Ca Dao, Tục Ngữ Về Khỉ

--- Bài mới hơn ---

  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)
  • Danh Ngôn Về Pháp Luật – Công Lý – Luật Sư
  • Những Địa Danh Sài Gòn (2)
  • Kho Tàng Danh Ngôn Về Sách
  • Danh Sách Những Câu Tục Ngữ Hay Và Ý Nghĩa Trong Tiếng Nhật
  • Khỉ ho cò gáy:

    Ám chỉ nơi hoang dã, vừa vắng vẻ hoang liêu vừa xa xôi hẻo lánh không ai lui tới ra vào. Thường dùng để chỉ những vùng khô cằn sỏi đá, không có đủ điều kiện để con người “cắm dùi” mà sinh sống, hay tạo dựng cơ nghiệp.

    Khinh khỉ mắc độc già:

    (Độc là loài khỉ độc ta lớn thường sống một mình) Tránh né con khỉ vì những “trò khỉ” láu lỉnh lí lắc của nó, nhưng lại gặp thứ khỉ độc hung dữ phá phách hơn. Câu này tương tự như câu “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”, chê bai thứ này lại gặp thứ khác tồi tệ hơn. Ngụ ý khuyên ta trong cuộc sống hằng ngày đừng nên “kén cá chọn canh” quá, mà hãy bằng lòng với những gì ta đang có được, vậy mà yên thân!

    Nhăn nhó như khỉ ăn gừng: (câu tương tự là “mặt nhăn như khỉ ăn ớt”)

    Khỉ mà ăn nhằm phải thứ cay như ớt, như gừng thì mặt nhăn nhó rất khổ sở. Mượn hình ảnh khổ sở của khỉ để ám chỉ người đang đau buồn khổ tâm, cau có khó chịu đối với mọi người xung quanh.

    Nuôi khỉ dòm nhà:

    Khỉ ưa phá phách, ăn vụng ăn trộm, vậy nên nuôi khỉ dòm chừng nhà chẳng khác nào nuôi kẻ xấu kẻ gian, lợi không thấy mà chỉ thấy hại. Ngụ ý khuyên ta thận trọng trong việc dùng người, tương tự như câu “nuôi ong tay áo”.

    Rầu rĩ như khỉ chết con:

    Khỉ là loại vật rất giống với người. Khỉ mà mất con thì ngồi buồn rũ rượi. Bần thần một chỗ trông thảm thương tội nghiệp. Lấy hình ảnh của khỉ buồn rầu khi mất con để ví với tình cảnh rầu rĩ của người vừa bị mất mát một thứ gì đó quý giá đối với mình.

    Rung cây nhát khỉ:

    Khỉ rất sợ người, gặp là chúng tót lên cây cao ngay, cho nên người ta thường rung cây để hù dọa khỉ, nhưng càng rung thì khỉ càng bám chặt vào ngọn cây không sao rơi rớt xuống được. Ngụ ý nói về sự hăm họa hù nhát ai đó nhưng không có tác dụng.

    Vượn lìa cây có ngày vượn rũ

    Anh xa nàng mặt ủ mày chau!

    Vượn là loài sống trên cây, nếu bắt nó phải xa rời cây chắc có ngày nó sẽ chết. Người yêu người cũng vậy, nếu bị bắt buộc phải chìa lìa nhau, mỗi người một ngả, ắt sẽ gây nên cảnh đứt ruột xé gan vì thương vì nhớ. Câu này diễn tả tình yêu của đôi lứa, khi xa nhau thì mặt mày ủ rũ vì nỗi nhớ nhung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Đạo Đức
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dòng Họ Khỉ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lễ Hội Mùa Xuân Qua Mấy Vần Ca Dao
  • 20 Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Em Cần Gấp Trả Lời Trước 12 Giờ Tối Nay Câu Hỏi 104117
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Ông Bà, Tình Cảm Bà Cháu, Ông Cháu
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Pháp Luật Và Kỉ Luật
  • Ngày đăng: 24/09/2015, 10:36

    Ca dao Tục ngữ dòng họ khỉ November 17, 2014 – Chuyên mục: Văn mẫu THCS – Tác giả: Thu Huyền Ca dao Tục ngữ dòng họ khỉ Nhân năm Giáp Thân cầm tinh khỉ, xin gom nhặt số câu ca dao – tục ngữ nước nhà thành “tự điển mi – ni” theo thứ tự ABC để bạn đọc tham khảo nghiền ngẫm: Chuột chù chê khỉ hôi Khỉ lại trả lời: họ mày thơm? Chuột chù vốn hôi, mà dám mở miệng chê hôi khỉ, hỏi “móc” lại câu phải cứng họng. Phàm, mở miệng chê bai ta tự phán xét trước, xem thử có mắc phải điều đáng bị phê phán người bị chê bai hay không. Tốt hết đừng nên chê bai dè bỉu người khác, mà nên góp ý xây dựng với thiện tâm, thiện chí. Hứa hươu hứa vượn: Hươu với vượn loài thú hoang dã nhanh nhẹn thoắt đó, muốn theo dấu vết chúng chuyện khó khăn. Vậy nên “hứa hươu hứa vượn” lời hứa suông, hứa cho qua chuyện không đảm bảo gì, dễ “xù”, dễ bội hứa “chạy làng”! Ca dao – Tục ngữ dòng họ khỉ Khỉ ho cò gáy: Ám nơi hoang dã, vừa vắng vẻ hoang liêu vừa xa xôi hẻo lánh, không lui tới vàơ. Thường dùng để vùng khô sỏi đá, đủ điều kiện để người “cắm dùi” mà sinh sống, hay mưu đồ tạo đựng nghiệp. Khi khỉ mắc độc già: (độc loài khỉ độc to lớn thường sống mình). Tránh né khỉ “trò khỉ” láu lỉnh, lí lắc nó, nhung gặp lại thứ độc phá phách hơn. Câu tương tự câu “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”, chê bai thứ lại gặp thứ khác tồi tệ hơn. Ngụ ý khuyên ta sống ngày đừng nên “kén cá chọn canh” quá, mà lòng với ta có được, mà yên thân! Má ơi, đừng gả xa Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu?! Xưa, “cha mẹ đặt đâu ngồi đó”, nhiều tham của, tham giàu mà gả vào nơi xa xôi cách trở, lên kiệu hoa thi xem biền biệt khó về. Ngụ ý câu nói lên nỗi lòng trắc ẩn người không muốn sống xa cha mẹ lập gia đình riêng, đồng thời, phê phán tượng ép gả, ép cưới bậc cha mẹ, làm cho không tự dinh đoat hôn nhân đai sư mình. Mồ hôi gió đượm / Thiếp thương chồng thiếp phải chạy theo / Con ơi, mẹ dắt lên đèo / Chim kèu bên nọ, vượn trèo bên kia! Mượn cảnh chim kêu, vượn trèo để tả cảnh băng đèo, vượt núi gian nàn trắc trở người vợ chạy theo bóng dáng chồng mình, mà lột tả tình yêu thương mặn nồng người phụ nữ người bạn đời phải xa, lìa xa tổ ấm. Nhăn nhó khỉ ăn gừng: (câu tương tự “Mặt nhăn khỉ ăn ớt”) Khi mà ăn nhằm phải thứ cay ớt, gừng mặt nhăn nhó khổ sở. Mượn hình ảnh khổ sở để ám người đau buồn, khổ tâm, cau có khó chịu người chung quanh. Nuôi khỉ dòm nhà: Khi ưa phá phách, ăn vụng, ăn trộm, nên nuôi khỉ dòm chừng nhà chẳng khác nuôi kẻ xấu, kẻ gian, lợi không thấy mà thấy hại. Ngụ ý khuyên ta thận trọng việc dùng người, tương tự câu “nuôi ong tay áo”. Rầu rĩ khỉ chết con: Khi loài động vật linh trưởng giống với người, không giống có hai tay, mà giống tình cảm. Khi mà ngồi buồn rũ rượi, bần thần chỗ trông thảm thương, tội nghiệp. Lấy hình ảnh khỉ buồn rầu để ví với tình cảm rầu rĩ người vừa bị mát, tiêu hao thứ quý gía mình. Rung cảy nhát khỉ. Khỉ sợ người, gặp chúng tót lên cao ngay, người ta thường rung để hù dọa khỉ, rung khỉ bám chặt vào không rơi rớt xuống được. Ngụ ý hăm dọa, hù nhát không cố tác dụng, không hiệu quả, việc chẳng đến đâu. Vượn hú chim kêu: Cảnh hoang dã buồn thảm nơi thâm sơn cốc. Vượn lìa có ngày vượn rũ / Anh xa nàng mặt ủ mày chau! Vượn loài sống cây, bắt phải xa rời có ngày chết. Người yêu người vậy, bị bắt buộc phải chia lìa nhau, người ngả, gây nên cảnh đứt ruột xé gan thương, nhớ. Câu diễn tả tình yêu đôi lứa, xa mặt mày ủ rũ, lúc chau mày nhăn nhó, khổ sở nỗi nhớ nhung, bất đắc ý. Read more: http://taplamvan.edu.vn/ca-dao-tuc-ngu-ve-dong-ho-khi/#ixzz3mcb0ChyR . Ca dao Tục ngữ về dòng họ khỉ November 17, 2014 – Chuyên mục: Văn mẫu THCS – Tác giả: Thu Huyền Ca dao Tục ngữ về dòng họ khỉ Nhân năm Giáp Thân cầm tinh con khỉ, xin gom nhặt một số câu ca dao. hứa cho qua chuyện không đảm bảo được gì, rất dễ “xù”, dễ bội hứa “chạy làng”! Ca dao – Tục ngữ về dòng họ khỉ Khỉ ho cò gáy: Ám chỉ nơi hoang dã, vừa vắng vẻ hoang liêu vừa xa xôi hẻo lánh,. một số câu ca dao – tục ngữ của nước nhà thành một “tự điển mi – ni” theo thứ tự ABC để bạn đọc tham khảo và nghiền ngẫm: Chuột chù chê khỉ rằng hôi Khỉ lại trả lời: cả họ mày thơm? Chuột chù

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất
  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam
  • Tục Ngữ Ca Dao Và Thơ Nói Về Khỉ:

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Lịch Sự Và Tế Nhị
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Lòng Biết Ơn Là Gì?
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Học Tập, Học Hành Hay Nhất
  • Năm Tý Nghĩ Về Hình Ảnh Con Chuột Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • #1 Quy Luật Chuyển Hóa Sự Thay Đổi Về Lượng Thành Những Sự Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại
  • Tranh của thiền sư Nhật Bản Hakuin Ekaku (. 1686 -1769 ) 1. Khỉ trong tục ngữ, ca dao:

    Chuyền qua chuyền lại rớt ùm xuống sông.

    Hứa hươu hứa vượn: hươu vượn ở núi nhanh nhẹn thấy đó mất đó, nên “hứa hươu hứa vượn” là hứa suông, hứa cho qua chuyện, không có gì ch ắc chắn.

    Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu?: Nỗi lòng cô gái hiếu thảo không muốn cha mẹ gả con xa, đồng thời có ý khuyên chúng ta không nên ép duyên, mà hãy để cho con cái được tự do lựa chọn hôn nhân dựa trên tình yêu.

    Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân.

    Tâm viên ý mã: Tâm ý tán loạn chạy như vượn như mã, không tập trung.

    Vượn sống, ăn, ngủ trên cây, bắt phải lìa cây sẽ chết rũ. Tình yêu cũng vậy, buộc phải lìa nhau “quân tại tương giang đầu, thiếp tại tương giang vĩ” thì sẽ “muôn năm sầu thảm/ Nhớ thương còn một nắm xương thôi/ Thân tàn ma dại đi rồi/ Rầu rầu nước mắt, bời bời ruột gan” (thơ Hàn Mặc Tử).

    Thiền Tông Bản Hạnh: Bảnin năm 1745, ở phần phụ ghi như sau:

    Yên Tử sơn Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả Vịnh Hoa Yên Tự phú. ( có nghĩa là: Phú Vịnh Chùa Hoa Yên của ngài Huyền Quang, tổ thứ ba Trúc Lâm núi Yên Tử).

    Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726): từng trụ trì hai chùa lớn nhất của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử là chùa Quỳnh Lâm và chùa Long Động.

    Thiền Sư Huyền Quang (1254-1334) thi đỗ T rạng Nguyên làm trong Viện Nội Hàn, tiếp sứ Bắc triều… Lúc 51 tuổi treo ấn từ quan theo Vua Trần Nhân Tông đi tu, là tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử . Người ta xem Sư cùng Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và ngang hàng với 6 vị tổ của và 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ. Lê Quý Đôn khen thơ Sư “ý tinh tế, cao siêu, lời bay bướm, phóng khoáng”.Tác phẩm của Sư gồm có:

    Vịnh Hoa Yên Tự Phú: (Phú vịnh Chùa Hoa Yên) ếtheo thể phú gồm 98 vế trong đó có nhắc đến vượn 2 lần, xin trích 3 đoạn như sau:

    Ngự sử mai hai hàng chầu rạp, Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.

    Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng, (cây phỉ thúy)

    Tử vi bày liệt vị công khanh. (bụi tử vi)

    Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng (óc là gọi)

    Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.

    Thi sĩ Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370): từ nhỏ nổi tiếng thần đồng, năm 15 tuổi đỗ hoàng giáp. Đỗ tiến sĩ cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi. Năm 24 tuổi làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Tính cương trực, tài kim văn võ, có công trong việc xây dựng, bảo vệ đất nước, làm quan qua 5 đời vua triều Trần. Ông có 5 tác ph ẩm:

    Trong bài thơ ” Yên Tử sơn Long Động tự” có tả tiếng vượn kêu trăng (viên minh nguyệt) ai oán buồn thảm sau đây:

    Yên Tử sơn Long Động tự

    Nhà sử học nhận xét ” Ông tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược đều am hiểu cả”.

    Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh làm quan . Sau có 10 năm phiêu dạt (1407-1417) trong văn thơ ông có nói nhiều đến “thập niên phiêu chuyển” (mười năm phiêu dạt) lênh đênh góc biển chân trời. Có người đoán ông đã từng sang Tàu trong thời kỳ nàydựa trên một số thơ của ông có nhắc đến nhiều địa danh ở Trung Hoa

    Chụm tự nhiên một thảo am Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi Dầu lòng đi Bắc liễn về Nam

    Thơ văn Nguyễn Trãi gồm lẫn Nôm thuộc các lãnh vực văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi… song đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên . Các tác phẩm còn lại phần lớn được sưu tập trong bộ ỨcTrai Thi Tập của Dương Bá Cung khắc in năm .

    Ngập ngừng bưng chén ly bôi, Tình sum họp chiếu chăn càng mãi mãi Hay là cá nước chẳng ưa màu phấn đại

    Ðem duyên em buộc lại chàng Tô

    Xui nên kẻ Hán người Hồ. Nghĩ mình muôn dặm thương người năm canh.

    Nhớ duyên kỳ ngộ ba sinh,

    Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.

    gồm 105 bài thơ chữ Hán. Quốc Âm Thi Tập gồm 254 bài chữ Nôm. Ông được xem như nhà thơ đầu tiên làm thơ chữ Nôm, cũng là người có số lượng thơ luật chữ Nôm nhiều nhất trong thơ cổ điển VN.

    Đoản trạo hệ tà dương,

    Thông thông yết thượng phương.

    Vân quy Thiền sáp lãnh,

    Hoa lạc giản lưu hương.

    Nhật mộ viên thanh cấp,

    Sơn không trúc ảnh trường.

    Cá trung chân hữu ý,

    Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

    tự Quỳnh Hương, không rõ năm sinh năm mất, là chị em họ với vua Nữ sĩ Ngô Chi Lan: Lê Thánh Tông , một trong những nhà thơ nữ đầu tiên trong văn học sử VN , được Nguyễn Trãi nhận làm con nuôi cải thành họ Nguyễn tên là Hạ Huệ. Năm 1442, cha mẹ nuôi bị vu tội giết vua bị án tử hình, Bà liền cải dạng lấy lại tên thật trốn ở nhiều nơi cho đến khi thái tử Lê Tư Thành lên nối ngôi vua, bà mới dám trở về. Bà nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, giỏi thi ca, thông hiểu , viết chữ đẹp, nên được Vua ban hiệu là Kim Hoa nữ học sĩ cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn, đảm đương việc dạy lễ nghi, văn chương cho các cung nữ.

    “Việt Nam khởi tổ xây nền”.

    Thi hào Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585): Năm 45 tuổi Ông mới chịu đi thi và đỗ Trạng nguyên , làm quan được Trình Tuyền Hầu rồi thăng Trình Quốc Công mà dân gian quen gọi là Trạng Trình.

    Khi Ấu Chúa tin dùng nịnh th ần, triều chính nhiễu nhương chia bè kết phái, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần, nhưng không được chấp thuận, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ (sau 8 năm làm quan) dựng am Bạch Vân, lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm Nghinh Phong… mở trường dạy học cạnh sông Tuyết, được các môn sinh tôn là “Tuyết Giang “, học trò có nhiều người hiển đạt như Phùng Khắc Khoan …

    Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu Nguyễn Bỉnh Khiêm Có một đàn xà đánh lộn nhau

    Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang chất triết lý, suy tưởng, thời thế… gồm chữ Hán: Bạch Vân am thi tập có khoảng 1,000 bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Chữ Nôm: Bạch Vân quốc ngữ thi tập sáng tác từ khi qui ẩn hiện còn lại khoảng 180 bài. Ngoài ra, còn nhiều (bi ký), một số khắc vào đá đã được tìm thấy.

    còn gọi là ” Sấm Trạng Trình ” là những lời tiên tri bằng thơ về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (1509-2019).

    Đình đài ai dựng ở nơi này, Tam Giang khẩu đường dạ bạc Chặt hết cành tùng, trứng hạc bay. Ngọ mộng tỉnh lai vãn,

    Tà nhật yểm song phi.

    Phong kính duy thuyền tảo,

    Sơn cao đắc nguyệt trì.

    Ỷ bồng thiên lý vọng,

    Hợp nhãn cách niên ty (tư).

    Mạc cận thương nhai túc,

    Ðề viên triệt dạ bi. Ðêm đậu thuyền ở Sơn Ðường Ngủ trưa, tỉnh dậy muộn,

    Bóng xế dọi song tây.

    Gió mạnh, neo thuyền sớm,

    Non cao, thấy nguyệt chầy.

    Dựa mui, nghìn dặm ngóng,

    Chớp mắt, một năm đầy.

    Chớ đậu thuyền gần núi,

    Vượn hú đêm buồn lây. Một cung gió thảm mưa sầu,

    Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!

    Ve ngâm vượn hót nào tày,

    Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.Hỏi rằng: “Này khúc ở đâu?

    Hang đá năm nào vừa đục phá,

    Tượng vàng đêm trước mất còn đây?

    Mây ngừng chốn chốn sư yên giấc,

    Chiều xuống non non vượn oán ai?

    Ðốt nén hương đàn tiêu tuệ nghiệp,

    Quay đầu đã cách vạn trùng nhai.

    Ngay trong phần đầu của tập có tựa đề “Trình tiên sinh quốc ngữ”, lần đầu tiên 2 chữ Việt Nam đã được nhắc đến:

    Thành Thăng Long Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Nguyễn Công Trứ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An Anh Giả Điếc Trong thiên hạ có anh giả điếc,

    Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!

    Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”,

    Lối điếc ấy sau này em muốn học.

    Toạ trung đàm tiếu, nhân như mộc

    Dạ lí phan viên nhĩ tự hầu.

    Khi vườn sau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng trầu.

    Khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu;

    Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếc

    Điếc như thế ai không muốn điếc?

    Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!

    Hỏi anh, anh cứ ậm à. Nguyễn Khuyến

    Hồi thủ khả lân ca vũ địa

    Đất Tràng An là cổ đế kinh

    Nước non một dải hữu tình

    Trời Nam Việt trước gây đồ đế kỷ

    Người thôn ổ dấu phong lưu thành thị

    Đất kinh kỳ riêng một áng lâm toàn

    Men sườn non tiếng mục véo von

    In mặt nước buồm ngư lã chã

    Hoa thảo kỷ, kinh xuân đại tạ

    Giang sơn do tiếu cổ hưng vương

    Đồ thiên nhiên riêng một bức tang thương

    Khách du lãm coi chừng thăm hỏi

    Đã mấy độ sao dời vật đổi

    Nào vương cung đế miếu ở đâu nào

    Mỉa mai vượn hót oanh chào!

    Ông còn sử dụng 2 chữ Việt thêm 3 lần nữa trong tập thơ Bạch Vân am thi tập.

    Trong các bản Xin trích 3 đoạn trong bản Sấm ký dịch ra quốc ngữ thì bản của Sở Cuổng là sớm nhất in trong Quốc học tùng thư (Nam Ký xuất bản, Hà Nội, 1930, in tại nhà in Trịnh Văn Bích). Sấm ký này có nhắc đến “Khỉ, Thân, Vượn” như sau:

    Thi hào Nguyễn Du (1766-1820): sinh ra trong gia đình đại quý tộc, năm 10 tuổi mất cha, 13 tuổi mất mẹ, ở cùng anh cả, có lúc làm con nuôi của một vị quan, từmg đi giang hồ 3 năm ở Trung Hoa. Đỗ tam trường năm 19 tuổi, nhưng đời hoạn lộ thăng trầm bởi thời thế đổi thay. Có 10 năm phiêu bạt (1786-1796). Học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… ở thể nào cũng có bài đặc sắc.

    Ngoài 4 tác phẩm bằng chữ Nôm, có 3 tác phẩm bằng chữ Hán trong đó có ” gồm 131 bài viết trong chuyến đi sứ sang Tàu. Trong tập thơ này xin trích 3 bài sau đây có nhắc đến tiếng vượn kêu buồn:

    Tú Xương

    Vọng Quan Âm miếu

    Trong bài Sơn Đường dạ bạc (Đêm đậu thuyền ở Sơn Đư ờng) cónhắc đến tiếng vượn kêu não lòng:

    Nguyễn Nhược Pháp

    Sau cuộc nổi dậy ở Sơn Tây thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị thu đốt, cấm tàng trữ lưu hành, nên đã bị thất lạc nhiều. Hiện còn sót lại 4 thi tập có trên 1,000 bài thơ (có cả văn xuôi) được viết bằng lẫn Hán.Cao Bá Quát nhà nghèo, thông minh, có khí phách anh hùng, dám nói dám làm, khinh kẻ quỳ gối khom lưng. ” đày đi làm Giáo thụ ở Quốc Oai, Sơn Tây xa xôi hẻo lánh ít học trò, Ông viết 2 câu đối dán ngoài nhà học đầy mỉa mai khinh bạt, trong đó có 2 chữđười ươi” như sau :

    Nhà dột một hai gian, một thầy, một cô, một chó cái.

    bài thơ “Thành Thăng Long” ở câu cuối có nhắc đến 2 chữ Thi sĩ Nguyễn Công Trứ (1778-1858): nhà nghèo, có chí, làm quan nhiều lần bị giáng chức. Năm 80 tuổi còn dâng sớ xin cầm quân đánh quân Pháp xâm lược. Thơ văn của ông chỉ còn khoảng 150 bài, nhiều nhất là ca trù và thơ Nôm. Trong vượn hót” như sau:

    gồm khoảng 200 bài bằng chữ Hán và 100 bài bằng với nhiều thể loại khác nhau. Có bài Ông viết bằng rồi tự dịch ra chữ Nôm, hoặc viết bằng chữ Nôm rồi tự dịch sang chữ Hán, cả hai đều điêu luyện.

    Lục Vân Tiên (gồm 2,082 câu thơ ) sau thời gian truyền miệng, năm được khắc in lần đầu, được các nhà văn Pháp dịch ra tiếng nước ngoài.

    Truyện thơ Nôm (gồm 3.456 câu) trong đó phần lớn là thơ lục bát, có xen 33 bài thơ và các thể khác.

    Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca (Ngư tiều y thuật vấn đáp) thơ Nôm (gồm 3,642 câu) phần lớn là thơ lục bát, có xen 21 bài thơ ĐL và một số bài phú…

    Thời gian rạch xé tô bồi cho em. (Bùi Giáng, Xuân ra đi)

    Trong Lục Văn Tiên có 6 câu tả cảnh+tả tình đặc sắc, hình ảnh con vượn được nhắc đến buồn bã giống như tâm trạng của con người trước cảnh chia ly:

    Thi sĩ Tú Xương Nhà thơ trào phúng lấy vợ năm 16 tuổi, đi thi từ lúc 17 tuổi (); cuộc đời 37 năm bần hàn chỉ gắn liền với thi cử: thi 8 lần mới đỗ Tú Tài, và vì không đỗ được Cử Nhân nên ở nhà ăn lương vợ cho đến mất, nhưng thơ ông đã được xếp vào bậc “thần thơ thánh chữ”. Cuốn “Tú Xương tác phẩm giai thoại” xuất bản đã chọn ra 134 bài cho là của Tú Xương, trong đó bài “Than sự thi” nhắc đến khỉvới ý chửi rũa trách móc như sau:

    con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh ; đỗ tú tài, từng viết báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí, mất năm 24 tuổi do bệnh thương hàn. Ông có 2 tác phẩm Ngày xưa (1935), Người học vẽ (1936).

    3. Kết Luận:

    Trong bài thơ “Chùa Hương” của ông có nhắc đến bầy “khỉ” dễ thương hiền lành đang ngồi trong cảnh núi rừng hoang dã khi người đẹp đi qua, xin trích 2 khổ:

    Réo rắt suối đưa quanh,

    Ven bờ, ngọn núi xanh,

    Nhịp cầu xa nho nhỏ:

    Cảnh đẹp gần như tranh.

    Vinh Hồ Orlando 7/10/2000

    Sau khi đậu “cao đẳng tiểu học” được học bổng theo ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì “thần Ái tình hiện đến” khiến ông bỏ học, quay qua viết văn, làm thơ. Sở trường thơ tượng trưng, có nhiều tứ thơ, hình ảnh, ngôn từ lạ lẫm, ma quái, hoặc đài các mê hồn, thường tìm về thuở sơ khai, siêu tưởng…

    Năm tập thơ Mê Hồn Ca ra đời. Năm , ông cộng tác với giữ mục Tao Đàn chuyên về thơ ca cho đến hết đời. Năm , in tập thơ Đường vào tình sử (được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962). Đinh Hùng còn 8 tác phẩm chưa xuất bản.

    Ta mê tiếng vượn sầu muôn kiếp

    Chim núi cầm canh, hoẵng gọi bầy.

    Hay:

    Rồi những đêm sâu, bỗng hiện về

    Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya.

    Trải sông nước vượt qua từng châu thổ

    Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.

    Tiếng vư ợn sầu hoang liêu tê tái trong thơ lục bát: Quạnh hiu cũng chẳng cô đơn,

    Người đi trong bóng linh hồn rừng sâu .

    Mênh mang tiếng vượn gọi sầu,

    Giật mình hoa rụng trắng màu tóc bay .

    Đinh Hùng (trích bài Thủy Mặc I)

    ặng tính triết học, tư tưởng, như 1 nhà hiền triết phiêu bồng giữa thực và mộng. ( Bùi Giáng đã xuất bản trên 50 tác phẩm đủ loại, nổi tiếng với những câu thơ xuất thần đặc biệt là lục bát. Thơ ông n Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa. (Chớp Biển, tr. 132)

    VINH HỒ

    N ăm 1946, Bùi Giáng có 15 năm chăn dê vùng trung du Trung Phước, miền Trung. có bút danh Đười Ươi Thi Sĩ, ca ngợi con người tiền sử có tâm hồn chất phác đơn sơ, mong tìm lại con người nguyên thủy trong cõi trời đất hoang sơ. Hình ảnh “Đười Ươi ” xuất hiện đầy thân ái, trân trọng trong thơ ông:

    Ở lại quê hương trì trọng nhẫn Ra đi khách địa ngậm thay ngùi Cháu con dâu rễ thành đại tập Cảm động đười ươi cũng sụt sùi.

    Thi sĩ/ ngục sĩ với tổng cộng 27 năm tù. Năm 1979, ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh ở Hà Nội trao tập thơ 400 bài do ông ghi lại bằng trí nhớ, làm khi ở trong tù. Năm 1980, tại Washington D.C. xuất hiện 1 tập thơ mang tên “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” không ghi rõ tên tác giả mà chỉ ghi là “khuyết danh”. Ít tuần sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong ra tiếp một ấn bản cùng nội dung với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt .” Năm 1984, Yale Center for International& Area Studies in bản “Flowers from Hell” do Huỳnh Sanh Thông dịch, đây là lần đầu tiêu đề Hoa Địa Ngục (Flowers from Hell) xuất hiện. Sau này người ta mới biết tác giả tên Nguyễn Chí Thiện.Hoa Địa Ngục đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Ðức, Hòa Lan, , , ,… Nguyễn Chí Thiện được nhiều giải thưởng quốc tế. Năm 2001 ông xuất bản tập truyện Hỏa Lò, năm 2008 xuất bản tập truyện Hai Chuyện Tù. Địa vị văn học của ông được ghi nhận trong cuốn “Who’s who in Twentieth-century World Poetry” do Mark Willhard chủ biên ( London& , Routledge, 2000).

    Bài thơ ” ” của ông có nhắc đến hình ảnh con vượn, xin trích 8 câu sau đây:

    Cảm động đười ươi cũng sụt sùi.

    * Bùi Giáng có bút hiệu là Đười Ươi Thi Sĩ.

    Kiến tố, bảo phác, thiểu tư, nhi quả dục. (Trích chương 19 Đạo Đức Kinh).

    Có ghĩa là: Thấy nguyên sơ, giữ mộc mạc, giảm suy nghĩ, bớt dục vọng.

    Tương tự ” Kiến tố, bảo phác” trongĐạo Đức Kinh, Thiền học có “minh tâm kiến tánh” quan niệm đời là vô thường ảo ảnh, khi mây tan biến thì vầng trăng ló dạng, khi tư tưởng buông bỏ thì bản lai diện mục xuất hiện. Bản lai diện mục tức là tự tâm, bản tánh. Khi minh tâm kiến tánh thì sẽ hốt nhiên giác ngộ thành Phật.

    Chữ “Phác” trong Đạo Đức Kinh dùng để ám chỉ Đạo, cái thể thuần phác lúc ban đầu, cái trạng thái bản nguyên của tâm hồn chưa bị luân lí, tập quán, học thuyết, chủ nghĩa… mà ta gọi chung là văn hóa hay văn minh làm sai lạc… Bản tính Phác ở đây cũng đồng nghĩa với tự nhiên. Nhận thức được cái bản tính đơn thuần (Tố), và ôm giữ cái bản tính tự nhiên ấy, đó là mục đích cuối cùng của người học Đạo tu Tiên.

    Phải chăng Bùi Giáng, thi sĩ cô đơn đi giữa ch ợ đời đã bị ảnh hưởng bởi quan điểm “Kiến tố, bảo phác” trong Đạo Đức Kinh?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Thuyết Minh: Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Heo
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam
  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

    Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

    *Trăm năm tích đức tu hành

    Chưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

    * Ai đi Yên Tử cùng anh

    Khói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

    * Nào ai quyết chí tu hành

    Hãy về Yên Tử mới đành làm tu.

    *Lần theo dấu tích ngàn xưa

    Bảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

    * Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm

    Ai chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

    *Miếu Đức Ông là nơi Cửa Suốt

    Khách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

    * Bao giờ sấm chớp Chùa Lôi

    Con ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

    * Mồng bảy hội miếu Tiên Công

    Dưới là đánh vật trên rồng phi bay.

    Đêm thì hát đúm vui thay

    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

    *Chùa Quỳnh vui lắm ai ơi

    Trốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

    * Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồng

    Muốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

    Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

    * Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

    * Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu

    Da dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

    *Chưa đi chưa biết Vàng Danh

    Má hồng để lại, má xanh mang về.

    *Ai đi Uông Bí, Quảng Hồng

    Có đoàn vệ quốc dân công qua đèo

    Ai về cho ta về theo

    Có sông cũng lội , có đèo cũng qua.

    *Sông sâu còn có kẻ dò

    Tội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

    * Đào than cho nó làm giàu

    Xúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

    * ở quê cái khổ bám theo

    Ra mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

    * Đau đẻ cũng phải xúc than

    Đẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

    *Lầm than cực khổ thế này

    Xúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

    *Khi xưa nghe tiếng còi tầm

    Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

    * Thẻ tôi lĩnh có hai đồng

    Ông cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

    *Cây mắm cò quăm

    Cây sú cù queo

    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về

    Ăn cơm với cá mòi he

    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

    * Ai ra Cẩm Phả mà xem

    Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì

    Đã làm cái kiếp cu li

    Còn gì là đẹp còn gì là vui.

    * Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát

    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông

    Ai ơi, đứng lại mà trông

    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già

    Việc gì mà rủ nhau ra

    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    * Ai về Yên Dưỡng, Hoành Mô

    Mà xem quân lính cụ Hồ sang sông

    Đêm ngày mải mê chiến công

    Thoáng nom như có cả chồng em kia.

    * Thuyền than mà đậu bến than

    Thương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.

    * Thuyền than đậu bến đen sì

    Anh không ra mỏ lấy gì em ăn.

    Ca dao tục ngữ giao duyên

    * Ai về chợ huyện Thanh Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Sắc Thái Văn Hóa Quảng Bình Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đặc Sản Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Hình Bóng Con Trâu Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Giá Trị Cuộc Sống
  • Tuyển Tập Những Bài Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Hài Hước Và Bá Đạo Nhất
  • 99+ Câu Nói Hay, Stt Hạnh Phúc Về Tình Yêu, Cuộc Sống (Update)
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ 1001 Stt Buồn Đau Đớn Khiến Bất Cứ Ai Cũng Bật Khóc
  • Tổng Hợp Lời Chúc Sinh Nhật Hay Ý Nghĩa Nhất Tặng Người Yêu Bạn Bè
    1. Hải Phòng có bến Sáu Kho

      Có sông Tam Bạc, có lò Xi măng

    2. Đứng trên đỉnh núi ta thề

      Không giết được giặc, không về Núi Voi

    3. Thuốc lào Vĩnh Bảo

      Chồng hút, vợ say

      Thằng con châm đóm

      Lăn quay ra giường

    4. Dù ai buôn đâu, bán đâu

      Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về

      Dù ai bận rộn trăm nghề

      Mùng chín tháng tám nhớ về chọi trâu

    5. Sấm động biển Đồ sơn

      Vác nồi rang thóc

      Sấm động bên sóc

      đổ thóc ra phơi

    6. Nhất cao là núi U Bò

      Nhất đông chợ Giá, nhất to sông Rừng

      (Thủy Nguyên)

    7. Chín con theo mẹ ròng ròng.

      Còn một con út nẩy lòng bất nhân

      (Địa hình Đồ Sơn ví như một con Rồng đang chầu về viên ngọc là Hòn Dáu. Sách cổ gọi núi Đồ Sơn là Cửu Long – chín rồng với câu ca trên. Con út ở đây là núi Độc, đứng riêng hẳn ra ở đầu bán đảo. Thực ra có tới 15 điểm cao từ 25m đến 129m trong dãy núi này, cao nhất là Đồn cao. Trên đỉnh núi còn những dãy tường thành, dấu vết đồn luỹ của Phạm Đình Trọng, một tướng Chúa Trịnh đi đàn áp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, thế kỷ 18)

    8. Đầu Mè, đuôi Úc

      Giữa khúc Nụ Đăng (Tiên Lãng)

    9. My Sơn bắc ngật văn chương bút

      Triều thủy nam hồi phú quí nguyên

      Dịch nghĩa:

      “Núi My Sơn phía bắc tạo thế văn chương

      Ngọn triều phía nam đem lại nguồn giàu có”

      My Sơn là xã ở Thủy Nguyên.

      — Theo Boxxyno.com

    10. Sâu nhất là sông Bạch Đằng

      Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan

    11. Cá rô đầm Sét

      Nước mắm Vạn Vân

      Cam Đồng Dụ

      Cau Văn Ú

      Vú Đồ Sơn

    (Câu cổ đó)

    Văn học mình thấp kém không tìm được nhiều bài cho lắm nhưng nay cũng mạng phép đóng góp 1 vài bài , có gì xin các anh chị đóng góp ý kiến :

    1) Đống Đa ghi để lại đây

    Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc An

    2) Sâu nhất là sông Bạch Đằng

    Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

    Cao nhất là núi Lam Sơn

    Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra

    3) Vải Quang , hung Láng , ngổ Đầm

    Cá rô Đầm Sét , sâm cầm Hồ Tây

    4) Đồng Đăng có phố Kì Lừa

    Có nàng Tô Thị , có chùa Tam Thanh

    5) Đông Ba Gia Hội hai cầu

    Ngó lên Diệu Đế bớn lầu hai chuông

    6) Ai về đến huyện Đông Anh

    Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương

    7) Rồi mùa toóc(a) rã , rơm khô (a) : rạ

    Bạn về quê bạn biết mô(b) mà tìm (b) : Đâu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Về Tình Bạn Hay Ý Nghĩa Sâu Sắc Mãi Không Bao Giờ Quên
  • Những Lời Chúc Ngày Thầy Thuốc Việt Nam Hay Nhất
  • 23 Lời Chúc Thi Tốt Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Bạn Bè
  • Những Lời Chúc 14/2 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Gửi Đến Người Yêu
  • Tục Ngữ Ca Dao Về Ngày Tết Nguyên Đán
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Đố Dành Cho Trẻ Mầm Non, 300 Câu Đố Hay
  • Kho Tàng Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín
  • Chùm Ca Dao Đặc Sắc Về Hà Nội
  • #1 Những Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Di Tích Lịch Sử Ở Hậu Giang
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Triết Lý Kinh Doanh Và Kinh Tế
  • Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

    Ông ơi ông vớt tôi nao

    Tối có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

    Cái cò đi đón cơn mưa

    Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về?

    Cò về đến gốc cây đề,

    Giương cung anh bắn cò về làm chỉ

    Cò về thăm bác thăm dì,

    Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông.

    Con cò lấp lé bụi tre

    Sao cò lại muốn lăm le vợ người

    Vào đây ta hát đôi lời

    Để cho cò hiểu sự đời , ở ăn

    Sự đời cò lấy làm răn

    Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

    Cái cò bay lả bay la

    Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

    Cái cò bay bổng bay lơ

    Lại đây anh gởi xôi ngô cho nàng.

    Đem về nàng nấu nàng rang,

    Nàng ăn có dẻo thì nàng lấy anh.

    Cái cò cái vạc cái nông

    Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò,

    Không, không! Tôi đứng trên bờ

    Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi

    Chẳng tin ông đứng ông coi

    Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Ba con cùng béo, vặt lông con nào

    Vặt lông con vạc cho tao

    Mắm muối bỏ vào, xào rán rồi thuôn!

    Cái cò cái vạc cái nông

    Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca

    Muối kia đổ ruột con gà

    Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

    Cái cò chết tối hôm qua

    Có hai hạt gạo với ba đồng tiền

    Một đồng mua trống mua kèn

    Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong

    Một đồng mua mớ rau răm

    Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay

    Em về giục mẹ cùng thầy,

    Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong?

    Cổ yếm em thõng thòng thòng,

    Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

    Em khoe em đẹp em giòn,

    Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay ngồi một xó, hay ăn thịt gà

    Ai ra ruộng chú ở nhà

    Nói thì dở giọng ba hao chích chòe!

    Cái cò lặn lội bờ ao

    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?

    Chú tôi hay tửu hay tăm,

    Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa

    Ngày thì ước những ngày mưa!

    Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

    Cái cò lặn lội bờ sông,

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền!

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

    Chàng đi xa vợ xa con

    Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng

    Chân đi nhưng dạ dùng dằng

    Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con!

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non cùng người

    Cái cò lặn lội bờ sông

    Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù

    Bã xa sông rộng sóng to

    Vì lo cái bụng đi mò cái ăn.

    Cái cò là cái cò con

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà

    Mẹ đi lặn lội đồng xa

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn

    Ông kia có cái thuyền buồm

    Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò

    Ông kia chống gậy lò dò

    Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.

    Cái cò là cái cò kỳ

    Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà

    Hàng bánh hàng bún bầy ra

    Củ từ khoai sọ, đến bà cháo kê

    Ăn rồi cắp đít ra về

    Thấy hàng chả chó, lại lê chân vào

    Chả này bà bán ra sao

    Ba đồng một gắp, thì nào tôi mua!

    Nói dối rằng mua cho chồng

    Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn

    Ăn rồi đau quặn đau quăn

    Chạy về cho kịp, nằm lăn cả ngày

    Đem tiền đi bói ông thầy

    Bói ra quẻ này: những chả cùng nem

    Ông thầy nói dối đã quen

    Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ!

    Cái cò là cái cò quăm

    Mày hay đánh vợ mày nằm với ai?

    Có đánh thì đánh sớm mai,

    Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi bán hàng, nhà lại vắng cha

    Vắng cha thì ở với bà

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Cái cò là cái cò vàng

    Mẹ đi đắp đàng con ở với ai

    Con ở với bà, bà không có vú

    Không ở với chú, chú là đàn ông.

    Thôi con chết quách cho xong!

    Con cò là con cò vàng

    Muốn đi hát đúm sợ làng cười chê

    Ai cười lời kẻ thôn quê

    Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan

    Hay cò vui câu xẩm xoan

    Thì cò bay đến hân hoan cùng người.

    Cái cò mà mổ cái tôm

    Cái tôm quắp lại mà ôm cái cò.

    Cái cò mà mổ cái trai,

    Cái trai quắp lại mà nhai cái cò.

    Cái cò trắng bạch như vôi

    Cô kia có lấy chú tôi thì về.

    Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,

    Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh!

    Con cò trắng bệch như vôi

    Đừng nông nổi nữa, đừng lời nguyệt hoa

    Ví dù muốn đẹp đôi ta

    Đừng như cánh bướm quanh hoa đầu mùa

    Đừng vê thuốc, đừng bỏ bùa

    Đừng như chú tiểu ở chùa Thiều Quang

    Đừng thắm nhạt, đừng đa đoan

    Nên duyên thì phượng với loan một lời

    Giăng kia vằng vặc giữa giời

    Giăng ai soi tỏ lòng người nầy cho.

    Con cò trắng tợ như vôi

    Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng!

    Con cò trắng toát như bông

    Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào

    Nghĩ gì, cò đậu cành cao

    Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào nửa e

    Xuống đây cho ta nhắn nhe

    Đừng đứng trên ấy gãy tre của làng.

    Cái trai mày há miệng ra,

    Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày.

    Cái cò mày mổ cái trai,

    Cái trai quặp lại muốn nhai thịt cò.

    Con cò mà mổ con trai

    U ơi, U lấy vợ hai cho thầy.

    Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Bất Công, Không Công Bằng
  • Chùm Thơ Rất Hay Về Hoa Sen Với Những Ý Thơ Và Ngôn Từ Tuyệt Đẹp
  • Nhưng Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Khoan Dung
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Vô Ơn Trong Cuộc Sống Đúng Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100