Top 2 # Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa Sen Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Boxxyno.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất

Chúng ta đều biết hoa là một bộ phận của cây, hoa là một bộ phận sinh sản của cây, là một bộ phận không thể thiếu của cây. Hoa có cấu tạo chủ yếu gồm nhị, nhụy, đài và cánh hoa. Mỗi bộ phận của hoa đều có một chức năng và một đặc trưng khác nhau, nhưng dù thế nào thì chúng cũng có chức năng chung là sinh sản. trên thế giới có rất nhiều loài hoa, để nói lên cẻ đẹp của các loài hoa thì các bài thơ, bài văn,… thể hiện rất đầy đủ.

Mỗi loài hoa đều có những nét đẹp riêng với rất hấp dẫn, ví như hình trên là bông hoa sen tuyệt đẹp vừa mới bung nở

Một trong nhưng cách nói về đặc trưng của loài hoa một cách chân thực và cụ thể là đặc biệt là thú vị đó là ca dao tục ngữ. những câu ca dao tục ngữ thể hiện tính năng, vẻ đẹp, chức năng của hoa một cách thú vị. những loài hoa được những câu ca dao tục ngữ thể hiện nhiều nhất là hoa sen, hoa phượng, hoa mai, hoa đào,…. Chúng ta cùng đi tìm hiểu các câu ca dao tục ngữ về hoa, hoa sen, hoa phượng, hoa mai, hoa đào, hoa hồng để hiểu rõ hơn về các loài hoa này.

Ca dao tục ngữ về hoa sen

Hoa sen là một loài hoa đẹp, một loài hoa tượng trưng cho sự trong trắng, tinh khiết của người con gái. Đối với dân tộc Việt Nam thì hoa sen được chọn là quốc hoa của nước ta. Bởi vẻ đẹp và ý nghĩa của loài hoa này mà hoa được chọn làm quốc hoa, chúng ta cùng đi tìm hiểu về loài hoa để hiểu rõ hơn qua các câu ca dao tục ngữ về hoa sen.

· Câu 1:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng

Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Đây là bài ca dao mà mọi người dân Việt Nam đều biết, bài ca dao nói về loài hoa sen, một loài hoa tượng trưng cho sự trong trắng, sự tinh khiết. qua sự miêu tả vẻ đẹp của loài hoa sen xinh đẹp thì tác giả đã nói lên được vẻ đẹp con người, một con người kiên trung, không bị những điều xấu làm mờ mắt.

Câu 2:

Thân chị như cánh hoa sen,

Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào.

Lạy trời cho cả mưa rào,

Cho sấm, cho chớp, cho bão to gió lớn,

Cho sen chìm xuống, bèo trèo lên trên!

Bài ca dao trên nói về vẻ đẹp của loài hoa sen, một loài hoa vô cùng tinh khiết vưà đẹp, nét đẹp tinh khiết. Mượn hình ảnh hoa sen để nói lên hình ảnh thân phận của người phụ nữ, những người phụ nữ tần tảo, hi sinh, chịu bao đắng cay, tủi nhục trong cuộc sống.

Câu 3:

Hoa sen mọc bãi cát lầm

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

Thài lài mọc cạnh bờ sông

Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài

Bài ca dao trên nói về vẻ đẹp tinh khiết và sự quý trọng, sự cao quý của hoa sen. Bởi vẻ đẹp và ý nghĩa mà hoa sen mang lại mà hoa sen trở nên một loài hoa quốc hoa của Việt Nam và một loài hoa xinh đẹp của dân tộc ta. Đây là một loài hoa đáng được quý trọng và nâng niu.

· Hoa sen nở đẹp trong đầm

Mùi hương tinh khiết âm thầm tỏa bay

Yêu thương vun bón tháng ngày

Nay hoa hé nhụy lòng đầy nao nao

Xin cho sen sắc ngọt ngào

Ơn đời mưa nắng dạt dào tinh khôi

Tiếng cười luôn thắm trên môi

Dáng thanh tâm tịnh, đứng ngồi thoảng hương

Sen ơi giữ lấy tram đường

Gần buồn nhưng chẳng thấm vương mùi buồn

Nghĩa ân ghi nhớ bồi vun

Giàu sang không chuộng, khốn cùng chẳng khinh

Vào đời mang lấy chữ trinh

Tình người, tình nước, tình mình, tình ta

Trái tim yêu mãi thiết tha

Như ca dao mẹ, ngân nga tháng ngày

Yêu không oán hận tình vầy tim đau

Thủy chung giữ vẹn sắc màu

Đẹp tươi sen nở, ngẩn đầu ngạo nhân

· Bao giờ sen mọc biển đông Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi

Nhân tài như thể bách hoa

Hoa sen thơm ngát hoa trà đẹp tươi

Cái khăn đội đầu như thể hoa sen

Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng giăng.

Hoa sen sao khéo giữ màu,

Nắng nồng không nhạt, mưa dầu không phai.

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

· Xuống đồng ngắt lá rau xanh,

Thấy chim loan phượng đỗ cành sen dâu. Người ơi trở lại xơi trầu, Tham nơi phú quý bỏ nhau sao đành.

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen. Thài lài mọc ở ven sông, Tuy rằng giống tốt vẫn tông thài lài.

Đôi mắt em liếc như là dao cau. Miệng cười như thể hoa ngâu, Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.

Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình. Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay

Bấy lâu còn lạ chưa quen,

Hỏi hồ đã có hoa sen chưa hồ? Hồ còn leo lẻo nước trong, Bấy lâu chỉ dốc một lòng đợi sen!

Thân chị như cánh hoa sen,

Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào Lạy trời cho cả mưa rào, Cho sấm cho chớp, cho bão to gió lớn, Cho sen chìm xuống, bèo trèo lên trên!

Sen xa hồ sen khô hồ cạn,

Lựu xa đào lựu ngả lựu nghiêng. Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền, Chỉ phiền một nỗi tơ duyên không tròn.

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà? Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâụ áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. Khâu rồi anh sẽ trả công Đến lúc có chồng anh lại giúp chọ Giúp em một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm. Giúp cho đôi chiếu em nằm Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeọ Giúp em quan tám tiền cheo Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau

Lá xanh thăm thẳm lòng Bi

Dũng cành vươn thẳng, thoát ly bùn sình

Nâng nụ sắc Trí kết tinh

Nở thành hoa thắm lung linh giữa đời

Chờ khi nước lụt, Bèo trèo lên Sen.

Trên đời gì tốt bằng Sen,

Quan yêu dân chuộng, rã bèn cũng hư.

Búp hoa sen lai láng giữa hồ,

Giơ tay muốn bẻ sợ trong chùa có sư

Có sư thì mặc có sư,

Giơ tay anh bẻ có hư anh đền

Ca dao tục ngữ về hoa phượng

Hoa phượng là một loài hoa rất quen thuộc với thế hệ học sinh, mỗi mùa hè tới, những tiếng ve bắt đầu kêu thì hoa phượng lại nở. hoa phượng là một loài hoa tương trưng cho mùa hè, cho lứa tuổi học trò. Chúng ta cùng đi tìm hiểu loài hoa phượng qua những câu ca dao tục ngữ về hoa phượng.

Ca dao tục ngữ về hoa mai

Hoa mai là một loài hoa có 5 cánh và màu vàng, mỗi mùa xuân sang tết đến thì hoa mai lại nở và tỏa sắc khoa thắm. hoa mai là một trong hai loài hoa tượng trưng cho tết của nước ta, hoa mai thường được trưng trong tết của người miền Trung và người miền Nam.

Câu 1:

Ước gì em hóa ra tranh

Anh hóa ra bút vẽ cành hoa mai

Hoa mai là một loài hoa màu vàng, có vẻ đẹp tinh tế và tinh khiết, được nhìn thấy vào mùa tết. Câu trên nói về hoa mai, mượn hình ảnh của hoa mai để nói lên tình cảm của người con rai đối với người con gái, một tính yêu đẹp và tình yêu chân thành.

Câu 2:

Trúc xa mai thì hoài lứa trúc

Anh hỏi mai rằng đã có nơi mô nương tựa hay chưa

Có nơi mô nương tựa khi nắng khi mưa

Hay còn ôm duyên đi sớm về trưa một mình?

Bài ca dao trên nói lên vẻ đẹp của hoa mai, qua vẻ đẹp và ý nghĩa của hoa mai tác giả đã mượn hình ảnh ấy để nói lên tình cảm của mình. Đây là một lời tỏ tình của chân thành của một chàng trai dành cho một cô gái, một tình cảm chân thành và đong đầy yêu thương.

Câu 3:

Chim vàng đậu nhánh mai vàng

Vào vòng hoa nguyệt, không thương chàng còn thương ai

Đây cũng là câu ca dao nói về tình cảm nam nữ chân thành và đầy yêu thương. Đây là tình cảm của một cô gái dành cho chàng trai mà mình yêu thương. Vẻ đẹp của nhành mai nói lên được vẻ đẹp của tình yêu chân thành, tình cảm cao quý.

Cho đáng kiếp chàng, phụ rẫy tình xưa

Nắng lên cho héo ngọn dừa

Đánh chết chẳng chừa cái thói đổi thay

Nắng lên cho héo nhánh mai

Tui rủa tối ngày kẻ chẳng thủy chung

Thấy mả ông Cao Biền

Có đôi chim hạc đang chuyền nhành mai.

Gió đưa liễu yếu, mai oằn

Liễu yếu mặc liễu, mai oằn mặc mai

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm?

Tìm em như thể tìm chim

Chim bay bể Bắc anh tìm bể Đông

Tìm bể Ðông thấy lông chim nhạn

Tìm bể cạn thấy đàn chim di

Ai mang nhân ngãi ta đi

Thì mang nhân ngãi ta về cho ta!

Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hỏa mai,

Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.

Thùng thùng trống đánh ngũ liên,

Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.

Còn nguyên hay đã xé vuông nào cho ai?

Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai

Em vin cành trúc, em dựa cành mai

Đông đào tây liễu biết lấy ai bạn cùng

Chẳng thanh cũng thể hoa mai

Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh

Chẳng chua cũng thể là chanh

Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây

Ca dao tục ngữ về hoa đào

Hoa đào là một loài hoa thường nở vào tiết trời lạnh lạnh và xuất hiện ở miền Bắc nước ta. Hoa đào là hoa tượng trưng cho tết ở miền Bắc, là loài hoa tượng trưng cho tết của nước ta, là một trong một loài hoa tượng trưng cho tết.

Câu 1:

Đi ngang thấy búp hoa đào

Muốn vào mà sợ bờ rào lắm gai

Hoa đào là một loài hoa rất đẹp, một loài hoa tượng trưng cho tết ở miền Bắc. hoa đào thưởng nở vào mùa lạnh và xứ lạnh, cánh màu hồng rất đẹp. câu trên nói về vẻ đẹp của hoa đào, muốn hái những sợ hàng rào lắm gái, qua hình ảnh đó đồng thời nói lên tình cảm của chàng trai dành cho một cô gái, muốn gặp cô ấy nhưng lại ngại ngùng.

Câu 2:

Đào thắm thì đào lại phai

Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng đi

Câu ca dao trên nói về vẻ đẹp của hoa đào và nhấn mạnh quy luật tự nhiên, hoa nở rồi lại tàn, không có loài hoa nào nở hoài không tàn. Qua hình ảnh đó nói lên số phận và cuộc sống của con người, mỗi người ai cũng có thanh xuân, tuổi trẻ nhưng rồi ai cũng già đi, cũng dần yếu đi theo thời gian.

Tổng hợp một số câu dao tục ngữ về hoa đào:

Em nói nhà em trước liễu sau đào

Muỗi chui không lọt, lẽ nào em có con

Đào Nhật Tân, phân Cổ Nhuế

Đôi ta là nợ là tình

Là duyên là kiếp đôi mình kết giao

Em như hoa mận hoa đào

Cái gì là nghĩa tương giao hỡi nàng?

Ca dao tục ngữ về hoa hồng

Hoa hồng là một loài hoa xinh đẹp, loài hoa tượng trưng cho tình yêu, cho những điều tốt đẹp nhất. Có rất nhiều loại hoa hồng, mỗi loại hoa có một đặc điểm một đặc trưng riêng, chúng ta cùng đi tìm hiểu những đặc điểm của hoa hồng qua những câu ca dao tục ngữ.

Câu 1:

Ai kia sao khéo hoài công

Tham hái hoa hồng nên mắc phải gai

Hoa hồng là một loài hoa xinh đẹp, loài hoa thể hiện cho tình yêu đôi lứa, tình cảm của con người dành cho nhau. Câu tục ngữ trên nói về sự nhọc nhằn khó khăn của việc hái hoa hồng, đồng thời nói lên sự nhọc nhằn khó khăn của việc thử thách chinh phục một cô gái, chinh phục cái đẹp.

Câu 2:

Em như cái búp hoa hồng

Anh giơ tay uốn bẻ về bồng nâng niu

Hình ảnh trong câu thơ nói về sự nâng niu và quý trọng của con người dành cho hoa hồng. Dồng thời qua hình ảnh ấy thể hiện sự nâng niu của chàng trai dành cho cô gái mình yêu thương.

Tổng hợp một số câu ca dao tục ngữ về hoa hồng:

Dầu bông quế, dầu bông hường

Hải đường thơm thiệt là thơm

Tóc em như lông con chó xồm

Xức dầu thì xức, ai thèm dòm bớ em Hai

Bông lan chẳng dám sánh chi hoa hồng

Em là con gái ở đồng

Người còn đói rách, em không lượt là

Miệng cười như cánh hoa nhài

Như chùm hoa nở như tai hoa hồng

Ước gì được đấy làm chồng

Để em làm vợ em trông cậy nhờ

Thân em như cánh hoa hồng

Lấy phải thằng chồng như cứt bò khô.

Một số câu ca dao tục ngữ về hoa :

Lời ăn tiếng nói thật thà khoan thai

Miệng cười như búp hoa nhài

Như nụ hoa quế như tai hoa hồng

Ước gì anh được làm chồng

Để em làm vợ, tơ hồng trời xe

Hoa nhài thoang thoảng bay xa

Mùi thơm khác hẳn, thật là có hương

Hoa cúc không sợ thu sương

Để màu ẩn dật, mùi hương đậm đà

Hoa sen mùa hạ nở ra

Ở bùn mà lại không pha sắc bùn

Hoa mai chót vót đỉnh non

Trắng như bông tuyết hãy còn kém xa

Mẫu đơn phú quý gọi là

Hải đường sắc đẹp nhưng mà không hương

Hoa quỳ nhất ý hướng dương

Hoa liễu trong trắng, trông thường như bông

Phù dung mọc ở bên sông

Hoa đào gặp được gió đông mới cười

Được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ.

Em như hoa gạo trên cây

Anh như một đám cỏ may bên đường

Lạy trời cho cả gió sương

Hoa gạo rụng xuống, lại luồn cỏ may

· Tóc em dài em cài hoa lý

Miệng em cười có ý anh thương.

· Người đời khác nữa là hoa

Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn

Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

Details Category: Kỹ năng mềm Published on Monday, 12 February 2018 02:12 Written by cudinhlang Hits: 5233

Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt NamRồng lúc to lúc nhỏLớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

Đa mưu túc trí muôn đời thịnh Hữu dũng vô mưu vạn đời suy Ghen ăn tức ở muôn đời nát Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.* Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.* Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.* Cá [chép] hóa rồng: 1. Học trò đi thi được đỗ đạt vinh hiển; 2. Người được thỏa chí, toại nguyện, thành đạt.* Cá gặp nước, rồng gặp mây: 1. Gặp môi trường thuận lợi, tương hợp, may mắn; 2. Cảnh sum vầy, hội ngộ.* Chạm rồng trổ phượng: 1. Trang trí lộng lẫy, tinh xảo, cầu kỳ; 2. Sự tô điểm rối rắm, rườm rà.* Con Rồng cháu Tiên: Dòng dõi đầy tự hào của dân tộc Việt Nam.* Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chiếu hoa nệm gấm không chồng cũng hư: Một quan niệm đề cao hạnh phúc gia đình.* Dựa mạn thuyền rồng: Được vua chọn làm cung phi, làm vợ hoặc lấy được người giàu sang.* Đầu rồng đuôi tôm/rắn: 1. Việc khi đầu thì hưng thịnh, sau thì suy yếu; 2. Chuyện lúc khởi đầu có vẻ to tát, đẹp đẽ nhưng kết thúc lại chẳng ra gì; 3. Sự cọc cạch, không tương xứng giữa những bộ phận có phẩm chất quá khác biệt trong cùng một chỉnh thể.* Đẹp duyên cưỡi rồng: Lấy được người chồng lý tưởng.* Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay chết ngõng: Một quan niệm xưa, đề cao vai trò của người đàn ông, khẳng định phụ nữ cần thiết phải lập gia đình.

* Họa long điểm tinh (Vẽ rồng điểm mắt): Hành động đúng hướng, nắm bắt được trọng tâm của sự vật, sự việc.* Học chẳng biết chữ cu chữ cò, nói những chữ như rồng như rắn: Nói phét, nói suông, dốt hay nói chữ.* Hội long vân (Hội rồng mây): Cuộc gặp gỡ tốt lành, thời cơ thuận lợi.* Long bàn hổ cứ (Rồng cuộn hổ ngồi): Thế đất hiểm yếu, linh thiêng.* Long ly quy phụng (Rồng lân rùa phượng): Bốn con vật quý và thiêng theo quan niệm tín ngưỡng.* Lưỡng long chầu nguyệt: 1. Hình hai con rồng chầu chụm vào một mặt trăng thường thấy ở nơi thờ tự; 2. Một người tài giỏi lại có được hai người hỗ trợ, phò tá nhiệt tình, tương xứng và trung thành.* Mả táng hàm rồng: Gặp may mắn, tự nhiên ngày càng phát đạt thịnh vượng, [tưởng như] do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.* May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.* Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.* Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.* Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.* Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.* Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.* Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.* Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).* Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).* Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.* Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.* Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.* Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

* Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.* Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.* Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.* Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.* Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.* Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.* Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

Ca Dao,Tục Ngữ Về Quảng Nam

CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công, Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Cò

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tối có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

Cái cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về? Cò về đến gốc cây đề, Giương cung anh bắn cò về làm chỉ Cò về thăm bác thăm dì, Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông.

Con cò lấp lé bụi tre Sao cò lại muốn lăm le vợ người Vào đây ta hát đôi lời Để cho cò hiểu sự đời , ở ăn Sự đời cò lấy làm răn Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

Cái cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

Cái cò bay bổng bay lơ Lại đây anh gởi xôi ngô cho nàng. Đem về nàng nấu nàng rang, Nàng ăn có dẻo thì nàng lấy anh.

Cái cò cái vạc cái nông Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò, Không, không! Tôi đứng trên bờ Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi Chẳng tin ông đứng ông coi Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

Cái cò cái vạc cái nông Ba con cùng béo, vặt lông con nào Vặt lông con vạc cho tao Mắm muối bỏ vào, xào rán rồi thuôn!

Cái cò cái vạc cái nông Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca Muối kia đổ ruột con gà Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

Cái cò chết tối hôm qua Có hai hạt gạo với ba đồng tiền Một đồng mua trống mua kèn Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong Một đồng mua mớ rau răm Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Cái cò lặn lội bờ ao Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay Em về giục mẹ cùng thầy, Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong? Cổ yếm em thõng thòng thòng, Tay em đeo vòng như bắp chuối non. Em khoe em đẹp em giòn, Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay ngồi một xó, hay ăn thịt gà Ai ra ruộng chú ở nhà Nói thì dở giọng ba hao chích chòe!

Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa Ngày thì ước những ngày mưa! Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

Cái cò lặn lội bờ sông, Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền!

Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Chàng đi xa vợ xa con Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng Chân đi nhưng dạ dùng dằng Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con! Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nước non cùng người

Cái cò lặn lội bờ sông Cổ dài mỏ cứng cánh cong lưng gù Bã xa sông rộng sóng to Vì lo cái bụng đi mò cái ăn.

Cái cò là cái cò con Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà Mẹ đi lặn lội đồng xa Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn Ông kia có cái thuyền buồm Chở vào rừng rậm xem lươn bắt cò Ông kia chống gậy lò dò Con lươn thụt xuống, con cò bay lên.

Cái cò là cái cò kỳ Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô Đêm nằm thì ngáy o o Chưa đi đến chợ đã lo ăn quà Hàng bánh hàng bún bầy ra Củ từ khoai sọ, đến bà cháo kê Ăn rồi cắp đít ra về Thấy hàng chả chó, lại lê chân vào Chả này bà bán ra sao Ba đồng một gắp, thì nào tôi mua! Nói dối rằng mua cho chồng Về đến quãng đồng, ngả nón ra ăn Ăn rồi đau quặn đau quăn Chạy về cho kịp, nằm lăn cả ngày Đem tiền đi bói ông thầy Bói ra quẻ này: những chả cùng nem Ông thầy nói dối đã quen Nào ai ăn chả ăn nem bao giờ!

Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ mày nằm với ai? Có đánh thì đánh sớm mai, Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm!

Cái cò là cái cò vàng Mẹ đi bán hàng, nhà lại vắng cha Vắng cha thì ở với bà Không ở với chú, chú là đàn ông.

Cái cò là cái cò vàng Mẹ đi đắp đàng con ở với ai Con ở với bà, bà không có vú Không ở với chú, chú là đàn ông. Thôi con chết quách cho xong!

Con cò là con cò vàng Muốn đi hát đúm sợ làng cười chê Ai cười lời kẻ thôn quê Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan Hay cò vui câu xẩm xoan Thì cò bay đến hân hoan cùng người.

Cái cò mà mổ cái tôm Cái tôm quắp lại mà ôm cái cò.

Cái cò mà mổ cái trai, Cái trai quắp lại mà nhai cái cò.

Cái cò trắng bạch như vôi Cô kia có lấy chú tôi thì về. Chú tôi chẳng mắng chẳng chê, Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh!

Con cò trắng bệch như vôi Đừng nông nổi nữa, đừng lời nguyệt hoa Ví dù muốn đẹp đôi ta Đừng như cánh bướm quanh hoa đầu mùa Đừng vê thuốc, đừng bỏ bùa Đừng như chú tiểu ở chùa Thiều Quang Đừng thắm nhạt, đừng đa đoan Nên duyên thì phượng với loan một lời Giăng kia vằng vặc giữa giời Giăng ai soi tỏ lòng người nầy cho.

Con cò trắng tợ như vôi Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng!

Con cò trắng toát như bông Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào Nghĩ gì, cò đậu cành cao Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào nửa e Xuống đây cho ta nhắn nhe Đừng đứng trên ấy gãy tre của làng.

Cái trai mày há miệng ra, Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày. Cái cò mày mổ cái trai, Cái trai quặp lại muốn nhai thịt cò.

Con cò mà mổ con trai U ơi, U lấy vợ hai cho thầy.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015