Top 14 # Ca Dao Tục Ngữ Về Hàng Xóm Láng Giềng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Boxxyno.com

Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng / 2023

Details Category: Kỹ năng mềm Published on Monday, 12 February 2018 02:12 Written by cudinhlang Hits: 5233

Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt NamRồng lúc to lúc nhỏLớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

Đa mưu túc trí muôn đời thịnh Hữu dũng vô mưu vạn đời suy Ghen ăn tức ở muôn đời nát Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.* Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.* Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.* Cá [chép] hóa rồng: 1. Học trò đi thi được đỗ đạt vinh hiển; 2. Người được thỏa chí, toại nguyện, thành đạt.* Cá gặp nước, rồng gặp mây: 1. Gặp môi trường thuận lợi, tương hợp, may mắn; 2. Cảnh sum vầy, hội ngộ.* Chạm rồng trổ phượng: 1. Trang trí lộng lẫy, tinh xảo, cầu kỳ; 2. Sự tô điểm rối rắm, rườm rà.* Con Rồng cháu Tiên: Dòng dõi đầy tự hào của dân tộc Việt Nam.* Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chiếu hoa nệm gấm không chồng cũng hư: Một quan niệm đề cao hạnh phúc gia đình.* Dựa mạn thuyền rồng: Được vua chọn làm cung phi, làm vợ hoặc lấy được người giàu sang.* Đầu rồng đuôi tôm/rắn: 1. Việc khi đầu thì hưng thịnh, sau thì suy yếu; 2. Chuyện lúc khởi đầu có vẻ to tát, đẹp đẽ nhưng kết thúc lại chẳng ra gì; 3. Sự cọc cạch, không tương xứng giữa những bộ phận có phẩm chất quá khác biệt trong cùng một chỉnh thể.* Đẹp duyên cưỡi rồng: Lấy được người chồng lý tưởng.* Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay chết ngõng: Một quan niệm xưa, đề cao vai trò của người đàn ông, khẳng định phụ nữ cần thiết phải lập gia đình.

* Họa long điểm tinh (Vẽ rồng điểm mắt): Hành động đúng hướng, nắm bắt được trọng tâm của sự vật, sự việc.* Học chẳng biết chữ cu chữ cò, nói những chữ như rồng như rắn: Nói phét, nói suông, dốt hay nói chữ.* Hội long vân (Hội rồng mây): Cuộc gặp gỡ tốt lành, thời cơ thuận lợi.* Long bàn hổ cứ (Rồng cuộn hổ ngồi): Thế đất hiểm yếu, linh thiêng.* Long ly quy phụng (Rồng lân rùa phượng): Bốn con vật quý và thiêng theo quan niệm tín ngưỡng.* Lưỡng long chầu nguyệt: 1. Hình hai con rồng chầu chụm vào một mặt trăng thường thấy ở nơi thờ tự; 2. Một người tài giỏi lại có được hai người hỗ trợ, phò tá nhiệt tình, tương xứng và trung thành.* Mả táng hàm rồng: Gặp may mắn, tự nhiên ngày càng phát đạt thịnh vượng, [tưởng như] do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.* May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.* Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.* Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.* Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.* Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.* Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.* Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.* Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).* Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).* Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.* Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.* Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.* Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

* Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.* Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.* Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.* Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.* Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.* Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.* Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

Ca Dao Tục Ngữ Về Biển / 2023

Sông sâu mà biển cũng sâu Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

Dốc lòng trồng cúc bẻ bông Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò Anh ở làm sao cho biết đói biết no Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

Trời sinh có biển có nguồn Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều Nuôi con chồng vợ hẩm hiu Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

Động bể đông bắc nồi rang thóc Động bể bắc đổ thóc ra phơi

Sự đời nghĩ cũng nực cười Một con cá lội mấy người thả câu Anh về xẻ gỗ bắc cầu Non cao anh vượt biển sâu anh dò Bây giờ sao chẳng bén cho Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

Trời cao hơn trán Trăng sáng hơn đèn Kèn kêu hơn quyển Biển rộng hơn sông Anh đừng thương trước uổng công Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

Ai về em gởi bức thơ Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao Non kia ai đắp mà cao Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

Non cao, biển cả Con chim tra trả tìm mồi Khi mô vật đổi sao dời Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh Đêm đêm thơ thẩn một mình Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua Biểu anh về lập miếu thờ vua Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua Biểu anh về lập miếu thờ vua Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá, Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua. Anh về lập miếu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện, Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua. Anh về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên Ðường còn đi xuống đi lên, Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên Đường còn đi xuống đi lên Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non Đường mòn duyên nợ không mòn Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau Lời nguyền trước cũng như sau Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

Sông sâu còn có kẻ dò Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

Lụa tốt xem biên Người hiền xem tướng

Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa Em thương anh không dám nói ra Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời Anh với em cũng muốn kết đôi Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

Đố ai tát bể Đông Khê Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh / 2023

Câu ca dao, tục ngữ Quảng Ninh

Tục ngữ ca dao về chốn tâm linh

*Trăm năm tích đức tu hànhChưa đi Yên Tử chưa thành quả tu.

* Ai đi Yên Tử cùng anhKhói hương nghi ngút còn vương hạ Trần.

* Nào ai quyết chí tu hànhHãy về Yên Tử mới đành làm tu.

*Lần theo dấu tích ngàn xưaBảy trăm năm ấy bây giờ còn lưu.

* Vĩnh Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh LâmAi chưa đến đó thiền tâm chưa đành.

*Miếu Đức Ông là nơi Cửa SuốtKhách vẫn lại thương nhớ cùng dâng.

* Bao giờ sấm chớp Chùa LôiCon ơi nhớ dậy mang nồi ra sân.

* Mồng bảy hội miếu Tiên CôngDưới là đánh vật trên rồng phi bay.Đêm thì hát đúm vui thayBên này thi cấy, bên đây đua thuyền.

*Chùa Quỳnh vui lắm ai ơiTrốn cha, trốn mẹ mà chơi Chùa Quỳnh.

* Chùa Quỳnh khánh đá, chuông đồngMuốn chơi thì lấy của chồng mà chơi.

Tục ngữ ca dao thời kì kháng chiến chống Pháp

* Vua thua ông huyện Hoành Bồ.

* Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà TuDa dày, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu.

*Chưa đi chưa biết Vàng Danh Đi ra khốn khổ thân anh thế này.

*Chưa đi chưa biết Vàng DanhMá hồng để lại, má xanh mang về.*Ai đi Uông Bí, Quảng HồngCó đoàn vệ quốc dân công qua đèoAi về cho ta về theoCó sông cũng lội , có đèo cũng qua.

*Sông sâu còn có kẻ dòTội ác chủ mỏ ai dò cho ra.

* Đào than cho nó làm giàuXúc vàng đem đổ xuống tàu cho Tây.

* ở quê cái khổ bám theoRa mỏ cái khổ nó trèo lên lưng.

* Đau đẻ cũng phải xúc thanĐẻ rơi cũng mặc kêu van hững hờ.

*Lầm than cực khổ thế nàyXúc than cuốc đất suốt ngày lọ lem.

*Khi xưa nghe tiếng còi tầmNhư nghe tiếng vọng từ âm phủ về.

* Thẻ tôi lĩnh có hai đồngÔng cai lĩnh hộ trừ công năm hào.

*Cây mắm cò quămCây sú cù queoThắt lưng cho chặt mà theo anh vềĂn cơm với cá mòi heLấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

* Ai ra Cẩm Phả mà xemRừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sìĐã làm cái kiếp cu liCòn gì là đẹp còn gì là vui.

* Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngátHuyện Hoành Bồ đồi cát mênh môngAi ơi, đứng lại mà trôngKìa khe nước độc, nọ ông hùm giàViệc gì mà rủ nhau raLàm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

* Ai về Yên Dưỡng, Hoành MôMà xem quân lính cụ Hồ sang sôngĐêm ngày mải mê chiến côngThoáng nom như có cả chồng em kia.

* Thuyền than mà đậu bến thanThương anh vất vả cơ hàn nắng mưa.* Thuyền than đậu bến đen sìAnh không ra mỏ lấy gì em ăn.

Ca dao tục ngữ giao duyên

* Ai về chợ huyện Thanh Vân

Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Về Rắn / 2023

Hang hùm nọc rắn: Còn gọi là hang hùm miệng rắn, chỉ nơi nguy hiểm đến tánh mạng.

Vẽ rồng vẽ rắn: Bày đặt thêm nhiều chuyên đề cho sự việc càng rắc rối thêm.

Khẩu Phật tam xà: Nghĩa đen là miệng Phật lòng rắn, ý nói những kẻ bề ngoài miệng nói ra toàn chuyện đạo đức nhưng trong lòng ẩn chứa toàn chuyện gian ác.

Rắn đến nhà không đánh thành quái: ý nói nuôi dưỡng kẻ xấu ở trong nhà thì có ngày nó sẽ hại mình.

Oai oái như rắn bắt nhái: Chê trách những kẻ hay kêu la những chuyện không đáng.

Rắn rết bò vào, cóc nhái bò ra: Chỉ một nơi hoang vu không có người qua lại.

Rắn Mai tại chỗ, rắn Hổ về nhà: (Mai là mai gầm, hổ là hổ mang) đây là hai loài rắn độc cắn người đưa đến cái chết tức thời

Rắn trong lỗ bò ra: Lời nói khéo léo khiến ai nghe cũng phải xiêu lòng.

Rắn đổ nọc cho lươn: Đổ lỗi cho kẻ khác

Như rắn mất đầu: Không người chỉ huy mất phương hướng.

Len lét như rắn mồng năm: ý nói sợ sét, nhút nhát.

Vẽ rắn thêm chân: Bịa đặt thêm nhiều chuyện để sự việc thêm khó khăn, rắc rối.

Cõng rắn con gà nhà: Hành động phản bội lại nhân dân.

Ăngià rắn lột, người già người tụt vào săng: Câu nói đùa, nói lên quy luật tự nhiên của con người là mọi người rồi ai cũng phải chết.

Cha hổ mang đẻ con liu điu: Hổ mang và liu điu là hai giống rắn, cha độc ác thì sanh con cũng độc ác.

Liu điu lại nở ra dòng liu điu: ý nói cha nào, con nấy.

Thằn lằn, rắn ráo: Chỉ những kẻ không đứng đắn.

Nói rắn nói rồng: Nói dài dòng những chuyện không đâu

Thuồng luồng ở cạn: ý nói người không phát huy được tác dụng vì ở xa môi trường của mình.

Thẳng như rắn bò: Có ý mỉa mai ai.

Bạnh như cổ hổ mang: Chỉ sự so sánh.

Thao láo như mắt rắn ráo: Mắt mở to. Chỉ sự so sánh giữa mắt người và mắt rắn.

Sư hổ mang, vãi rắn rết: Chỉ những người tu hành giả nhân giả nghĩa.

Rắn đi còn đầm lại: ý nói mầm độc hại đã trừ khử nhưng di căn gốc rễ vẫn còn.

Đánh rắn giữa khúc: Chỉ tính chất và việc làm không triệt để để khử trừ mầm độc hại.

Đánh rắn phải đánh dập đầu: ý nói muốn trừ khử mầm độc hại phải diệt tận gốc rễ.

– Tuổi Tỵ rắn ở bọng cây Nằm khoanh trong bụng có hay chuyện gì! – Cần chi cá lóc, cá trê Thịt chuột, thịt rắn nhậu mê hơn nhiều. Hi. – Câu đố: Con gì trườn dọc bờ ao Bắt ếch, bắt nhái le vào le ra? TVT sưu tầm

Trần Văn Thọ @ 22:32 21/12/2012 Số lượt xem: 4933