Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Heo
  • Văn Thuyết Minh: Ca Dao
  • Tục Ngữ Ca Dao Và Thơ Nói Về Khỉ:
  • Ca Dao Lịch Sự Và Tế Nhị
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Lòng Biết Ơn Là Gì?
  • Ca dao tục ngữ là kết tinh của trí tuệ, tình cảm và kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình sinh sống, lao động của cha ông ta ngày xưa. Tư tưởng triết lý của ca dao tục ngữ được bao trùm lên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thiên văn học, giáo dục,… Trong khi các doanh nghiệp ngày nay đang mày mò tự tìm ra cho mình những triết lý kinh doanh thì ông bà ta ngày xưa đã biết đúc kết, gom nhặt những kinh nghiệm của mình để vào trong ca dao tục ngữ.

    Làm ăn kinh doanh buôn bán cái gì cũng cần có tổ chức, phường hội liên kết để bảo vệ, giúp đỡ nhau. Đồng thời hạn chế những mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra.

    Ví dụ điển hình nhất chúng ta có thể thấy đó chính là “chợ”. Các tiểu thương trong chợ sẽ tổ chức, liên kết lại với nhau để hỗ trợ nhau buôn bán và bảo vệ quyền lợi tập thể khi có ai đó xâm phạm đến lợi ích của cả chợ.

    Câu ca dao tục ngữ này chỉ ra cho chúng ta thấy việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng trước khi đầu tư kinh doanh một sản phẩm là rất cần thiết. Không thể cứ đi bán một sản phẩm mà khách hàng không cần.

    Mùa đông thời tiết rất lạnh, không ai lại đi mua quạt mà chúng ta lại đi bán quạt. Mùa hè không phải mùa của quả hồng, mà lại lựa chọn đi bán hồng thì chi phí sẽ cao.

    Trong đầu tư kinh doanh, ai cũng muốn mình thu được nguồn lợi tương ứng với số tiền đầu tư mình bỏ ra. Chẳng ai mong muốn chỉ kiếm ít lãi cả.

    Như chúng ta đầu tư 500 triệu vào bất động sản. Một năm sau chúng ta mong rằng lợi nhuận thu về sẽ nhiều, được một nữa, hoặc gấp đôi so với số vốn bỏ ra. Chẳng ai muốn bỏ ra 500 triệu, sau một năm chỉ thu về vài triệu đồng cả.

    Ông bà ta đã chỉ ra rằng, tiền mà chỉ để trong nhà mãi thì nó cũng sẽ không sinh sôi nảy nở. Muốn kiếm thêm được nhiều tiền, để tiền đẻ ra tiền thì phải đầu tư kinh doanh, buôn bán.

    Ngày nay, chúng ta luôn tìm cách đa dạng hóa thu nhập, tìm cách tạo nguồn thu nhập thứ hai bằng việc đầu tư kinh doanh, đầu tư bất động sản hoặc thị trường chứng khoán.

    Nghệ thuật bán hàng đã được ông bà ta cân nhắc từ ngày xưa. Người bán hàng phải biết khéo léo, vui vẻ, hòa nhã và phục vụ tốt để khách hàng cảm thấy hài lòng và sẽ quay trở lại với cửa hàng. Nếu tỏ ra khó chịu, phục vụ không tốt sẽ khiến khách hàng không hài lòng và không muốn mua hàng nữa.

    Ví dụ như hai cửa hàng quần áo ở gần nhau. Một cửa hàng có cô chủ bán hàng rất thân thiện. Khách hàng có thể vào lựa và thử đồ thoải mái, đến khi hài lòng có thể mua. Cô luôn cười và không tỏ ra khó chịu. Thì khi đó, dù không có nhu cầu mua hàng khách hàng có thể vẫn sẽ mua và quay trở lại.

    Nhưng cửa hàng bên cạnh, cô chủ bán hàng mặt rất khó chịu, khách vào thử mà không mua sẽ bị chửi và cô sẽ tỏ thái độ. Điều đó làm khách hàng không hài lòng và dù có nhu cầu cũng không muốn mua nữa.

    Từ xưa cho đến ngày nay, việc buôn bán kinh doanh gian lận luôn bị phê bình và lên án. Việc treo đầu dê bán thịt chó là lừa dối, không trung thực với khách hàng chỉ để kiếm lợi về cho chính mình. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải luôn luôn trung thực, có gì bán đó để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và tạo lòng tin nơi khách hàng.

    Ví dụ như chúng ta mở cửa hàng mỹ phẩm cao cấp chính hãng nhưng lại kinh doanh, buôn bán những sản phẩm kém chất lượng, hàng nhái. Những sản phẩm này được bán ra với mức giá bằng với giá sản phẩm chính nhưng chất lượng lại không tốt. Nó làm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng và làm mất lòng tin nơi khách hàng.

    Từ xưa, ông bà ta đã biết trong kinh doanh luôn cần phải xây dựng mối quan hệ. Mối quan hệ càng rộng thì buôn bán, kinh doanh sẽ thuận lợi hơn.

    Ví dụ như buôn bán mỹ phẩm, chúng ta cần có nhiều mối quan hệ để có thể tìm kiếm được nhiều nhà cung cấp uy tín, chất lượng và giá rẻ. Đồng thời, việc kinh doanh buôn bán cũng giúp chúng ta làm quen với nhiều người hơn, từ đó mở rộng mối quan hệ.

    Ông bà ta đã chỉ ra rằng, nếu kinh doanh buôn bán mà không bán được hàng đó là rủi ro lớn nhất. Vì vậy, nếu khách trả chưa đủ vốn thì hãy nài nỉ, thuyết phục để khách mua hàng. Còn nếu khách trả ngoài vốn thì bán luôn. Linh hoạt, nhanh nhẹn trong kinh doanh cũng là một lợi thế để giúp chúng ta bán được hàng.

    Việc lựa chọn địa điểm kinh doanh còn tùy thuộc vào số vốn mà chúng ta có. “Đông” có nghĩa là biển đông, nơi giao thương kinh tế với các nước bạn. Chỉ khi chúng ta có nhiều vốn mới quyết định đầu tư kinh doanh ở những thị trường rộng mở và phát triển như thế này. “Thái” Có nghĩa là là buôn về miền núi, nơi mà mức sống và thu nhập của người dân còn thấp. Chúng ta có thể dùng số vốn ít để bắt đầu kinh doanh, buôn bán ở đây.

    Phương châm này cho đến ngày nay vẫn được áp dụng. Để mở một cửa hàng làm tóc, nếu chúng ta có vốn lớn sẽ lựa chọn đầu tư mặt bằng ở trong trung tâm, ngoài mặt tiền, gần khu đông dân cư và xây dựng cơ sở hiện đại, đầy đủ. Nhưng ngược lại, nếu chúng ta không có nhiều tiền, địa điểm kinh doanh mà chúng ta lựa chọn có thể là ở vùng ngoại ô, gần chợ, mở một cửa tiệm nhỏ với một số dụng cụ cần thiết để kinh doanh. Do vậy, lựa chọn địa điểm kinh doanh còn tùy thuộc vào số vốn của mình có.

    Việc xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng rất quan trọng. Đó sẽ là những khách hàng trung thành và thường xuyên của chúng ta. Nhờ họ chúng ta có thể có thêm những khách hàng mới, khách hàng tiềm năng khác. Do vậy, việc tạo thiện cảm và xây dựng mối quan hệ với khách hàng luôn là vấn đề mà mỗi người bán hàng, người làm kinh doanh cần quan tâm

    Nguồn: bytuong

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh
  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 3 ❤️️ 1001 Tục Ngữ Ý Nghĩa
  • Đặc Sản Bình Định Gắn Liền Qua Từng Câu Ca Dao Tục Ngữ
  • 30+ Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Bạn Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Con người trong cuộc sống đều có một cuộc sống của riêng họ, một cuộc sống của chính họ khiến họ vui vẻ và hạnh phúc đối với bản thân mình. Có những người hạnh phúc với cuộc sống hiện tại của mình, có những người còn có ước mong về cuộc sống tươi đẹp hơn, họ mong cuộc sống mình không còn khó khăn gian khổ hay đỡ vất vả hơn một chút. Bên cạnh những con người sống sung sướng hạnh phúc thì cũng có những người vật lộn với cuộc sống, với bộn bề gian khổ.

    Một trong những công việc mà những con người gian khổ khó khăn hay những người thành đạt đều làm đó là buôn bán và kinh doanh. Buôn bán kinh doanh là một ngành nghề dành cho tất cả các lứa tuổi, tất cả các thành phần trong xã hội. để nói lên sự khó khăn, nhọc nhằn của ngành ngày, hay những vui buồn tủi nhục của nghề buôn bán kinh doanh thì những câu ca dao tục ngữ trong kho tàn văn học của chúng ta thể hiện rất rõ, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về buôn bán kinh doanh.

    Việc buôn bán kinh doanh hiện nay trong thời buổi cạnh tranh và online hóa chúng ta có rất nhiều cơ hội để làm giầu và kiếm tiền.

    Những câu tục ngữ về buôn bán, kinh doanh:

    Câu 1:

      Mười người đi buôn không bằng một người lộn đất .

    Câu tục ngữ trên đề cao tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của ngành nghề buôn bán kinh doanh. Câu thơ so sánh ngành nghề buôn bán kinh doanh với ngành làm ruộng của người nông dân, câu thơ thể hiện sự khó khăn của ngành nghề kinh doanh. Hình ảnh cuốc đất được đem ra so sánh với ngành nghề buôn bán kinh doanh, muoif người kinh doanh không bằng với một người cuốc đất, sự khó khăn, nhọc nhằn của nghề buôn bán kinh doanh.

    Câu 2:

    • Tiền ra khỏi cửa tiền đẻ ,
    • Tiền ở trong nhà tiền chửa .

    Câu tục ngữ trên nói về sự đầu tư tiền bạc vào ngành nghề buôn bán kinh doanh. Khi chúng ta đem tiền ra khỏi nhà, đầu tư kinh doanh buôn bán thì tiền sẽ đẻ tiền, có nhiều tiền hơn nữa. còn khi chúng ta để tiền trong nhà cất đi thì tiền chỉ giống như mang chửa chứ không đẻ thêm ra được nữa. câu tục ngữ khuyên chúng ta nên có những sáng suốt trong kinh doanh buôn bán.

    Câu 3:

      Mua bán chợ đen , thân quen nhiều ngách .

    Câu tục ngữ trên nêu lên tầm quan trọng của ngành nghề buôn bán kinh doanh, khi mà chúng ta làm ngành nghề kinh doanh buôn bán ở chợ búa thì chúng ta sẽ quen biết nhiều người, có nhiều mối quan hệ và nhiều sự thân quen hơn. Câu tục ngữ đề cao vai trò của ngành nghề buôn bán sẽ tạo nên nhiều mối quan hệ trong xã hội hơn.

    Câu 4:

    Những khó khăn gian khổ của ngành nghề buôn bán mấy ai biết, chỉ có những người trong nghề, họ mới biết được khó khăn gian khổ mà mình phải trải qua. Khi làm ngành nghề buôn bán kinh doanh thì mua phải lạy phải nhẹ nhàng thì người mới bán giá rẻ, giá gốc cho mình. Còn khi bán hàng thì phải dạ vâng, bởi thế người ta mới mua hàng của mình, mình mới bán được hàng.

    Câu 5:

      Đi buôn nhớ phường , đi đường nhớ lối .

    Ngành nghề buôn bán có khó khăn là gian khổ, khổ cực những có những đặc điểm thuận lợi đó là biết được nhiều nơi, nhiều chốn. khi đi buôn thì chúng ta có những kiến thức về phương, đi buôn nhớ phường, khi đi đường sẽ nhớ lối nhờ vào ngành nghề buôn bán kinh doanh, đi đây đi đó.

    Câu 6: Phi thương bất phú

    Đây là câu tục ngữ ý chỉ việc làm giầu bằng con đường kinh doanh là con đường dễ dàng nhất và là con đường nên lựa chọn với mọi người. Nếu bạn không kinh doanh buôn bán thì bạn rất khó giầu có được. Và nó không chỉ đúng với ngày xưa mà rất đúng với thời buổi hiện tại.

    Ngoài những câu tục ngữ nói về buôn bán kinh doanh ở trên, chúng ta còn có những câu tục ngữ về buôn bán kinh doanh như :

    • Buôn có bạn , bán có phường .
    • Buôn chung , bán riêng , lời ăn lỗ chịu .
    • Mua đoạn bán rồi .
    • Quan muốn sang , nhà hàng muốn đắt .
    • Khách nhớ nhà hàng , nhà hàng không nhớ khách .
    • Một trăm người bán , một vạn người mua .
    • Ăn thì cho , buôn thì so .
    • Ăn lãi có chốn , bán vốn có nơi .
    • Bán hàng nói thách , làm khách trả rẻ .
    • Đắt ra quế , ế ra củi .
    • Quen mặt đắt hàng .
    • Rẻ tiền mặt , đắt tiền chịu .
    • Bán chịu mất mối hàng .
    • Nể cô nể gì còn gì là vốn .
    • Khỏi lỗ thì vỗ vế .
    • Cầm mất lãi , chẳng bằng vãi ngay đi .
    • Thà bán đổ còn hơn xách rổ về không .
    • Chẳng được ăn cũng lăn lấy vốn .
    • Thà cho nhau vàng không thà đem đàng đi buôn .
    • Rẻ mua chơi , đắt nghỉ ngơi đồng tiền .
    • Mua thì thêm , chêm thì chặt .
    • Trong nhà có vàng , mua hàng cũng bớt .
    • Phải thì mua , vừa thì bán .
    • Mua lầm bán không lầm .
    • Tiền thật mua của giả .
    • Tiền trả , mạ nhổ .
    • Tiền trao cháo múc .
    • Tiền trao ra , gà bắt lấy .
    • Mua đầy bán vơi .
    • Buôn gian bán lận , buôn mận bán đào .
    • Đi buôn nói ngay bằng đi cày nói dối .
    • Bán mướp đắng giả làm bầu .
    • Bán mạt cưa , giả làm cám .
    • Lắm mồm chị hàng cá , lắm lá chị hàng nem .
    • Hàng thịt nguýt hàng cá , hàng cá đá hàng tôm .
    • Buôn trầu gặp nắng , buôn đường gặp mưa .
    • Mua áo thì rẻ , mua giẻ thì đắt .
    • Ham sáu đồng lãi , mất năm mươi tư đồng tiền vốn .
    • Đi buôn lỗ vốn , làm ruộng mất mùa .
    • Được mùa buôn vải buôn vóc

    Mất mùa buôn thóc buôn gạo .

      Bán gạo tháng tám , mua gạo tháng ba .

    Những câu ca dao về buôn bán kinh doanh:

    Câu 1:

    • Đầu cơ buôn lậu ,
    • Trúng quả lãi to .
    • Rủi ro cụt vốn ,
    • Chạy trốn nhanh chân .

    Câu ca dao nói về ngành nghề kinh doanh, nhưng ngành nghề kinh doanh này sai trái, gian lận với pháp luật đó là buôn lậu. khi buôn lậu thì chúng ta được lãi to khi thuận buồm xuôi gió, những khi có rủi ro thì chúng ta sẽ mất vốn và còn phải chạy trốn với pháp luật. chính vì thế mà chúng ta nên kinh doanh buôn bán những ngành nghề chính đáng, đúng đắn.

    Câu 2:

    • Dò sông , dò biển dò người ,
    • Biết đâu được bụng lái buôn mà dò .

    Câu ca dao nói về những khó khăn của người kinh doanh buôn bán, so sánh sông biển với bụng người lái buồn.. ý câu ca dao rằng sông biển, người thì dễ dò nhưng đối với bụng lái buôn thì không thể dò được, khi buôn bán ai cũng muốn lời muốn lãi thì họ không thể nói đúng gia đúng sự thật nên không thể dò lòng người lái buôn được.

    Câu 3:

    • Lái buôn , lái lợn , lái bò
    • Trong ba anh ấy chớ nghe anh nào .

    Câu ca dao khuyên rằng đừng nên tin vào lời của những người lái buôn, dù lái lợn, lái buôn, lái bò thì không nên tin vào bất cứ ai. Những người buôn bán thường có miệng lưỡi rất dẻo và dễ lay động lòng người. chính vì thế mà chúng ta không nên tin vào lời của những người lái buôn nói chung.

    Câu 4:

    • Giả vờ buôn vịt bán gà ,
    • Buôn đường bán mật , buôn cà bán dưa .

    Câu ca dao nói về sự dối trá trong ngành nghề buôn bán kinh doanh. Khi buôn bán kinh doanh thì muôn người dối trá, khi rao vịt mà bán gà, kho rao đường mà bán mật, kho rao cà mà bán dưa,… ông bà ta thường nói đó là treo đầu dê bán thịt chó. Chính vì thế mà chúng ta cần có tâm trong ngành nghề buôn bán kinh doanh mới có thể phát triển được.

    Ngoài những câu ca dao nói về buôn bán kinh doanh ở trên, chúng ta còn có những câu tục ngữ về buôn bán kinh doanh như :

      Gái này là gái chẳng vừa ,

    Gái buôn vải tấm , gái lừa vải con .

      Gái này là gái chẳng non ,

    Gái lường chợ Quán , gái buôn chợ Cầu .

      Nào ai cấm chợ ngăn sông ,

    Ai cấm chú lái thông đồng con buôn .

      Người trời thì bán chợ trời ,

    Hễ ai biết của biết người thì mua .

      Ruộng gần thì bỏ chẳng cày ,

    Chợ xa nhiều gạo , mấy ngày cũng đi .

      Đắt hàng cùng ả cùng anh ,

    Ế hàng gặp những thông manh quán gà .

      Chưa buôn thì vốn còn dài ,

    Buôn thì vốn đã theo ai mất rồi .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Giao Thương

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Cho Đồng Nghiệp Hay, Ý Nghĩa Nhất 2
  • Những Câu Nói Hay Về Con Gái Thời Nay Được Dân Mạng Chia Sẻ Nhiều Nhất
  • Ngày Của Mẹ Mother’s Day 2022 Ở Việt Nam Là Ngày Nào? Quà Tặng Ý Nghĩa
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì
  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Ý Nghĩa, Sâu Sắc!
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Nslide Những Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tam Quốc
  • Rung Động Trước Những Lời Chúc Ngọt Ngào Của Con Dành Cho Mẹ
  • 99+ Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Được Share Điên Đảo Trên Facebook , Zalo
  • Ca Dao Tục Ngữ Phú Yên
  • Top 24 Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Dành Cho Chồng Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Trăm năm ai chớ bỏ ai,

    Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim. – Khuyết danh

    Sướng gì hơn sướng làm lành,

    Như bao nhiêu của để dành bấy nhiêu. – Khuyết danh

    Ru con con ngủ à ơi,

    Trông cho con lớn nên người khôn ngoan.

    Làm trai gánh vác giang san,

    Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào.

    Ru con con ngủ đi nào,

    Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng.

    Làm trai quyết chí anh hùng,

    Ra tay đánh dẹp, vẫy vùng nước non. – Khuyết danh

    Quân tử ứ hự đã đau,

    Tiểu nhân vác đá đánh đầu như không. – Khuyết danh

    Ở đây gần bạn gần thầy,

    Có công mài sắt có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Nơi nào chí quyết một nơi,

    Làm người nay đổi mai dời sao nên. – Khuyết danh

    No cơm ấm cật, dậm dật khắp nơi,

    Quần áo tả tơi mọi nơi chẳng dật. – Khuyết danh

    Những người phinh phính mặt mo,

    Chân đi chữ bát thì cho chẳng thèm. – Khuyết danh

    Ngựa mạnh chẳng quản đường dài,

    Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng. – Khuyết danh

    Nghĩa nhân như chén nước đầy,

    Bưng đi mà đổ, hốt rày được sao. – Khuyết danh

    Muốn sang thì bắc cầu Kiều,

    Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy. – Khuyết danh

    Muốn may thì phải có kim,

    Muốn hay thì ắt phải tìm người xưa. – Khuyết danh

    Mười năm rèn luyện sách đèn,

    Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy. – Khuyết danh

    Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. – Khuyết danh

    Lạy trời chớ điếc chớ đui,

    Để đôi con mắt xem người thế gian. – Khuyết danh

    Làm ơn ắt sẽ nên ơn,

    Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ. – Khuyết danh

    Khôn ngoan cũng thể đàn bà,

    Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông. – Khuyết danh

    Hơn nhau tấm áo manh quần,

    Cởi ra ai cũng mình trần như ai. – Khuyết danh

    Gió day thì mặc gió day,

    Xin cho cây cứng lá dày thì thôi. – Khuyết danh

    Gà khôn gà chẳng đá lang,

    Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi. – Khuyết danh

    Đừng ham sao tỏ bỏ trăng,

    Môt năm sao tỏ không bằng trăng lên. – Khuyết danh

    Đừng còn ỷ sắc khoe hương,

    Dây chùi trên động cũng có khi vương quết trầu. – Khuyết danh

    Đời người sống mấy gang tay,

    Hỏi đâu kỳ cục cả ngày lẫn đêm. – Khuyết danh

    Đời người sống mấy gang tay,

    Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm. – Khuyết danh

    Đời người sống được mấy may,

    Coi nhau như bát nước đầy là hơn. – Khuyết danh

    Diều hâu quà quạ kên kên,

    Ba giống chim ấy hay thèm thịt thiu. – Khuyết danh

    Đất xấu, trồng cây khẳng khiu,

    Những người thô tục, nói điều phàm phu. – Khuyết danh

    Đất tốt trồng cây rườm rà,

    Những người thanh lịch nói ra quý quyền. – Khuyết danh

    Dao năng liếc thì sắc,

    Người năng chào thì quen. – Khuyết danh

    Đàn bầu mà gẩy tai trâu,

    Đạn đâu bắn sét, gươm đâu chém ruồi. – Khuyết danh

    Cười người chớ vội cười lâu,

    Cười người hôm trước hôm sau người cười. – Khuyết danh

    Con còng dại lắm ai ơi,

    Uổng công xe cát, sóng dồi lại tan. – Khuyết danh

    Con chim ham ăn còn mắc cái tròng,

    Người mà ham của sao khỏi mắc vòng gian nan. – Khuyết danh

    Cóc hèn giữ phận cóc quê,

    Có đâu thẽ thọt toan bề leo thang. – Khuyết danh

    Có mắt thì phải xem đàng,

    Có phải cận thị ngó quàng ngó xiên. – Khuyết danh

    Có đỏ mà chẳng có thơm,

    Như hoa dâm bụt, nên cơm cháo gì? – Khuyết danh

    Có bát sứ, tình phụ bát đàn,

    Nâng niu bát sứ, vỡ tan có ngày. – Khuyết danh

    Chữ rằng họa phúc vô môn,

    Tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm. – Khuyết danh

    Chớ thấy bể rộng mà lo,

    Bể rộng mặc bể, chèo cho có ngần. – Khuyết danh

    Chớ thấy áo rách mà cười,

    Cái giống gà nòi, lông nó lơ thơ. – Khuyết danh

    Chim quyên xuống đất cũng quyên,

    Anh hùng lỡ vận cũng nguyên anh hùng. – Khuyết danh

    Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. – Khuyết danh

    Chim khôn chưa bắt đà bay,

    Người khôn chưa nói dang tay đỡ lời. – Khuyết danh

    Chê tôm ăn cá lù đù,

    Chê thằng bụng bự, thằng gù lại ưng. – Khuyết danh

    Chẳng lo chi đó cười đây,

    Bão rồi mới biết cội cây cứng mềm. – Khuyết danh

    Cha mẹ để của bằng non,

    Không bằng để đức cho con ở đời. – Khuyết danh

    Cây cao chẳng quản gió lung,

    Ðê cao chẳng quản nước sông tràn vào. – Khuyết danh

    Càng thắm thì lại càng phai,

    Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu. – Khuyết danh

    Cầm vàng mà lội qua sông,

    Vàng trôi không tiếc, tiếc công cầm vàng. – Khuyết danh

    Ai ơi chẳng chóng thì chầy,

    Có công mài sắt có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Ai ơi phải nghĩ trước sau,

    Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi.

    Làm thì xem chẳng ra gì,

    Làm tất làm tả nói gì điếc tai.

    Đi ngủ thời hết canh hai,

    Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu.

    Sớm ngày đi cắt cỏ trâu,

    Trưa về lại bảo: ngồi đâu không đầy.

    Hết mẹ rồi lại đến thầy,

    Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi.

    Nói thì nói thật là dai,

    Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Ngắm mình cho tỏ trước sau hãy cười. – Khuyết danh

    Bước lên xe, đầu đội khăn rằn,

    Dáng đi yểu điệu, ngồi gần say mê. – Khuyết danh

    Bậu đừng đỏng đảnh, đòi lãnh với lương,

    Vải bô bậu mặc cho thường thì thôi. – Khuyết danh

    Bạn bè là nghĩa tương tri,

    Sao cho sau trước vẹn bề mới nên. – Khuyết danh

    Áo đơm năm nút con rồng,

    Ở xa con phụng, lại gần con quy. – Khuyết danh

    Áo dài chớ tưởng là sang

    Bởi không áo ngắn, mới mang áo dài. – Khuyết danh

    Áo cũ để vận trong nhà,

    Áo mới để vận đi ra ngoài đường. – Khuyết danh

    Anh hùng gì, anh hùng rơm,

    Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng. – Khuyết danh

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây,

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng. – Khuyết danh

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng. – Khuyết danh

    Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ. – Khuyết danh

    Ăn được ngủ được là tiên,

    Không ăn không ngủ là tiền mất đi. – Khuyết danh

    Ai ơi trẻ mãi ru mà,

    Càng đo đắn lắm, càng già mất duyên. – Khuyết danh

    Ai ơi được ngọc đừng cười,

    Ta đây được ngọc rụng rời chân tay. – Khuyết danh

    Ai ơi đừng phụ mụt măng,

    Mụt măng có nhỏ cũng bằng cây tre. – Khuyết danh

    Ai ơi đừng phụ bát đàn,

    Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày. – Khuyết danh

    Ai ơi đã quyết thì hành,

    Ðã đốn thì vác cả cành lẫn cây. – Khuyết danh

    Ai ơi đã quyết thì hành,

    Ðã đan thì lận, tròn vành mới thôi. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội khoe mình,

    Giang hồ lắm kẻ tài tình hơn ta. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau

    Cười người hôm trước, hôm sau người cười. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Ngẫm mình cho kỹ trước sau hãy cười. – Khuyết danh

    Ai ơi chớ vội cười nhau,

    Cây nào là chẳng có sâu chạm cành. – Khuyết danh

    Ai ơi chẳng chóng thì chầy,

    Có công mài sắt, có ngày nên kim. – Khuyết danh

    Ai mà phụ nghĩa quên công,

    Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm. – Khuyết danh

    Ai đi gánh vác non sông,

    Để ai chứa chất sầu đông vơi đầy. – Khuyết danh

    Nguồn: Từ điển danh ngôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Sự Chăm Chỉ, Siêng Năng, Cần Cù, Cố Gắng, Kiên Trì
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Học Tập, Ham Học Hỏi
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Mẹ
  • Top Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Mẹ, Tình Mẫu Tử Hay Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Mẹ Về Cha!!
  • Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Nói Chân Thành Cảm Ơn Hay Nhất Cho Cuộc Sống
  • Status Buồn Người Ở Lại Và Người Ra Đi, Đến Một Lúc Nào Đó Nỗi Đau Ngày Xưa Sẽ Dịu Lại
  • Cực “thấm” Với Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Bằng Tiếng Anh
  • Sms 8/3, Tin Nhắn Xếp Hình Chúc Mừng 8/3 Độc Đáo Nhất
  • Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

    Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

    Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

    Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

    – Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

    Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    – Sểnh nhà ra thất nghiệp

    Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

    – Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

    – Khỏe một mình làm không được

    Khôn một mình làm không xong

    Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

    Không nặng tiếng trái lời

    Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    – Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

    Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

    – Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

    Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

    – Không ai gặp xấu cả năm

    – Người ta có gặp vận rủi

    Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

    Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

    Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

    Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

    – Đất có thổ công, sông có hà bá

    Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

    Cũng như người Kinh quan niệm :

    Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

    Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

    – Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

    Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

    Làm ác thể nào cũng gặp ác

    Người không đáp thì ma cũng đáp

    Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

    – Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

    Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

    – Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

    Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

    Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

    Người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    – Mật ngọt thì ruồi chết tươi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

    Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

    Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

    Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

    Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

    Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    – Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy

    Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

    Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

    Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

    – Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

    (“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

    Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

    – Lúc khó thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

    – Bần cư thành thị vô nhân vấn

    Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

    (nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

    Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

    – Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

    Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

    Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

    – Người già hãy bảo con cháu

    Để quá thì chúng lớn khó bảo

    Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

    Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

    Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Dạy con từ thưở còn thơ

    Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

    Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

    Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    – Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

    – Cây nhọn không bằng sắt cùn

    Trẻ hiểu biết không bằng già quên

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

    Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

    2. Những chuẩn mực đạo đức

    Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

    Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

    – Đừng chây lười ngại việc

    Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

    Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

    Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

    Bởi vì có lao động mới có cái ăn

    – Muốn để bụng đói hãy nằm im

    Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

    Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

    – Lười biếng bụng trống rỗng

    Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

    Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

    Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

    Trong đó có ít người số may mà được

    Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

    Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

    Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

    Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

    – Nhẫn được thành người khôn

    Chăm được thành người tài

    Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

    Không dưng ai dễ mang phần đến cho

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

    Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

    – Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

    Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

    Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

    – Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

    Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

    Còn người Kinh dặn dò con cháu:

    – Của làm ra là của trong nhà

    Của ông bà là của ngoài sân

    Của phù vân có chân nó chạy

    Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    – Gom của phòng mùa thiếu

    – Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

    Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

    – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

    Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

    – Đừng trộm hái rau quả của vườn người

    Cũng như tục ngữ của người Kinh:

    Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

    Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ

    3. Về kinh nghiệm sản xuất

    Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

    – Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

    Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

    Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

    – Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

    Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

    Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

    Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

    Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

    Tài liệu tham khảo

    1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Chúc Ngủ Ngon Bá Đạo, Hài Hước Giành Cho Bạn Bè, Người Yêu
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Và Ngọt Ngào Nhất
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Trong Các Bộ Phim Về Tình Yêu
  • Những Hình Ảnh Động Chúc Mừng Sinh Nhật Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

    Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

    *Trăm năm tích đức tu hành

    Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

    * Ai đi Yên Tử cùng anh

    Khói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

    * Nào ai quyết chí tu hành

    Hãy về Yên Tử mới đành làm tu.

    *Lần theo dấu tích ngàn xưa

    Bảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

    * Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm

    Ai chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

    *Miếu Đức Ông là nơi Cửa Suốt

    Khách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

    * Bao giờ sấm chớp Chùa Lôi

    Con ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

    * Mồng bảy hội miếu Tiên Công

    Dưới là đánh vật trên rồng phi bay.

    Đêm thì hát đúm vui thay

    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

    *Chùa Quỳnh vui lắm ai ơi

    Trốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

    * Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồng

    Muốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

    Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

    * Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

    * Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu

    Da dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Má hồng để lại, má xanh mang về.

    *Ai đi Uông Bí, Quảng Hồng

    Có đoàn vệ quốc dân công qua đèo

    Ai về cho ta về theo

    Có sông cũng lội , có đèo cũng qua.

    *Sông sâu còn có kẻ dò

    Tội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

    * Đào than cho nó làm giàu

    Xúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

    * ở quê cái khổ bám theo

    Ra mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

    * Đau đẻ cũng phải xúc than

    Đẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

    *Lầm than cực khổ thế này

    Xúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

    *Khi xưa nghe tiếng còi tầm

    Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

    * Thẻ tôi lĩnh có hai đồng

    Ông cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

    *Cây mắm cò quăm

    Cây sú cù queo

    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

    Ăn cơm với cá mòi he

    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

    * Ai ra Cẩm Phả mà xem

    Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì

    Đã làm cái kiếp cu li

    Còn gì là đẹp còn gì là vui.

    * Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

    Ai ơi, đứng lại mà trông

    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

    Việc gì mà rủ nhau ra

    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    * Ai về Yên Dưỡng, Hoành Mô

    Mà xem quân lính cụ Hồ sang sông

    Đêm ngày mải mê chiến công

    Thoáng nom như có cả chồng em kia.

    * Thuyền than mà đậu bến than

    Thương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.

    * Thuyền than đậu bến đen sì

    Anh không ra mỏ lấy gì em ăn.

    Ca dao tục ngữ giao duyên

    * Ai về chợ huyện Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100