao miền biển cũng có cách diễn đạt mới mẻ, sinh động:

    Bài ca có hai hình ảnh, hình tượng mới mẻ, đó là những chiếc ghe buôn, mà ở đây là ghe buôn biển và những cơn sóng biển được dùng để chỉ sự nhớ thương. Trong kho tàng ca dao truyền thống có câu:

    – Qua đình ngã nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

    Cấu trúc câu ” Bao nhiêu… bấy nhiêu” vốn phổ biến ở nhiều vùng miền, nhiều đơn vị ca dao, dân ca. Đến Hội An, Quảng Nam và nhiều địa phương có biển cấu trúc này được vận dụng với hình tượng mới là sóng biển, lòng biển để chỉ sự nhớ thương, mức độ sâu đậm của tình yêu đôi lứa. Ta thấy ” đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu“, ” cau bao nhiêu lóng, thương chàng bấy nhiêu“, ” cầu bao nhiêu nhịp, thương nàng bấy nhiêu“, ” Đồng bao nhiêu lúa, thương chồng bấy nhiều “… là những biểu tượng có hạn, có thể xác định. Sóng biển, lòng biển thì vô hạn cả về bề rộng và chiều sâu, lại là hình tượng có tính động thể hiện rõ sự dạt dào, mênh mông của tình yêu đôi lứa.

    Nhìn ý kiến xác đáng khi cho rằng ca dao,tục ngữ là tấm gương phản ảnh chân thực đời sống tình cảm, cách tư duy và thái độ của các cộng đồng dân cư trong những môi trường và điều kiện sống cụ thể. Các đơn vị ca dao, tục ngữ về biển đảo cũng vậy, chúng cho ta thấy rõ diện mạo những người dân biển chân chất, bộc trực, ăn sóng nói gió nhưng rất đổi nghĩa tình, gan dạ, sẵn sàng đương đầu với sóng gió, với hiểm nguy bất trắc để sinh tồn và phát triển. Cũng qua các đơn vị ca dao, tục ngữ này ra thấy biển đảo đã thâm nhập thực sự sâu sắc vào đời sống vật chất và tinh thần hàng ngày của cư dân địa phương tạo thành một truyền thống bền chắc về tương tác và thích ứng với biển đảo gồm nhiều sắc thái phong phú và đa dạng³

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Một Số Câu Ca Dao, Tục Ngữ Thường Được Vận Dụng Trong Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Tổng Hợp Những Câu Danh Ngôn Về Ngành Y
  • Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Lớp 7 Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Hạnh Phúc Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Nói Xấu Người Khác! Dành Cho Những Kẻ Chuyên Đâm Chọt Sau Lưng Bạn!
  • 105+ Stt Mệt Mỏi, Status Cảm Thấy Mệt Mỏi Với Cuộc Sống Hiện Tại
  • Những Câu Danh Ngôn Nổi Tiếng Về Bia Rượu
  • Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Ca dao, tục ngữ về con người? Ca dao, tục ngữ về xã hội? Ca dao, tục ngữ lớp 7?

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7

    Ca dao, tục ngữ là những lời vàng ý ngọc, kết tinh của trí tuệ dân gian qua bao đời nay.Không chỉ là những kinh nghiệm về thiên nhiên hay lao động sản xuất, mà ca dao tục ngữ còn là những kinh nghiệm xã hội, con người quý báu mà ông cha ta đã để lại. Những lời nhận xét, khuyên nhủ ngắn ngọn nhưng chứa đựng trong đó rất nhiều bài học thiết thực và bổ ích cho chúng ta về cách ứng xử trong cuộc sống. Sau đây vforum sẽ gửi đến các bạn Những câuca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    Những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất

    CON NGƯỜI

    1.Một mặt người bằng mười mặt của

    Một mặt người là cách nói hoán dụ dung bộ phận để chỉ toàn thể, có nghĩa tương đương như một người. Của là của cải vật chất. Mười mặt của ý nói đến số của cải rất nhiều. Nghĩa của câu tục ngữ là con người quý hơn tiền bạc, và đề cao giá trị của con người

    2. Cái răng, cái tóc là góc con người

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là Răng và tóc là các phần thể hiện hình thức, tính nết con người, khuyên mọi người hãy giữ gìn hình thức bên ngoài cho ngọn gang, sạch sẽ vì hình thức bên ngoài thể hiện phần nào tính cách bên trong.

    3. Đói cho sạch, rách cho thơm

    Nghĩa của câu tục ngữ là dù khó khăn về vật chất, vẫn phải trong sạch, không làm điều xấu, dù nghèo khó vẫn phải biết giữ gìn nhân cách tốt đẹp. Khuyên răng chúng ta trong đạo làm người, điều cần giữ gìn nhất là phẩm giá trong sạch, không vì nghèo khổ mà bán rẻ lương tâm, đạo đức.

    4. Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Ý nghĩa của câu tục ngữ là cần phải học cách ăn, nói đúng chuẩn mực, cần phải học các hành vi ứng xử văn hoá. Khuyên mỗi người chúng ta cần phải khéo léo, đúng mực trong nói năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bề trên, bạn bè, …

    5. Không thầy đố mày làm nên

    Ý nghĩa của câu tục ngữ này là muốn làm được việc gì cũng cần có người hướng dẫn và nó còn có ý nghĩa là đề cao vị thế của người thầy. Câu tục ngữ này khẳng định công ơn to lớn của người thầy, vì vậy chúng ta phải biết tìm thầy mà học và mãi mãi yêu quý, kính trọng, biết ơn thầy.

    6. Học thầy không tày học bạn

    Câu tục ngữ này nói về tầm quan trọng của việc học bạn. Câu tục ngữ trên nhấn mạnh vai trò của người thầy, kèm theo đó là tâm quan trọng của việc học bạn.

    7. Thương người như thể thương thân

    Câu tục ngữ khuyên con người biết yêu người khác như chính bản thân mình, đề cao cách ứng xử nhân văn, nhắc nhở chúng ta cần phải biết giúp đỡ mọi người trong cuộc sống hàng ngày khi có thể, và nhất là những người gặp khó khăn, hoạn nạn

    8. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Đây là một câu tục ngữ đã quá đổi quen thuộc. Ý nghĩa của nó là khi bạn được hưởng thành quả, phải nhớ ơn người tạo ra thành quả đó, phải biết ơn với người có công lao giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả.

    9.

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Câu tục ngữ có ý nghĩa là việc lớn, việc khó không thể do một người làm được, mà phải cần nhiều người hợp sức, một lần nữa khẳng định sức mạnh của tình đoàn kết. Qua đó nhắc nhở chúng ta về tinh thần tập thể trong lối sống và làm việc tránh lối sống cá nhân.

    10.

    Cá không ăn muối cá ươn,

    Con không nghe cha mẹ trăm đường con hư.

    11. Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau.

    12. Người sống đống vàng.

    13. Người là vàng của là ngãi.

    14. Của đi thay người.

    15. Người làm ra của chứ của không làm ra người.

    16. Lấy của che thân chứ không lấy thân che của.

    17.

    Một yêu tóc bỏ đuôi gà

    Hai yêu răng trắng như ngà dễ thương.

    18. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    19. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    20. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    21. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    22. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    23. Người khôn dồn ra mặt.

    24. Trông mặt mà bắt hình dung.

    25. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    26. Con mắt là mặt đồng cân.

    27. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    28. Lòng người như bể khôn dò.

    29. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    30.To mắt hay nói ngang.

    31. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    32. Người năm bảy đấng, của ba bảy loài.

    33. Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật.

    34. Chết giả mới biết bụng dạ anh em.

    35. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ba mươi tết mới hay.

    36. Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy.

    37. Người khôn dồn ra mặt.

    38 Trông mặt mà bắt hình dung.

    39. Mỏng môi hay hớt, trớt môi nói thừa,

    40. Con mắt là mặt đồng cân.

    41. Bụng bí rợ ăn như bào, làm như khỉ.

    42. Lòng người như bể khôn dò.

    43. Miệng hỏa lò ăn hết cơ nghiệp.

    44. To mắt hay nói ngang.

    45. Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

    XÃ HỘI

    1. Nước đổ lá khoai.

    2. Đèn soi ngọn cỏ.

    3. Chó cắn áo rách.

    4. Giơ cao, đánh sẽ.

    5. Giầu điếc, sang đui.

    6. No nên bụi, đói nên ma.

    7.

    Người giầu tham việc

    Thất nghiệp tham ăn.

    8. Tay làm hàm nhai

    9.

    Của người bồ tát

    Của mình lạt buộc

    10. Xa mỏi chân, gần mỏi miệng.

    11. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi.

    12. Bần cùng sinh đạo tặc.

    13. Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

    14. Phép vua thua lệ làng.

    15. Đất có lề, quê có thói.

    16. Lá lành đùm lá rách.

    17. Uống nước nhớ nguồn.

    18. Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

    19. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.

    20. Khôn ở trại, dại ở nhà

    21. Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu

    22. Lảm khi lành, để dành khi đau

    23. Lửa thử vàng, gian nan thử sức

    24. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén

    25. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    26. Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm

    27. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    28. Vàng thiệt đâu sợ lửa

    29. Thấy sang bắt quàng làm họ

    30. Nhập gia tùy tục

    Trên đây là bài viết về Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ về con người và xã hội lớp 7 hay nhất? Mong rằng bài viết này sẽ giúp ích các bạn biết thêm nhiều câu ca dao, tục ngữ hay trong kho tàng văn học Việt Nam nhé.

    --- Bài cũ hơn ---

  • [Tổng Hợp] Những Câu Nói Hay Của Khổng Tử Có Giá Trị Muôn Đời
  • Những Câu Nói Hay Trong Reply 1997(Lời Hồi Đáp 1997)
  • Stt Anh Yêu Em Vô Cùng Lãng Mạn Và Ngọt Ngào
  • 19 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Ý Nghĩa Nhất Cho Bạn Bè Người Thân
  • Status Dành Cho Những Ai Đi Xa Với Nỗi Nhớ Nhà Khôn Nguôi
  • Ca Dao Thời Đại Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Tục Ngữ, Ca Dao Cao Lan
  • Cuộc Thi “Nét Chữ Từ Trái Tim”: “Em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất
  • Americans Missing In Action In Southeast Asia
  • Chọn Lọc Những Câu Cao Dao Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Hoa Và Mùa Xuân Trong Thi Ca Việt
  •  Vũ Bá Hoan   

    Có lẽ từ ngày lập quốc tới nay, chưa có thời đại nào có nhiều ca dao được truyền tụng trong dân gian để chỉ trích những người cầm quyền và chính sách cai trị đất nước, như thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Kể từ ngày 30-4-1975 , VC xâm chiếm miền Nam tới nay, Sàigòn và Hà Nội có lẽ là nơi xuất phát nhiều ca dao chỉ trích chế độ VC nhất.

    Người dân sống dưới chế độ độc tài đảng trị bị đàn áp và tước đoạt những quyền căn bản của con người như quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và tự do đi laị.  Những  bloggers và thanh niên, thiếu nữ bầy tỏ lòng yêu nước qua việc chống Trung Cộng chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoặc bầy tỏ bất đồng chính kiến một cách ôn hòa về chính sách đảng trị, cũng đều bị Việt Cộng trấn áp dã man bằng cách kết án tù nhiều năm. Để tránh bạo quyền VC áp đặt cảnh tù tội khi công khai chỉ trích chính quyền, người dân đã dùng thể thức ca dao (một loại văn chương bình dân được lưu truyền trong dân gian mà tác giả những câu ca dao ấy không ai biết rõ tên tuổi) làm phương tiện đấu tranh chống lại bạo quyền Việt-Cộng. Người dân sáng tác những câu ca dao thời đại để chỉ trích và phản đối chính sách độc tài đảng trị của Cộng-Sản VN, đồng thời còn là một hình thức để họ xả nỗi uất ức, bất bình trước bạo quyền.

    • Châm biếm và chỉ trích lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam

    Có thể nói trong lịch sử VN, kể từ ngày dựng nước tới nay, chưa có một lãnh tụ nào bị người dân khinh miệt và thù oán như Hồ Chí Minh. Vào những năm đầu chiếm được miền Nam, người dân bị kiểm soát dưới hình thức hộ khẩu, họ thiếu ăn, thiếu mặc; vì thế họ căm tức chế độ VC, nên đã miệt thị HCM, ví ông ta như bộ phận sinh dục của họ, một hình thức sỉ nhục mà giới bình dân khi khinh ghét ai, thường đem ra  nhục mạ :

    Một năm hai thước vải thô,

    Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.

    May áo thì hở lá đa,

    Chị em thiếu vải hoá ra lõa lồ.

    Vội đem cất ảnh bác Hồ,

    Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.

    hoặc :

    Ngày xưa tem phiếu vải thô,

    Em mặc không đủ, Bác Hồ lòi ra.

    Bây giờ tơ nét thả ga,

    Bác Hồ cũng bị lòi ra ào ào.

    Người dân oán hận  HCM đến độ trách cứ cả cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh HCM:

    Trách ai sinh thứ họ Hồ,

    Để cho cả nước như đồ vất đi .

    Đảng Cộng Sản VN luôn luôn thần thánh hóa HCM là người vì dân, vì nước, đã hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình, suốt đời không biết đến đàn bà. Chúng ta hãy nghe người dân vạch trần mặt nạ đạo đức giả của HCM :

    Bác Hồ đại trí, đaị hiền,

    Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong.

    Minh Khai phận gái chữ tòng,

    Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì.

    Câu ca dao sau đây có lẽ được sáng tác và lưu truyền tại miền Bắc trong những năm đầu thập niên 1950, ngay sau khi VN bị chia đôi đất nước, cho ta thấy người dân miền Bắc chế diễu HCM như một ông già nhà quê, khi uống rượu vào thì ăn nói khoác lác :

    Việt Nam có một ông già,

    Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh.

    Ông hay uống rượu một mình,

    Khi buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng.

    Say sưa ông nói lung tung,

    Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu.

    Nghe thấy vậy, người dân miền Bắc liền chỉ mặt ông, khẳng định :

    — Này ông, chuyện ấy còn lâu !!!

    Thế rồi bỗng nhiên vào năm 1969 thì :

    Bác Hồ ta thật vẻ vang,

    Đang từ khỏe mạnh, chuyển sang …. từ trần !

    Sau khi HCM chết, xác được ướp và phô bày tại lăng Ba Đình, Hà Nội. Người dân mỗi khi đi qua lăng, lại hậm hực đổ tội lên đầu bác :

    Vũ trường là chốn ăn chơi,

    Chí  Hòa là chỗ nghỉ ngơi giang hồ,

    Lăng kia là của giặc Hồ,

    Cho nên dân Việt cơ đồ nát tan .

    Sau khi kể tội HCM, người đứng đầu đảng Cộng Sản VN, người dân cũng không quên kể tội đồng đảng là những tên chóp bu tội đồ của dân tộc: Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn và Trường  Chinh, bằng những lời tố cáo sau đây :

    Tên Đồng, tên Duẫn, tên Chinh,

    Vì ba tên ấy, dân mình lầm than,

    Hoặc :

    Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,

    Cả ba đồng lòng giết chết con tao.

    Sau cùng là nỗi căm phẫn đến cực độ của người dân, muốn “làm thịt” cả ba tên  :

    Trường Chinh, Lê Duẫn, Văn Đồng,

    Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào ?

    Vặt lông cả đám cho tao !

    Người đứng đầu quân đội VC là Võ Nguyên Giáp, được HCM phong quân hàm Đại Tướng, khởi đầu chỉ huy 34 vệ quốc quân (sic) khi mới thành lập quân đội nhân dân, cũng bị người dân mỉa mai bằng giọng khinh miệt, chua chát, vì thấy Lê Duẫn hạ nhục Võ Nguyên Giáp mà vì hèn, không dám hé môi :

    Ngày xưa đại tướng anh hùng,

    Ngày nay đại tướng ngập ngừng phân vân.

    Cầm quân, rồi lại cầm quần,

    Đẻ vô kế hoạch, anh Văn mất nhờ.

    Hoặc :

    Ngày xưa đại tướng cầm quân,

    Ngày nay đại tướng canh  l… chị  em.

    Sau khi HCM, Phạm Văn Đồng, Lê Duần, Trường Chinh đã đi theo Lenin, Stalin về  bên kia thế giới, bốn tên VC đàn em lên cầm quyền, đã bị người dân thù ghét, chỉ mặt, gọi tên, và  kêu gọi ai đó hãy ra tay trừ khử chúng để nhân dân VN ăn mừng :

    Đố ai đếm được lá rừng,

    Đố ai giết được Trọng, Hùng, Dũng, Sang.

    Bốn thằng tứ trụ Việt gian,

    Để dân nước Việt hân hoan ăn mừng.

    Người dân Việt tin rằng Nông Đức Mạnh là con rơi của HCM, nên mới có câu ca dao sau đây :

    Thu đi để lại lá vàng,

    Bác đi để lại một thằng họ Nông,

    Thằng này quả thật chơi ngông,

    Bảy mươi lấy vợ má hồng đẹp xinh.

    Đám lãnh đạo VC đàn em Bác cũng học theo gương “đạo đức” của bác khi bác còn sinh thời :

    Ba cô nhập học đầu năm,

    Một cô bị bắt hầu Sầm Đức Xương.

    Mười ba đảng cũng làm luôn,

    Học theo gương bác, chẳng buông em nào.

    Đỗ Mười xuất thân là tên hoạn lợn ( thiến heo), nên người dân VN đã chế nhạo dòng dõi xuất thân của hắn :

    Bất kể hoạn lợn, chăn trâu,

    Hễ cứ vào đảng ở lâu làm trùm .

    Hoặc:

    Giỏi a đồng chí Đỗ Mười,

    Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư .

    Trương Tấn Sang là Chủ Tịch nhà nước CSVN, đã qua Mỹ vào tháng 7/2013 để “xin xỏ, cầu may”, nhưng không được chính quyền Mỹ tiếp đón với nghi lễ dành cho một quốc trưởng, đó là một điều sỉ nhục cho CSVN, người dân bèn chế diễu Sang :

    Tư Sang đi Mỹ cầu may,

    Ai dè thành đám ăn mày vô duyên .

    Ăn nhậu là chuyện của tao,

    Việc gì khó nghĩ, tao giao cho màỵ

    Đi Tầu, đi Nhật đi Tây,

    Mở mang tầm mắt, việc này  của tao.

    Lên rừng, xuống biển lao đao,

    Suy đi tính lại tao giao cho mày.

    Thư ký trẻ đẹp chân dài,

    Nếu mày tuyển được thì mày giao tao.

    Ăn ốc là việc của tao,

    Còn chân đổ vỏ tao giao cho mày.

    Phong bì quà cáp hằng ngày,

    Mày đừng động tới thì mày chẳng sao.

    Phê bình lãnh đạo cấp cao,

    Điều gì khó nói tao giao cho mày.

    Lại đây tao bảo điều này:

    Đừng bao giờ nghĩ rằng mày chống tao,

    Chống tao, tao chẳng làm sao,

    Còn mày thì sẽ lao đao cả đời .

    Đói no là chuyện của trời,

    Thanh tra có hỏi trả lời thay tao.

    Trên trời triệu triệu vì sao,

    Cũng không thấu hiểu tình tao với mày.

    Phân công cho rõ thế này,

    Để mày đừng tưởng rằng …mày hơn tao ..

    • Cuộc sống người dân dưới XHCN.

    Sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được Sàigòn, chúng đổi tên một số đường phố .Đường Công Lý được đổi thành Nam Kỳ  Khởi Nghĩa, và đường Tự Do được đổi thành Đồng Khởi. Nhân cơ hội này, người dân Sàigòn đã làm 2 câu sau đây với hàm ý nói về Tự Do và Công Lý sẽ không có trong chế độ cộng sản VN :

    Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý,

    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do .

    Công lý và tự do nay đã không còn, thì tuổi trẻ VN, nhất là con của các quân nhân chế độ Saigòn cũ, không hy vọng gì sẽ có được cuộc sống tốt đẹp ở tuơng lai :

    Dép râu dẫm nát đời son trẻ ,

    Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai .

    Và người dân thương xót cho thân phận mình vì biết cảnh khổ sẽ đến, khi thấy Việt Cộng tràn vào các thành phố miền Nam ngày 30-4-1975 :

    Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,

    Việt cộng về thành làm tội dân ta .

    Sau khi chiếm được miền Nam, VC đã trả thù quân cán chính VNCH, bằng cách đánh lừa họ, ra thông cáo nói rằng   phải đem theo tiền ăn đi học tập cải tạo trong 30 ngày, nhưng thực sự là  lừa họ , để nhốt họ vào tù mà không cho biết ngày về. Rồi tiếp theo là việc đổi tiền, với mục đích làm dân miền Nam nghèo như dân miền Bắc :

    Năm đồng đổi lấy một xu,

    Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy.

    Đổi tiền là một hình thức ăn cướp của người dân, vì thế nhiều người trở thành nghèo đói, trắng tay, không đủ cơm ăn áo mặc :

    Từ khi ta có bác Hồ,

    Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.

    Nhiều người vì quá nghèo túng, mang đồ đạc, quần áo trong nhà đem bán ngoài chợ trời để kiếm chút tiền mua ít mắm rau qua ngày :

    Việt Nam dân chủ cộng hòa,

    Đồ đạc bán trước, cửa nhà bán sau.

    Ăn cơm chỉ có mắm, rau,

    Chớ ăn thịt cá mà đau dạ dày.

    Mắm và rau muống là thức ăn chính của người dân, nhưng vì lạm phát, tiền mất giá, khiến người dân không đủ tiền để mua nổi một bó rau muống, họ đã “chất vấn” ba tên chóp bu VC.

    Anh Đồng , anh Duẫn, anh Chinh,

    Ba anh có biết dân tình cho không ?

    Rau muống nửa bó một đồng,

    Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

    Và :

    Lương chồng, lương vợ, lương con,

    Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm,

    Lương tâm đem chặt ra hầm,

    Với rau muống luộc khen thầm là ngon.

    Việt Cộng chỉ chuyên giỏi việc chém giết, luôn luôn chủ trương hồng hơn chuyên.  Những chức vụ lãnh đạo đều do những đảng viên không có khả năng chuyên môn nắm giữ,và do đó nền kinh tế trở nên kiệt quệ. Mặc dầu VC đã thống nhất được đất nước và chiến tranh đã chấm dứt, nhưng người dân vẫn không đủ gạo ăn hằng ngày, họ phải ăn bằng bo bo , cho nên họ đã mỉa mai chế độ :

    Hoan hô độc lập tự do,

    Để cho tớ nhá bo bo sái hàm.

    Hoặc :

    Nước nhà mãi mãi khó khăn,

    Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì .

    Trong khi đó thì :

    Đảng béo mà dân thì gầy,

    Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi ?

    Hoặc :

    Nhà nước gồm một bầy sâu,

    Như giòi lúc nhúc ngoảnh râu nó bò.

    Nó ăn nó nhậu thật no,

    Hỏi sao dân đói ? Mặc cho chúng mày.

    Đang thiếu ăn, thiếu mặc, thấy việc VC gửi người sang Nga để lên vũ trụ, một việc  làm không cần thiết trong lúc cả nước đang đói khổ, vì thế có người bực tức hạch hỏi :

    Nhân dân thiếu gạo thiếu mì,

    Mày vào vũ trụ làm gì hở Tuân ?

    Nhưng lại có người thực tế, coi việc lên vũ trụ dửng dưng, không quan trọng bằng việc ghi tên để lo cho cái dạ dày của mình :

    Ai lên vũ trụ thì lên,

    Còn tôi ở lại ghi tên mua mì.

    Viêt Cộng đặt ra chế độ tem phiếu để kiểm soát hộ khẩu người dân, từ cây đinh, điếu thuốc, đều phải ghi danh, xếp hàng mới mua  được :

    Ở với Hồ Chí Minh,

    Cây đinh phải đăng ký,

    Trái bí cũng xếp hàng,

    Khoai lang cần tem phiếu,

    Thuốc điếu phải mua bông,

    Lấy chồng nên cai đẻ,

    Bán lẻ chạy công an,

    Lang thang đi cải tạo,

    Hết gạo ăn bo bo,

    Học trò không có tập,

    Độc Lập với Tự Do,

    nằm co mà  Hạnh Phúc!

    Người  dân sống dưới chế độ VC thiếu đủ thứ, không những vật chất mà cả về quyền tự do căn bản tối thiểu, như quyền tự do đi lại của con người. Đảng Cộng Sản VN đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, kiểm soát việc đi lại của người dân. Ai muốn đi từ địa phương này qua địa phương khác, phải có giấy phép của chính quyền nơi cư ngụ :

    Mang danh Dân chủ Cộng Hòa,

    Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền.

    Xuất trình giấy phép liên miên,

    Chứng từ thị thực ở miền nào qua.

    Sống trong tình trạng bị hạn chế tự do đi lại, người dân cảm thấy gò bó, bực bội, nên họ đã làm bài ca dao sau đây để so sánh việc đi lại ở VN với việc đi lại tự do ở một số quốc gia khác trên thế  giới :

    Trăm năm trong cõi người ta,

    Ở đâu cũng được đi ra đi vào.

    Xa xôi như xứ Bồ Đào,

    Người ta cũng được đi vào đi ra.

    Đen đủi như Ăng Gô La,

    Người ta cũng được đi ra đi vào.

    Chậm tiến như ở nước Lào,

    Người ta cũng được đi vào đi ra.

    Chỉ riêng có ở nước ta,

    Người ta không được đi ra đi vào.

    • Tham nhũng.

    Hiện nay tệ trạng tham nhũng trong các cấp lãnh đạo cộng sản VN lan tràn từ cấp cao nhất xuống tới cấp thấp nhất: lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ. Nhiều đảng viên trở thành những nhà tư bản đỏ, sống trong các biệt thự xa hoa lộng lẫy, tài sản lên tới hàng trăm triệu đô la, ăn chơi vung tiền như nước :

    Nhà ai giầu bằng nhà cán bộ ?

    Hộ nào sang bằng hộ đảng viên ?

    Dân tình thất đảo bát điên,

    Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi .

    Rồi người dân thắc mắc, đặt câu hỏi, nhưng hỏi để mà hỏi, họ đã biết câu trả lời :

    Non kia ai đắp mà cao

    Lương cộng sản ít cớ sao nó giàu ?

    Đảng Cộng sản VN mỵ dân với chiêu bài “nhân dân làm chủ, đảng là đầy tớ”. Nhưng những tên đầy tớ lại sống xa hoa trong nhà cao cửa rộng, trong khi ông chủ phải sống cảnh nghèo nàn, không đủ cơm ăn áo mặc hằng ngày, phải sống trong những căn nhà ổ chuột. Vì thế “ông chủ” mới mỉa mai  gọi  hỏi những tên đầy tớ của mình :

    Ai về qua tỉnh Nam Hà,

    Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.

    Tớ ơi, mày có biết không ?

    Chúng ông làm chủ mà không bằng mày !

    Hiện nay tại VN, mỗi khi người dân đến các cơ quan VC để xin giấy tờ hoặc làm các thủ tục hành chánh, hoặc bất cứ một việc gì cần phải có sự chấp thuận của chính quyền, họ phải biết thủ tục “đầu tiên” là phải có “ phong bì “ nộp kèm với đơn xin. Do dó dân gian mới có ca dao rằng :

    Phong lan, phong chức, phong bì,

    Trong ba thứ ấy, thứ gì quí hơn?

    Phong lan ngắm mãi cũng buồn,

    Phong chức thì phải cúi luồn vào ra,

    Chỉ còn cái phong thứ ba,

    Mở ra thơm phức cả nhà cùng vui.

    Người dân Việt đã chơi chữ đồng âm “Thanh Tra” với “Thanh Cha” trong câu ca dao duới đây, xen lẫn cả tiếng Anh đầy nghệ thuật dí dỏm, để mô tả tệ trạng tham nhũng của những tên VC giữ chức vụ thanh tra.

    Thanh “cha” thanh mẹ, thanh gì ?

    Hễ có phong bì thì nó “thanh kiu” (thank you).

    hoặc :

    Đảng ta là đảng thần tiên,

    Đa lô thì được, đa nguyên thì đừng.

    Xin đọc lái : “thần tiên” là “thân tiền” và “đa lô” thành “đô la”, chúng ta thấy câu ca dao thật độc đáo, sâu sắc : nói lên lòng tham lam của những tên VC trong đảng CS VN.

    Đảng Cộng Sản VN nói một đàng, làm một nẻo. Miệng hô chống tham nhũng, nhưng khi người trẻ chống Tầu và tố cáo tham nhũng, thì bị bắt bỏ tù:

    Tham nhũng kìm hãm ngày mai,

    Phương Uyên chống để tuơng lai nước giầu.

    Tham nhũng gồm cả đảng tao,

    Đứa nào muốn chống thì mau vô tù.

    • Xã hội xuống cấp và tệ trạng xã hội.

    Những tên VC ngồi trong  Bắc Phủ Bộ tại Hà Nội hiện nay, đa số là những kẻ ít học, theo VC vào rừng từ năm 12 hoặc 15 tuổi. Nguyễn Tấn Dũng là trường hợp điển hình: Dũng sinh năm 1949, theo VC vào rừng từ năm 12 tuổi, làm liên lạc viên và trợ y- tá, rồi được kết nạp vào đảng Cộng Sản năm 1967, khi ấy mới 18 tuổi, (theo Wikipedia ), như vậy Dũng chỉ mới học hết bậc tiểu học. Vì trình độ học vấn của những lãnh đạo VC thấp kém, nên việc quản trị đất nước không hữu hiệu, khiến nền kinh tế không phát triển được, và nhân dân trở nên nghèo đói, nhất là ở nông thôn, các thôn nữ không có việc làm, bỏ làng xóm ra tỉnh mong kiếm được việc làm để giúp đỡ gia đình trong lúc đói khổ. Nhiều cô vì ngây thơ và khờ khạo nên bị kẻ bất lương dụ dỗ vào ổ mãi dâm hoặc đem bán làm cô dâu cho các thanh niên nước ngoài.

    Chiều chiều ra bến Ninh Kiều (Cần Thơ)

    Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân.

                       &

    Tiếc thay cây quế còn soan,

    Để cho đám mọi Đài Loan nó trèo .

                       &

    Tìm em như thể tìm chim,

    Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông .

    Tìm chi cho phải mất công,

    Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi .

    Theo truyền thống văn hóa VN, nghề dạy học được kính trọng. Các cụ ngày xưa có câu ”Mùng một tết cha, mùng hai tết chú, mùng ba tết thầy”. Vì thế, trong chế độ VN Cộng Hoà cũ, các giáo chức được kính trọng và được trả lương đủ sống, họ không phải làm thêm công việc khác, mà dành hết thì giờ chú tâm vào việc dậy học để đào tạo mầm non cho đất nước. Ngược lại, VC hất hủi giáo chức và coi thường việc dậy học. Giáo chức trong chế độ VC được trả lương không đủ sống, khiến họ phải đi làm thêm.  Do đó nhiều cảnh  dở khóc, dở cười, đã xẩy ra trong xã hội cộng sản VN:

    Thầy giáo lương lãnh ba đồng,

    Làm sao sống nổi mà không đi thồ ,

    Nhiều thầy phải đạp xích lô ,

    Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh ?

    Và nhục nhã thê thảm cho cô giáo khi :

    Cô giáo phải bán bia ôm,

    Ôm phải học trò, ăn nói sao đây ?

    • Người Việt bỏ nước ra đi .

    Đa số người VN theo đạo Khổng, kể cả những người Công Giáo (điều răn thứ 4 của Chúa: thảo kính cha mẹ ) nên họ coi việc ngày giỗ ông bà, tổ tiên và trông coi mồ mả những người trong gia tộc đã khuất bóng là việc rất quan trọng. Ngày xưa  các cụ có câu : “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (bất hiếu có ba điều; điều không có con trai để nối dõi tông đường, cúng giỗ tổ tiên ông bà là điều bất hiếu lớn nhất ). Sống mạnh với tư tưởng Khổng gíáo như vậy, người dân VN vô cùng  quyến luyến quê cha đất tổ-làng mạc với lũy tre xanh – Họ rất ít khi bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đi phương xa sinh sống- mà người ta gọi là tha phương cầu thực. Trong lịch sử di dân cận đại, VN có hai cuộc di dân lớn nhất—hai cuộc di dân này đều là cuộc chạy trốn Công Sản — cuộc di dân thứ nhất vào năm 1954, hơn 1 triệu người miền Bắc đã phải gạt nước mắt từ bỏ quê cha đất tổ để vào Nam lánh nạn CS,– cuộc di dân thứ hai bắt đầu từ 30/ 4/1975 hàng triệu người, trong đó có cả một số người miền Bắc, đã buộc lòng phải bỏ nước ra đi để tỵ nạn Cộng Sản ở các quốc gia tự do trên thế giới. Trên đường chạy trốn CS, nhiều cảnh tang thương  diễn ra: chồng lìa vợ, con xa  mẹ xa cha, kể sao cho xiết những đau đớn của sinh ly, tử biệt trên đường vượt biên: cướp biển, chết đói, chết chìm ngoài khơi v..v. Người dân đã làm câu ca dao để qui trách tất cả tội lỗi do HCM gây ra :

    Bác Hồ chết phải giờ trùng ,

    Nên bầy con cháu giở khùng giở điên .

    Thằng tỉnh thì đã vượt biên,

    Những đứa ở lại chẳng điên cũng khùng.

    Thưở xa xưa, trong kho tàng ca dao VN, chúng ta có câu ca dao nói về tình tự gia đình nơi thôn quê :

    Có con mà gả chồng gần,

    Có bát canh cần nó cũng mang qua.

    Có con  mà gả chồng xa,

    Một là mất giỗ, hai là mất con.

    Có con mà gả chồng gần ,

    Nửa đêm xe đạp mang phần cho cha.

    Có con mà  gả chồng xa ,

    Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn.

    Bản chất người Cộng Sản là dối trá, lươn lẹo và tráo trở. Những người chạy trốn VC, bỏ nước ra đi bị VC nhục mạ là đĩ điếm, phản quốc, việt  gian, tay sai cho Mỹ v..v.. Dân vượt biên bị bắt được là bị tống vào nhà tù hoặc bị đầy vào trại cải tạo. Thậm chí có người còn  bị công an xử bắn ngay tại nơi bị bắt. Sau này, bắt chước Liên Xô, VC đề ra chính sách đổi mớị, đã trơ trẽn thay hẳn thái độ với những người đã bỏ nước ra đi, khi người Việt ở ngoại quốc gửi đô la về cứu đói thân nhân với số tiền lên tới hàng tỉ đô la mỗi năm, thi` VC ” hồ hỡi ” chiêu dụ người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương, kêu gọi bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam. Đảng Cộng Sản VN còn “thân thương” gọi đồng bào hải ngoại là “khúc ruột ngàn dặm của tổ quốc”. Những câu ca dao sau đây nói về sự tráo trở và lật lọng của đảng Cộng Sản VN:

    Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”

    Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”

    Chưa đi : phản động trăm chiều

    Đi rồi : thành khúc ruột yêu ngàn trùng .

                            &

    Việt Minh, Việt Cộng, Việt Kiều,

    Trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào ?

    Việt Minh thì tuổi đãcao !

    Việt Công ốm yếu, xanh xao gầy còm !

    Việt Kiều thì vẫn còn son,

    Đảng yêu, đảng quý như con trong nhà !

    Chỉ cần một ít đô la,

    Việt gian phản quốc hóa ra Việt kiều !

    • Đảng Cộng Sản VN bán nước

    Hiện nay trong nước có nhiều chỉ dấu cho thấy đảng Cộng sản VN đã dâng một dải đất rộng lớn bao gồm ải Nam Quan và thác Bản Giốc tại biên giới, giáp ranh với Tầu, cùng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho đàn anhTầu Cộng, để đổi lấy sự yểm trợ về mặt chính trị; đó là việc bảo đảm những chiếc ghế lãnh đạo tại Bắc Phủ Bộ. (Theo thiển ý người viết, đảng cộng sản VN phải chiều theo những đòi hỏi của Tầu Cộng để trong trường hợp nhân dân VN nổi dậy chống lại đảng cộng sản VN, thì Tầu Cộng sẽ đưa quân đội sang đàn áp cuộc nổi dậy ngay lập tức, giống như CS Tầu đã dùng quân đội dập tắt cuộc nổi dậy của sinh viên Tầu tại Thiên An Môn vào năm 1989). Thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm dâng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu vào năm 1958, câu ca dao sâu đây nói lên sự kiện lịch sử này :

    Việt nam dân chủ cộng hòa

    Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu .

    Hoặc:

    Phú Trọng diện kiến thiên triều

    Nó bắt Trọng ký bán tiêu nước nhà .

    Vì bị mất một phần đất nước vào tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, người dân VN quá phẫn uất, đã phải thốt lên lời nguyền rủa đảng cộng sản VN :

    Tiên sư cộng sản Việt nam

    Cuối đời bán cả giang san nước nhà !

    Quốc hội Việt cộng là tay sai của đảng Công Sản VN — đảng cử dân bầu :

    Đảng cử là dân không cử, cứ bầu

    Đảng vì dân là đảng cướp của dân

    Đảng yêu dân là dân mất mạng

    Đảng yêu nước, đảng bán nước cho Tầu .

    Và:

    Dân ơi ta bảo dân này

    Dân ra ngoàì ruộng, dân cày mình dân

    Cấy cầy bổn phận con dân

    Quốc hội bận họp bán dần nước non.

    • Nhân dân VN kêu gọi bộ đội yêu nước đứng lên lật đổ đảng Cộng sản VN :

    Trước thảm họa mất nước và nỗi thống khổ của 80 triệu con dân nước Việt sống dưới ách độc tài đảng trị Cộng Sản VN, người dân đã kêu gọi bộ đội và thương binh vì lòng yêu nước, hãy đứng lên lật đổ đảng Cộng Sản VN:

    “Hỡi anh bộ đội, thương binh

    Chắc anh đã thấy dân mình ra sao

    Công lao xương máu năm nào

    Bây gìờ lãnh đạo mang trao cho Tầu

    Nam Quan Bản Giốc còn đâu

    Hoàng Sa biển rộng cúi đầu cống dâng

    Đời anh sống chết bao lần

    Vì lòng yêu nước góp phần dựng xây

    Bây gìờ chính đảng một bầy

    Cướp đêm rồi lại cướp ngày không tha

    Trong tay còn khẩu AK

    Mong anh diệt lũ gian tà lưu manh”

    Sau cùng, người dân đã nhắc nhở các anh bộ đội yêu nước, đồng thời cũng nhắc nhở với chính mình, đừng quên rằng :

    Còn trời còn nước còn non

    Còn thằng cộng sản là còn nát tan

    Và:

    Mấy đời bánh đúc có xương

    Mấy đời cộng sản nó thương dân mình ?

    Đảng CSVN, đứng đầu là HCM, lợi dụng lòng yêu nước của người VN, đã tuyên truyền xảo trá, lừa bịp người dân miền Bắc, phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam Việt Nam, theo chỉ thị của cộng sản Nga -Tầu, từ cuối năm 1960 cho đến ngày 30-4-1975 (sau khi chiếm được miền Nam, Lê Duẫn đã nói:“Chúng ta đánh miền Nam là đánh cho Nga-Tầu” )  Cuộc chiến này đã đưa đến thảm cảnh nồi da xáo thịt giữa anh em hai miền Nam – Bắc,và đã khiến cho đất nước phải chìm đắm ngút ngàn trong bom đạn khói lửa chiến tranh suốt hơn 20 năm , gây ra không biết bao nhiêu cảnh tàn phá tang thương , mà hệ lụy của cuộc chiến tàn khốc này vẫn còn kéo dài cho tới tận ngày nay (chất da cam và thương phế binh là điển hình ). Người ta ước tính số thiệt hại về nhân mạng trong cuộc chiến giữa hai miền Nam – Bắc lên tới khoảng trên 2 triệu, trong đó, không biết bao nhiêu thanh niên ưu tú, nhân tài của đất nước đã phải chết vô tội chỉ vì sự mù quáng và cuồng tín của một cá nhân thèm khát làm lãnh tụ, muốn đem chủ thuyết không tưởng cộng sản áp đặt lên dân tộc VN. Thiệt hại vật chất có thể tái tạo được, nhưng thiệt hại về nhân mạng không thể tái tạo được, đó là một mất mát to lớn cho đất nước. Khi cuộc chiến chấm dứt, VN như một căn nhà hoang phế, tang thương, đổ nát, và dân tộc VN bị thua thiệt, lac hậu so với những nước láng giềng. Ngày nay, trên thực tế, đảng cộng sản VN  trở lại chế độ tư bản mà lúc đầu họ đã cuồng tín cổ võ tiêu diệt. Người dân thường gọi cán bộ CS là những nhà tư bản đỏ, chúng tham nhũng, ăn cắp tiền công quỹ quốc gia, nhiều đảng viên cộng sản có tài sản lên tới hàng trăm triệu mỹ kim, sống xa hoa trên đầu trên cổ người dân đói rách.

    Đảng Cộng Sản VN đã áp dụng nhiều chính sách tàn bạo suốt trong quá trình cai trị đất nước từ 1945 cho tới nay, ( cải cách ruộng đất, đấu tố, trả thù quân cán chính VNCH  v..v.. ) đã gây nên nhiều tội ác chồng chất. Sau khi chiếm được miền Nam vào ngày 30-4-1975, đảng CSVN đã bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng mà có lẽ trong lịch sử VN sẽ không bao giờ có lần thứ hai, đó là việc hòa hợp hòa giải dân tộc. Lẽ ra CSVN phải giữ lời hứa là thả hết các quân nhân, công chức của chính quyền cũ sau khi đã học tập một số ngày như đã ấn định trong thông cáo kêu gọi đi trình diện. Nhưng với bản chất dối trá và lừa lọc, đảng CSVN không bao giờ làm những điều đã hứa hoặc đã ký kết với đối phương. Thay vì thả, đảng cộng sản VN đã quỷ quyệt “chơi chữ” (mang theo tiền ăn trong 30 ngày), để lừa hằng trăm ngàn quân cán chinh VNCH vào nhà tù, được cộng sản mỹ từ hóa là trại học tập cải tạo. Cộng Sản đưa họ đến những nơi rừng thiêng nước độc, sương lam chướng khí, bắt làm lao động khổ sai, đau ốm không thuốc men, với mục đích thâm độc là để cho những tù cải tạo phải chết dần chết mòn , mà CSVN không phải mang tiếng với thế giới là kẻ dã man giết người tập thể .

    Nhân dân hai miền Bắc và Nam đã quá mệt mỏi và chán ghét chiến tranh, mặc dù miền Nam phải chiến đấu tự vệ trước sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt được khối cộng sản quốc tế đắc lực yểm trợ, cũng đều khao khát mong mỏi hòa bình đến với quê hương., để mọi người được sống trong cảnh thanh bình, lo làm ăn để tái thiết đất nước sau 2 cuộc chiến kéo dài trên 20 năm (cuộc chiến chống Pháp từ 1946-1954 và cuộc chiến Quốc-Cộng từ 12/1960 – 4/1975), mà dân tộc nhỏ bé Việt Nam đã là nạn nhân của thực dân Pháp và của việc tranh giành ảnh hưởng ý thức hệ giữa các cường quốc tư bản và cộng sản .

    Cộng sản VN đã có cơ may thắng được cuộc chiến -chứ không hề thắng được trận chiến- do “chó ngáp phải ruồi”, đã thống nhất được đất nước hơn 38 năm qua. Nhưng họ đã không “thống nhất” được lòng  người Việt, vì đảng CS VN đã áp đặt sự thống trị với đường lối độc tài đảng trị, đi ngược lại nguyện vọng của toàn dân VN . Bao lâu đảng CS VN còn tồn tại, thì bấy lâu nhân dân VN vẫn kiên trì chiến đấu chống lại, không phải bằng súng đạn như trước đây được người bạn đồng minh Hoa Kỳ còn “mặn nồng” sống chết bên nhau giúp đỡ, mà bằng hành động (biểu tình, đả đảo v..v..) và văn chương, chữ nghĩa, dưới hình thức những “viên đạn ca dao”, để bắn vào bộ chính trị đảng CS VN cho tới khi chúng tan rã.

    Người viết tin rằng nếu CSVN thực hiện chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc vào sau ngày 30-4 1975, thì sẽ không phát sinh ra cảnh vượt biên, sẽ không có quân cán chính VNCH phải chết tức tưởi trong các trại tù học tập cải tạo, sẽ không có câu nói bất hủ “nếu cột đèn biết đi, nó cũng vượt biên”. Tiếc thay, đảng cộng sản VN đã không thi  hành việc hòa hợp hòa giải vào thời điểm nói trên. Sau khi đã hành hạ dã man và đối xử với những người thuộc chính quyền VNCH trong các trại cải tạo không bằng con vật, ngày  nay đảng cộng sản VN mới kêu gọi hòa hợp, hòa giải dân tộc, thì lời kêu gọi bịp bợm nầy đã quá muộn và không tin cậy được .

    Cuối cùng, ngườì viết mong ước những vị thiết tha với văn hóa dân tộc, sẽ thâu thập đầy đủ các câu ca dao, bài vè, đã lưu truyền trong dân chúng suốt thời gian Việt Nam bị áp đặt dưới ách độc tài đảng trị cộng sản, để xuất bản thành sách tại hải ngoại. Những câu ca dao trong sách ấy sẽ là chứng tích hùng hồn ghi dấu một quãng thời gian đen tối nhất trong trang sử VN .

    Mong lắm thay

    Vũ Bá Hoan

    Hits: 3156

    --- Bài cũ hơn ---

  • Duyên Dáng Nón Lá Việt Nam
  • Chiếc Nón Lá Trong Đời Sống Văn Hóa Của Người Việt
  • Cảm Thức Của Một Nhà Thơ Về Sự Hi Sinh Cho Tổ Quốc
  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Lồng Ghép Ca Dao, Tục Ngữ Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Ở Môn Địa Lí Thcs
  • Đức Tính Giản Dị Của Bác Qua Một Số Bài Thơ
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Về Pháp Luật – Công Lý – Luật Sư
  • Những Địa Danh Sài Gòn (2)
  • Kho Tàng Danh Ngôn Về Sách
  • Danh Sách Những Câu Tục Ngữ Hay Và Ý Nghĩa Trong Tiếng Nhật
  • Tuyển Tập Các Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Nhật
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)

     TRƯỜNG THY

    Trong kho tàng Văn Chương Bình Dân, nói khác đi là Văn Chương Truyền Khẩu gồm nhiều thể loại, song thông thường, dễ nhớ và thường nghe nhắc nhở nhiều, đó chính là Tục Ngữ và Ca Dao.

    Trên bình diện Văn Học và đời sống, Tục ngữ có địa bàn rộng rãi hơn, mang tính phổ cập và được coi như là “Túi khôn của nhân loại”, ví dụ ta nói:

    Cha nào con nấy

    Người Anh, người Mỹ nói:

    Like father like son

    Và người Pháp nói:

    Tel père tel fils

    hoặc:

    Xa mặt cách lòng

    Người Anh/Mỹ nói:

    Out of sight, out of mind

    và người Pháp nói:

    Loin des yeux loin du Coeur v.v.

    Trong khi Ca Dao mang tính địa phương hơn, tùy thuộc vào văn hóa và môi trường, hoàn cảnh sống của mỗi dân tộc v.v.

    Ca Dao có đặc tính chung là bao trùm mọi sinh hoạt gia đình, xã hội, và nếp sống tinh thần cũng như tình cảm con người trong một xã hội.

    Nói đến sinh hoạt gia đình và xã hội là nói đến sự bao gồm cả lễ nghi tôn giáo, hội hè đình đám v.v.

    Tóm lại là Ca Dao phản ảnh mọi tình tự trong: Quan – Hôn – Tang – Tế và ở một khía cạnh nào đó còn được coi là “Lịch sử ngầm”, ví như những câu nói về Huyền Trân công chúa:

    Tiếc thay cây quế giữa rừng

    để cho chú mán chú mường nó leo!

    Nhân dịp Xuân về, người người dù ở trên quê hương hay đang thả bước lưu vong nơi hải ngoại đều nô nức sắm sửa đón

    Xuân, mừng Tết Nguyên Đán vì đó là truyền thống, là văn hóa dân tộc nên không tránh khỏi những giây phút bồi hồi trong tâm hồn vào những chiều cuối năm:

    Mỗi khi nghe nói đến xuân

    bỗng dưng lòng thấy bâng khuâng ít nhiều

    Để nhớ lại những mùa Xuân qua trên quê hương của một thời nước non thanh bình, từ phố phường, thành thị đến đồng quê thôn trang, mọi người tưng bừng mừng Tết, đón xuân, nhà nhà đều vui với: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ” thiết tưởng không gì hơn là cùng nhau ôn lại những áng Ca Dao để gợi lại trong ta những khúc tình quê ngọt ngào, nhiều vương vấn và cũng là để có dịp hun đúc tinh thần trong sứ mệnh duy trì và phát huy văn hóa cổ truyền.

    Mỗi năm mới có một lần, những ngày cuối đông cũng là những ngày cuối năm. Năm hết Tết đến, nhà nhà lo lắng đủ điều, nào là công nợ, việc làm dở dang, nào là lo sửa sang nhà cửa, mua sắm đồ Tết v.v.

    Quanh năm cuộc sống tất bật, Tết đến mừng vui song không tránh được những âu lo về tài chánh, về vật chất nên Ca Dao có câu:

    Tết đến sau lưng

    trẻ con thì mừng

    người lớn thì lo.

    Chính vì phải mua sắm đủ điều cho mấy ngày Tết nên chật vật, thiếu hụt, do đó người đời có câu:

    Đi cày ba vụ không đủ ăn ba ngày Tết!

    Trong tâm tư người dân Việt luôn canh cánh những ưu tư, đã vậy lại còn bị những gánh tuồng, gánh hát kéo đến làm rộn những âu lo:

    Bây giờ tư tết đến nơi

    tiền thì không có sao nguôi tấm lòng

    nghĩ mình vất vả long đong

    xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi

    về nhà công nợ nó đòi

    trong lòng bối rối đứng ngồi không yên.

    Trong một xã hội luôn có kẻ nghèo người giầu song những ngày thường trong năm ít ai để ý, đến cuối năm nhìn vào việc mua sắm mới hay nhà ai khấm khá, nhà ai túng quẫn. Cảnh huống ấy cũng từng được ghi nhận qua mấy câu:

    Có/không mùa Đông mới biết

    Giầu/nghèo ba mươi Tết mới hay.

    Từ ngày xưa, những ngày sống trên đất tổ, Tết là dịp quan trọng, những ai vì hoàn cảnh phải xa nhà, rời bản quán cũng cố gắng thu xếp để gồng gánh, dìu dắt nhau về đón Tết, mừng tuổi ông bà, cha mẹ, họ hàng. Theo tục lệ này hầu như mọi người đều thuộc lòng những câu ca và cứ theo như thế mà làm:

    Mồng Một tết cha

    mồng Ba tết thầy.

    hoặc nói khác đi cho đầy đủ, trọn tình trọn nghĩa hơn, nếu như đã có gia đình riêng thì không thể quên lãng bổn phận:

    Mồng Một thì ở nhà cha

    mồng Hai nhà vợ, mồng Ba nhà thầy.

    Sở dĩ có lệ tết thầy vì người Việt ta luôn có tinh thần “Tôn sư trọng đạo” và đã được giáo huấn từ thuở ban sơ:

    Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    bởi:

    Không thầy đố mày làm nên

    Trong nền tảng giáo dục ấy, cái ĐỨC rất quan trọng. Vào hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20, ở Thăng Long Thành xuất hiện hai nhân vật nổi tiếng về trào phúng, hay trêu chọc thiên hạ, đó là Ba Giai và Tú Xuất. Từ đó như để nhắc nhở, răn đe những kẻ hay ăn gian, nói dối, người ta có câu:

    Hễ ai mà nói dối ai

    Thì mồng Một Tết Ba Giai đến nhà.

    Trong tập trường thi Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng đã không bỏ qua tục lệ Tảo Mộ vào mùa Xuân, những ngày tháng đầu năm:

    Thanh minh trong tiết tháng Ba

    Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.

    Người dân vẫn có lệ Chạp Mả, dọn dẹp cỏ rác cho các ngôi mộ vào tháng Chạp để mời gia tiên về ăn Tết. Lệ này cũng rất quan trọng đối với lòng hiếu của con cháu nên người đời thường nhắc nhớ nhau qua những câu:

    Đi đâu thì mặc đi đâu

    đến ngày giỗ chạp phải mau mà về

    Ảnh hưởng của tục lệ này cũng rất sâu sắc, trong đó có Lễ Bàn Thờ Gia Tiên. Lơ là hay quên lãng là điều bất hiếu vì thế nên có người con gái đã trách vị hôn phu của nàng:

    Chiều Ba Mươi anh không đi Tết

    rạng ngày Mồng Một anh không đi lạy bàn thờ

    hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công!

    Thế rồi người con trai thấy mình có lỗi bèn kiếm cớ biện bạch chạy tội bằng cách nói bận việc làng:

    Hôm Ba Mươi anh mắc lo việc họ

    Sáng Mồng Một anh bận việc làng

    Ông bà bên anh cũng bỏ huống chi bên nàng, nàng ơi.

    Nếp sống của người dân không chỉ gắn bó với đồng ruộng mà còn phần nào theo đuổi thương nghiệp. Trong lãnh vực này, nhất là vào dịp Tết, nếu không nhắc đến chợ phiên quả là điều thiếu sót. Chợ Tết là chợ cuối năm bày bán những món hàng từ hoa trái, trang phục đến đồ chơi, đồ thờ, đồ dùng cho mấy ngày Tết; cũng có thể còn là phiên chợ đầu năm, họp để lấy hên, lấy ngày. Vào thời điểm này, không chỉ là ở khu chợ mà có thể còn là tại một khoảng đất trống nào đó, người ta tổ chức những trò chơi như: đánh đu, đô vật, bịt mắt đập niêu, ném vòng v.v.

    Chợ phiên có những nơi một năm chỉ họp một lần vào ngày nào đó cuối năm, ví như ta vẫn từng nghe:

    Bỏ con bỏ cháu

    Không ai bỏ hai mươi sáu chợ Yên

    Bỏ tổ bỏ tiên

    Không ai bỏ chợ Viềng mồng tám.

    Chợ Yên và chợ Viềng là tên hai chợ ở Nam Định ngày trước, đó là những phiên chợ sầm uất quy tụ rất đông, nam phụ lão ấu, kể cả những vùng lân cận cũng kéo đến mua sắm.

    Tại cố đô Huế, dân đất thần kinh có chợ phiên Gia Lạc gần thôn Vỹ Dạ, hàng năm chỉ nhóm họp trong mấy ngày Tết, thường thì từ 29 tháng Chạp đến mồng ba Tết. Theo truyền thuyết thi do vị hoàng tử thứ tư của vua Gia Long cho họp vào ba ngày đầu năm trên một khoảng trống gần phủ đường, lúc đầu có ý để người trong hoàng tộc tiện tới mua sắm, sau dân làng chung quanh cũng được tham dự nên có câu:

    Gia Lạc chỉ mở ngày xuân

    Quanh năm suốt tháng khó lần tìm ra.

    Tỉnh Vĩnh Yên có chợ Dưng, Dưng là tên của làng Văn Trưng thuộc phủ Vĩnh Tường. Hàng năm nơi đây mở hội Xuân vào mồng sáu tháng Giêng. Trong phiên chợ cũng nhiều trò chơi, đặc biệt có trò chơi “nam nữ bắt chạch trong chum”. Do đó người dân cũng có câu:

    Bỏ con bỏ cháu

    Không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng.

    Rồi nữa, huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa có chợ phiên Cầu Quan, dân ở đây còn gọi là chợ Thượng, họp ngay bên bờ con sông đào. Người ta đi chợ còn được thú vui xem đua thuyền rồng thật vui mắt:

    Cầu Quan vui lắm ai ơi

    Trên thì họp chợ, dưới bơi thuyền rồng.

    Vùng Quan Họ Bắc Ninh cũng khá nhiều chợ phiên nổi tiếng một thời qua những câu hát:

    Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi

    Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hướng Canh

    Những tên gọi Xứ Nam, Xứ Bắc, và Xứ Đoài là có ý chỉ các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, và Sơn Tây.

    Vùng đất Nam Định người ta cũng được nghe những câu ca nói về những thú vui nơi các phiên chợ trong những ngày đầu xuân:

    Mồng Một chơi cửa, chơi nhà

    Mồng Hai chơi xóm Mồng Ba chơi đình

    Mồng Bốn chơi chợ Qủa Linh

    Mồng Năm chợ Trình Mồng Sáu Non Côi

    Qua ngày Mồng Bảy nghỉ ngơi

    Bước sang Mồng Tám đi chơi chợ Viềng

    Chợ Viềng một năm mới có một phiên

    Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

    Theo tục lệ ngày Tết Nguyên Đán người ta trồng cây nêu trước nhà có ý để xua đuổi tà ma không cho xâm nhập nên trong dân gian có câu:

    Thứ nhất nêu cao

    thứ nhì pháo kêu.

    Trong tâm thức người Việt cho rằng cây nêu là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực xua tan những điều xấu xa, và tràng pháo nổ dòn là niềm vui, hạnh phúc và may mắn. Nhà nào có cây nêu cao là giầu sang, quyền quý:

    Cu kêu ba tiếng cu kêu

    Trông mau đến Tết trồng nêu ăn chè

    Những lễ nghi trong ngày Tết ngoài việc cúng gia tiên còn lệ cúng trời cúng đất. Vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày Mồng Mười tháng Giêng là ngày vía đất nên có câu nhắc nhớ người dân:

    Mồng Chín vía trời

    Mồng Mười vía đất

    Sáng ngày đầu năm các viên chức trong làng, xã cùng các vị bô lão tụ họp về đình làng để cầu cùng Thành Hoàng và các thần linh phù trợ cho dân làng qua những câu vừa chúc tụng vừa khấn nguyện:

    Chúc mừng thượng đẳng tối linh

    Phù trì dân xã hiển vinh sang giầu

    trước đình lại có rồng chầu

    có đôi quy phụng tựa mầu non tiên

    giữa đình có đấng bát tiên….

    Trong những ngày xuân vô vàn trò chơi; tuy nhiên, mỗi lớp tuổi thường thiên về những môn chơi thích hợp. Trẻ có trò chơi của trẻ, ví như miền Bắc có trò hát “Xúc xắc, xúc xẻ”. Thường vào đêm giao thừa nhóm trẻ chừng mươi, mười lăm em cầm ống bơ đựng vài đồng tiền kẽm, rủ rê nhau đến từng nhà hát mừng gia chủ năm mới gặp nhiều may mắn, mọi sự hạnh thông:

    Xúc xắc xúc xẻ

    Nhà nào còn đèn còn lửa

    mở cửa cho chúng tôi vào

    bước lên giường cao có đôi rồng ấp

    bước xuống giường thấp có đôi rồng chầu

    bước ra đàng sau có nhà ngói lợp

    ngựa ông còn buộc

    voi ông còn cầm

    ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ

    vợ ông sinh đẻ

    những con tốt lành

    những con như tranh…

    một vài nơi khác lại có tục hát ”Sắc Bùa” theo điệu dân ca của từng địa phương. Cũng có nơi kết hợp múa và hát cũng trong điệu dân gian. Đặc biệt là một vài xã miền biển quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, Phường Sắc Bùa còn đặt ra những câu hát riêng cho mỗi ngành nghề:

    Thánh chúa vạn niên

    Thánh chúa vạn niên

    Chúng tôi nay dâng cách đội đèn

    Thái hòa gặp tiết xuân thiên

    Gió đưa chồi ngọc, hoa chen cành vàng

    Trong nhà ta đèn thắp sáng trưng

    Song le còn muốn chơi trăng ngoài thềm

    để cho trong ấm ngoài êm….

    Cũng trong những ngày hội xuân, thanh niên nam nữ tổ chức hát hò, nào là hát dặm, hát đố/đối, hát quan họ, hát trống quân v.v., những điệu hát và lời ca mang tính trữ tình như nhắn nhe, ngỏ ý, trao duyên v.v.

    Tới đây viếng cảnh thăm hoa

    trước mừng các cố sau là mừng dân

    sau nữa xin mừng cả làng tuần

    mừng cho nam nữ chơi xuân hội này

    một mai đàn có bén giây

    ơn dân vạn bội biết ngày nào quên.

    Và tình tứ hơn ta nghe:

    Mở đầu chàng trai khéo léo ướm hỏi:

    Tiện đây Mận mới hỏi Đào

    vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

    Cô gái đáp:

    Mận hỏi thì Đào xin thưa

    vườn hồng sẵn lối nhưng chưa ai vào

    Sự tình đã rõ: vườn hồng để ngỏ đấy song ai thấy có đủ bản lĩnh thì xin mời bởi cuộc đối đáp cũng còn gay go lắm đấy:

    Chàng khoe chàng lắm văn chương

    Nên đây thiếp mới hỏi rằng:

    Dầu gì không ai thắp

    bắp gì không ai rang

    than gì không ai quạt

    bạc gì chẳng ai mua?

    Anh cả anh hai đó ơi

    Ai bên chàng đáp được thiếp bên này xin theo.

    Gặp dịp như mở cờ trong bụng, chàng trai có chút học thức bèn lên tiếng đối đáp:

    Dầu thoa không ai thắp

    bắp chuối chẳng ai rang

    than thân không ai quạt

    bạc tình chẳng ai mua

    cô cả cô hai đó ơi.

    hoặc như khúc hát đố, thử tài tính toán của nhau cũng rất tình tứ trong lời nhắn nhe. Chàng trai lên tiếng trước:

    Đôi ta thấy toán thì mê

    Em đi đố trước anh về đố sau

    thỏ, gà ăn ở cùng nhau

    đếm chân ba mươi sáu đếm đầu mười ba

    toán đề em giảng cho ra

    thì anh kết nghĩa giao hòa cùng em

    cô gái cũng nhanh nhẹn đáp lại:

    Được rồi em tính anh xem

    Anh giờ đứng tuổi còn em trưởng thành

    hợp đề em thấy rành rành

    thỏ năm gà tám cộng thành mười ba

    nghĩa là mười sáu chân gà

    hai mươi chân thỏ bài ra đúng rồi

    anh còn đố nữa hay thôi

    hay là anh tính thề bồi chi đây.

    Trong dịp Xuân về, Tết đến, người Việt còn có những thú vui tao nhã, đó là thú chơi câu đối, nói đến câu đối đỏ ta thường nghĩ ngay tới bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên:

    Mỗi năm hoa đào nở

    lại thấy ông đồ già

    bày mực tầu giấy đỏ

    bên phố đông người qua

    thế rồi:

    nhưng mỗi năm mỗi vắng

    người thuê viết nay đâu

    giấy đỏ buồn không thắm

    mực đọng trong nghiên sầu.

    Các cụ đồ luôn nghĩ ra những câu đối cho phù hợp với gia cảnh và tình huống của mỗi người, mỗi nhà, và để thêm vào những chuyện vui trong ngày Xuân chỉ xin ghi lại đây một vài giai thoại về câu đối:

    Tết với nhất, nhất với tết, một Tết một bết

    Cậu lớn còn đang suy nghĩ thì em nhỏ đáp ngay:

    Hội cùng hè, hè cùng hội, hai hè hai nhè.

    Và một giai thoại nữa nói lên một tình cờ mà tuổi trẻ đã đáp ứng được yêu cầu của người lớn qua vế đối. Chuyện kể ông Nghè Thanh có đứa cháu nội 7 tuổi, sáng 30 đòi tiền mua pháo, bà nội cho tiền mua nhưng tối đến định đem pháo ra đốt lại sợ nên nài nỉ ông nội đốt hộ. Bà nội thấy vậy bật cười…, đốt pháo xong cậu bé đói bụng chạy vô đòi ăn, bà nội mắng “Đồ mua pháo mượn người đốt”, cậu cháu cãi lại “Ông đốt chứ người nào đâu”. Bà Nghè nói muốn ăn thì phải đối được câu này:

    Mua pháo mượn ông đốt

    Cậu bé nói “Cháu đói quá rồi không đối được – Lấy giò cho cháu ăn”

    Bà nội chưa kịp nghĩ ra bèn nói không đối được thì đừng ăn.

    Ông Nghè nghe vậy bèn cười nói với bà Nghè “Cháu nó đối rồi đó, Lấy giò cho cháu ăn đối với Mua pháo mượn ông đốt thì chỉnh qúa rồi còn gì. Thế là bà nội đành phải chiều cháu.

    Xuân về đón Tết mà có những thú vui như thế thật là hạnh phúc. Tiếc rằng thời ấy đã qua mất rồi. Ngày nay trên quê hương mùa xuân vẫn về,

    www.hocxa.com.

    Trường Thy

    Văn Hóa Việt Nam, số 64 – Mùa Xuân 2014

    Cùng Tác Giả

  • --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Khỉ
  • Giáo Án Đạo Đức
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100