Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô

--- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Trong bài viết này, Tiếng Việt 24h xin giới thiệu đến các bạn bài học : Một số câu ca dao tục ngữ về thầy cô.

    Ca dao, tục ngữ về thầy cô

    Có thờ thầy mới được làm thầy

    Ý nghĩa : Phải biết kính trọng và biết ơn những người đã dạy dỗ chúng ta. Có như vậy, sau này chúng ta mới có thể dạy bảo được người khác và được họ tôn trọng.

    Con ơi ghi nhớ lời này / Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên

    Ý nghĩa : Nhắc nhở mọi người phải luôn ghi nhớ công lao nuôi nấng, dạy dỗ của cha mẹ, thầy cô.

    Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy / Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao

    Ý nghĩa : Ca ngợi công ơn của cha mẹ và thầy cô giáo. Sau này khi đạt được thành công trong cuộc sống, chúng ta cũng không bao giờ được quên công ơn của họ, những người đã nuôi nấng, dạy dỗ ta nên người.

    Không thầy đố mày làm nên

    Ý nghĩa : Cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của thầy cô, nếu không có họ dạy dỗ và chỉ bảo, chúng ta sẽ không thể trở thành một con người toàn vẹn.

    Ví dụ :

    A: Em đã hiểu cách làm chưa?

    B: Dạ em hiểu rồi. Em cảm ơn thầy nhiều lắm, không có thầy chỉ chắc em còn lâu mới giải được bài này. Đúng là “không thầy đố mày làm nên”.

    Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy

    Ý nghĩa : Thể hiện sự kính trọng, biết ơn, quan tâm đối với cha mẹ, thầy cô vào dịp Tết cổ truyền của Việt Nam. Thầy cô cũng giống như người cha, người mẹ thứ hai của chúng ta.

    Ví dụ :

    A: Ủa, chào mấy em. Sao lại kéo nhau qua nhà cô vậy nè?

    B: Dạ, có câu “mồng một tết cha, mồng ba tết thầy”, nên hôm nay tụi em qua đây để chúc tết cô ạ.

    Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy

    Ý nghĩa : Phải tôn kính, biết ơn người đã dạy bảo mình (dù chỉ là nửa chữ).

    Ví dụ : Có câu “một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nên dù chỉ được học với cô trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng tất cả chúng em đều vô cùng biết ơn cô. Chúc cô thành công trong sự nghiệp trồng người của mình.

    Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    Ý nghĩa : Trân trọng những ân nghĩa của những người đã dạy dỗ ta từ nhỏ đến lớn.

    Ví dụ : “Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa”, xin được cảm ơn tất cả những điều tốt đẹp mà thầy cô đã dành cho chúng em trong những năm vừa qua.

    Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    Ý nghĩa : Thể hiện sự kính trọng của xã hội đối với nghề nhà giáo.

    Trâu kén cỏ trâu gầy, trò kén thầy trò dốt

    Ý nghĩa : Phải khiêm tốn, phải yêu quý thầy cô, những người đã dạy dỗ mình, thì mới nên người.

    We on social : Facebook

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích
  • Ẩm Thực Hà Nội Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Trang Phục (Phần 3)
  • Tục Ngữ Nói Về Sự Vô Ơn
  • Những Câu Nói Danh Ngôn Ca Dao Tục Ngữ Về Ý Chí Nghị Lực ( Và Sự Cố Gắng Mạnh Mẽ)
  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam

    Nhà xuất bản: NXB Thời đại

    Tác giả: Phúc hải

    Năm xuất bản: 2014

    Số trang: 523

    Khổ sách: 14.5×20.5 cm

    Dạng bìa: Bìa cứng

    Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam tác phẩm đặc sắc mang giá trị nhân văn lớn

    Nhắc tới ca dao, tục ngữ của nhân dân ta thì đó phải kể tới một kho tàng văn hóa với giá trị quan trọng. Đối với các bạn trẻ càng cần tiếp cận và thấu hiểu những giá trị này từ những người đi trước để kho tàng này không bị mai một đi theo thời gian. Tác giả Phan Hải đã tuyển chọn và làm nên cuốn sách ý nghĩa này: Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam xứng đáng được đón nhận bởi những giá trị mà nó mang lại cho mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là vô cùng cần thiết với các bạn trẻ.

    Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam cuốn sách tập hợp những giá trị văn hóa của nhân dân ta.

    Sau thời gian sưu tập, biên soạn tác giả đã cho ra đời bộ sách với phương diện khá đầy đủ những câu ca dao, tục ngữ của nhân dân ta. Cuốn sách bao gồm 3 phần:

    Phần I. Ca dao

    Phần II. Tục ngữ

    Phần III. Dân ca.

    Mỗi phần gồm rất nhiều các câu ca dao, dân ca, tục ngữ của cha ông ta để lại. Ý nghĩa của nó giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc về cuộc sống, tình người, tình yêu, gia đình, xã hội..từ đó giúp chúng ta đúc rút ra được các bài học để rèn luyện bản thân trở thành những con người có trách nhiệm với gia đình và xã hội, những con người có một tâm hồn trong sáng, lương thiện. Đồng thời cuốn sách cũng nhắc nhở thế hệ trẻ ngày nay không được quên đi cội nguồn, truyền thống của dân tộc.

    Ý nghĩa sâu sắc của từng câu ca dao, tục ngữ, dân ca:

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Mỗi câu từ đềud mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến.

    Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị. Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ.

    Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương. Ca dao, tục ngữ, kho tàng văn học phong phú, là kiến thức vô giá. Ca dao thể hiện nghệ thuật sống đẹp, phong tục tập quán, tín ngưỡng. Ca dao đầy tình nghĩa : Tình cảm trai gái, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, tình cảm giữa con người với thiên nhiên, cây cối loài vật. Ca dao, tục ngữ, dân ca đặc cao giá trị nếp sống của con người tự do xã hội chủ nghĩa.

    Ca dao bảo vệ chân thiện mỹ, đề cao cái đẹp cái hay, chỉ trích cái xấu trong xã hội loài người. Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Hãy đọc Tuyển chọn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam để thấy thông điệp của tiền nhân để muôn đời cho dân con nước Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Một Số Câu Ca Dao, Tục Ngữ Thường Được Vận Dụng Trong Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt
  • Giáo Án Đạo Đức
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Khỉ
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)
  • Sách ebook Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam PDF/EPUB/PRC/AZW/MOBI miễn phí về máy tính – điện thoại – máy đọc sách hoặc bạn có thể đọc trực tiếp trên web. Sách Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam thuộc thể loại Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Bìa Mềm), được viết bởi tác giả: Vũ Ngọc Phan.

    ĐỌC SÁCH

    1. NHẬN XÉT

    Chưa có nhận xét

    2. GIỚI THIỆU SÁCH

    Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Bìa Mềm)

    Tác phẩm của nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên (năm1996, lĩnh vực văn nghệ dân gian).

    Cuốn sách được tác giả dày công sưu tầm, khảo cứu trong suốt những năm tham gia kháng chiến chống Pháp, đặc biệt từ khi chuyển sang làm công tác nghiên cứu văn – sử – địa và hoàn thành vào năm 1956. Vũ Ngọc Phan đã có phần nghiên cứu tâm huyết về đặc điểm, giá trị đặc sắc của tục ngữ, ca dao, dân ca vô cùng đa dạng và phong phú của dân tộc Việt Nam ta (trong đó có cả của một số dân tộc thiểu số) bên cạnh phần tuyển chọn công phu.

    Đặc biệt, cuốn sách còn có phần biên khảo rất sớm (với tầm nhìn xa trông rộng) và rất giá trị về dân ca, bao gồm các loại hình như: hát trống quân, hát xẩm, hát quan họ Bắc Ninh, hát ghẹo Phú Thọ, hát ví, hát giặm Nghệ Tĩnh, hò Huế, dân ca miền Nam Trung Bộ, dân ca Nam Bộ…

     

    3. THÔNG TIN SÁCH

    Công ty phát hành Nhà sách Minh Thắng

    Tác giả Vũ Ngọc Phan

    Ngày xuất bản 01-2017

    Kích thước 14,5 x 20,5 cm

    Loại bìa Bìa mềm

    Số trang 664

    SKU 3101414090001

    Nhà xuất bản Nhà Xuất Bản Văn Học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Tục Ngữ, Ca Dao Dân Tộc Thái Và Tục Ngữ, Ca Dao Người Kinh (Cảnh Thụy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Trong Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Nói Chân Thành Cảm Ơn Hay Nhất Cho Cuộc Sống
  • Status Buồn Người Ở Lại Và Người Ra Đi, Đến Một Lúc Nào Đó Nỗi Đau Ngày Xưa Sẽ Dịu Lại
  • Cực “thấm” Với Những Câu Nói Hay Về Du Lịch Bằng Tiếng Anh
  • Sms 8/3, Tin Nhắn Xếp Hình Chúc Mừng 8/3 Độc Đáo Nhất
  • Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có khoảng hơn 1,5 triệu người, cư trú chủ yếu ở các tỉnh thuộc địa bàn Tây Bắc. Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu, người Thái xuất hiện ở Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm, qua các đợt di cư của tộc người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống và từ Thái Lan sang. Dân tộc Thái có truyền thống văn hóa lâu đời, đạt đến trình độ cao. Ngoài chữ viết, người Thái còn bảo tồn được kho tàng văn hóa, lễ hội, luật tục, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú và đặc sắc.

    Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần; qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người. So sánh tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự tương đồng thú vị, trên cơ sở đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra những vấn đề cần lý giải.

    Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này, xin chỉ trình bày bước đầu so sánh, tìm hiểu những nét tương đồng về nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và với thành ngữ, tục ngữ dân tộc Kinh, trong khuôn khổ nguồn tư liệu còn hạn hẹp: “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (NXB Văn hóa dân tộc, 2012) và ” Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái” (Hội Văn nghệ dân gian- NXB Văn hóa dân tộc, 2012)

    Tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục, hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống:

    – Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma

    Tương tự như vậy, người Kinh có câu:

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    – Sểnh nhà ra thất nghiệp

    Tinh thần đoàn kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:

    – Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống

    – Khỏe một mình làm không được

    Khôn một mình làm không xong

    Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Trong phạm vi rộng, tục ngữ Thái khuyên con người biết đoàn kết cộng đồng trong bản, trong mường; ở phạm vi hẹp, tục ngữ Thái khuyên con người đoàn kết anh em trong một nhà:

    Không nặng tiếng trái lời

    Để nhắc nhở anh chị em trong một nhà đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, người Kinh cũng có những câu:

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần

    – Khôn ngoan đá đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Điều thú vị là trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao, tục ngữ nói về đoàn kết gia đình, đoàn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, tinh thần đoàn kết được xây dựng từ gia đình- tế bào của xã hội, được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc sống bình yên.

    Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người, tục ngữ Thái còn có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái lại, rất động:

    – Mưa nhiều không cần nắng, cũng nắng

    Nắng nhiều không cần mưa, cũng mưa

    – Không ai gặp xấu cả năm

    – Người ta có gặp vận rủi

    Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may

    Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế giới với con mắt “vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :

    Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ

    Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :

    – Đất có thổ công, sông có hà bá

    Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật triết lý :

    Cũng như người Kinh quan niệm :

    Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vô cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn :

    Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ :

    – Không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng

    Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện :

    Làm ác thể nào cũng gặp ác

    Người không đáp thì ma cũng đáp

    Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh, tuy người Thái ít chịu ảnh hưởng bởi quan niệm của Phật giáo:

    – Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

    Khi phát triển về trình độ tư duy, con người ta nhận thức được đúng với sai, thật với giả, mà cao hơn là phân biệt được sự khác nhau giữa hiện tượng và bản chất, hình thức với nội dung. Tục ngữ Thái có nhiều câu chỉ rõ mối quan hệ này:

    – Người đi kẻ lại phải xem biết ai tốt xấu

    Mặc rách rưới, người có lòng nhân nghĩa cũng nên

    Người mặc đẹp, ăn ngon, lòng dối trá cũng có

    Người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    – Mật ngọt thì ruồi chết tươi

    Những nơi cay đắng là nơi thật thà

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài lại đen

    Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về thể chất và nhân cách như là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn dòng giống, nhìn vào gia phong:

    Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài

    Chọn con dao chứ không phải chọn vỏ dao

    Phải biết thật kỹ đáy lòng mà nắm bắt được ngay, gian

    Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    – Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra dòng liu điu

    – Giỏ nhà ai quai nhà nấy

    Mặc dù đặc điểm và trình độ phát triển xã hội ở hai cộng đồng người Thái và Kinh không giống nhau, nhưng tổng kết, đúc rút về thói đời, người Thái có câu :

    Lúc làm nên thì luôn thấy chín bà vợ

    Khi không làm nên thì chỉ có một em vợ cũng chẳng thấy

    – Anh em rượu đắng khác hẳn với anh em cùng chịu mùi tanh hôi

    (“Anh em rượu đắng” ở đây chỉ những người dưng, chỉ anh anh em em bên chiếu rượu (với người Thái, rượu đắng là rượu ngon). Còn “anh em cùng chịu mùi tanh hôi” là anh em ruột rà, máu mủ. Có thể ngày thường anh em ít gặp nhau, nhưng khi cha mẹ mất (bốc mùi hôi tanh) thì cùng nhau gánh chịu:

    Tương tự như vậy, người Kinh cũng có những câu:

    – Lúc khó thì chẳng ai nhìn

    Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

    – Bần cư thành thị vô nhân vấn

    Phú tại sơn lâm hữu khách tầm

    (nghèo ở thành thị không có người hỏi, giầu thì ở rừng núi có người tìm đến)

    Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:

    – Uống rượu đừng nói chuyện ruộng

    Ngủ với vợ (chồng) không nói chuyện tình cũ

    Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại, cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:

    – Người già hãy bảo con cháu

    Để quá thì chúng lớn khó bảo

    Lớn lên tưởng mình cao bằng núi

    Những đỉnh núi cao không vượt gối của người

    Và người Kinh cũng có những câu tương tự:

    – Dạy con từ thưở còn thơ

    Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình

    Ghi vào lòng để hiểu biết và khôn

    Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

    – Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tôn trọng người già. Gìa làng, trưởng bản luôn là người có uy tín, được cộng đồng tôn sùng. Tục ngữ Thái có câu:

    – Cây nhọn không bằng sắt cùn

    Trẻ hiểu biết không bằng già quên

    Cũng giống như quan niệm của người Kinh:

    – Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

    Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú, đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.

    2. Những chuẩn mực đạo đức

    Tục ngữ Thái có rất nhiều câu răn dạy người ta sống theo đạo làm người. Thông qua đó, chúng ta thấy quan niệm nhân sinh của người Thái.

    Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của ” nền văn minh thung lũng “. Tục ngữ Thái có câu : Tsả kin tói phạy, Tay kin tói nặm (Xá ăn theo lửa , Thái ăn theo nước). Vùng đất có sông, suối là nơi người Thái chọn để cư trú. Do vậy, người Thái có tập quán canh tác từ rất sớm : trồng lúa nước ở nơi thung lũng lòng chảo, nơi gần nguồn nước và làm nương rẫy trên sườn núi, đánh bắt cá dưới sông suối, dùng thuyền bè để đi lại, lợi dụng sức nước để sản xuất. Người Thái sớm biết dùng trâu kéo cày, chăn nuôi nhiều gia súc. Người đàn ông Thái nếu không biết phát nương, săn thú, đánh bắt cá sẽ bị chê cười ; người phụ nữ Thái phải biết chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, thêu thùa… Bởi thế, trong những chuẩn mực đạo đức, người Thái đặc biệt coi trọng sự chăm chỉ, hay lam hay làm và phê phán thói lười biếng. Tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết chăm làm, không ngại việc :

    – Đừng chây lười ngại việc

    Đừng tiếc công tiếc sức, gắng lòng làm ăn

    Việc làm được, lớn như đồi núi chưa đủ

    Đổ mồ hôi, cạn kiệt sức mới vừa tầm

    Bởi vì có lao động mới có cái ăn

    – Muốn để bụng đói hãy nằm im

    Muốn ăn ở nghèo khó thì chỉ nói, không làm

    Muốn thành lớn hãy bắt tay từ việc nhỏ

    – Lười biếng bụng trống rỗng

    Người giàu có, nhờ làm ăn liên tục

    Người nghèo khó bởi làm ăn dông dài

    Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Không có gì tự dưng sẵn có:

    Trong đó có ít người số may mà được

    Nhìn chung mọi người phải nghĩ, phải lo mới có được

    Nếu không nghĩ, không lo để tìm kiếm thì kho bạc, kho vàng của nhà trời cũng không tự đến

    Cố cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình

    Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thông minh, tài giỏi. Quan niệm đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:

    – Nhẫn được thành người khôn

    Chăm được thành người tài

    Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:

    Không dưng ai dễ mang phần đến cho

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ

    Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có bao nhiêu cũng hết:

    – Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết

    Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự:

    Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững; đừng ỷ nại người trên, trông chờ vào của cải ông bà, cha mẹ để lại:

    – Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy

    Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi

    Còn người Kinh dặn dò con cháu:

    – Của làm ra là của trong nhà

    Của ông bà là của ngoài sân

    Của phù vân có chân nó chạy

    Do nền sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, thiên tai bất thường, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên người Thái cũng như người Kinh, đều nhắn nhủ nhau “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro, thiên tai, và phải tiết kiệm. Tục ngữ Thái có câu:

    – Gom của phòng mùa thiếu

    – Vừa ăn lại vừa để, tốt lắm

    Vừa kiệm lại vừa giành, tốt quá

    – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện

    Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp:

    – Đừng trộm hái rau quả của vườn người

    Cũng như tục ngữ của người Kinh:

    Người Kinh cũng có câu: ” Thật thà là cha quỷ quái ” để đề cao những lời nói thật, lên án những kẻ hay dối trá.

    Còn tục ngữ người Kinh có câu: ” Ăn có nhai, nói có nghĩ

    3. Về kinh nghiệm sản xuất

    Trong lao động, sản xuất cũng như đời sống, thiên tai luôn là nỗi ám ảnh với con người. Người Kinh có câu: “Thủy, hỏa, đạo, tặc” để xếp hạng những yếu tố gây nguy hiểm cho cuộc sống con người. Trong đó, “thủy” đứng ở vị trí đầu tiên. Chắc hẳn những trận lụt kinh hoàng đã thành ám ảnh không phai đối với người Kinh xa xưa. Sau “thủy” là “hỏa”. Nạn lửa chỉ sau nạn cháy, còn nguy hiểm hơn cả trộm cướp và giặc giã. Còn với người Thái thì:

    – Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

    Dùng nước phải biết tránh nguồn nước

    Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy

    – Bừa bãi lửa thường sinh nạn cháy

    Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn nuôi, còn có săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…mà ở đề tài này, ca dao tục ngữ của người Kinh không nhiều.

    Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…

    Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, mà trong bài viết này chưa có dịp đề cập đến.

    Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biết, vừa thể hiện nét chung về văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc. Bởi thế mà nền văn hóa Việt Nam có sự thống nhất trong đa dạng, mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.

    Tài liệu tham khảo

    1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Chúc Ngủ Ngon Bá Đạo, Hài Hước Giành Cho Bạn Bè, Người Yêu
  • Những Lời Chúc Valentine Tiếng Anh Hay Và Ngọt Ngào Nhất
  • Những Câu Nói Truyền Cảm Hứng Trong Các Bộ Phim Về Tình Yêu
  • Những Hình Ảnh Động Chúc Mừng Sinh Nhật Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • Biết Một Số Ca Dao Tục Ngữ Ca Ngợi Đạo Pháp, Quê Hương, Đất Nước, Dân Tộc, Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Vần Thơ Nhân Ái
  • 100+ Stt Yêu Đời Vui Tươi Ngắn Gọn Ý Nghĩa Nhất
  • 💘 Stt Người Lính, Cap Hay Về Bộ Đội, Quân Sự Chất
  • Cap Hay Về Tình Yêu Đơn Phương – Mỗi Câu Nói Là Một Nỗi Buồn!
  • 999+ Stt Yêu Xa Cảm Động Nhất Giúp Các Cặp Đôi Có Thêm Niềm Tin
  • BIẾT MỘT SỐ CA DAO TỤC NGỮ

    CA NGỢI ĐẠO PHÁP, QUÊ HƯƠNG,

    ĐẤT NƯỚC, DÂN TỘC, THIÊN NHIÊN

     

    I. Mục đích:

    -Cung cấp kiến thức về ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương dân tộc, thiên nhiên cho các em.

    – Giáo dục tình cảm tôn thờ Đạo pháp, tình yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên… Kỹ năng sống cho các em.

    – Rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học

    II. Nội dung:

    1. Vào bài: Trong những bậc học trước, các em đã biết đề tài, nội dung của ca dao,tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng. Bài học này sẽ giúp các em củng cố kiến thức đồng thời biết thêm những nội dung mới như ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc…

    2.Ca ngợi Đạo pháptrước hết là ca ngợi đạo hiếu. Em hãy cho biết một số câu ca dao (hoặc tục ngữ) có nội dung này?

    + “ Phật dạy chữ Hiếu làm đầu,

    Ai mà giữ được đạo mầu mới trao”

    + “ Quý thay đức Mục kiền Liên,

    Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu”

    _Em hãy nêu một lời dạy của Đức Phật về mối quan hệ này?

    “ Gặp thời không có Phật thì thờ cha mẹ là thờ Phật vậy”

    _Bên cạnh ca ngợi đạo hiếu, Đạo Pháp còn là ca ngợigì nữa?

    + Ca ngợi giáo lý vi diệu của Đức Từ phụ (Phật-Pháp). Cho dẫn chứng?

    + Ca ngợi cảnh trí trang nghiêm, thanh tịnh chốn thiền môn (Tăng, Chùa). Cho dẫn chứng?

    Mái chùa hồn nước hồn non

    Hồn dân tộc Việt chon von mái chùa

    Nước non thuận gió hoà mưa

    Dân an nước thịnh mái chùa thêm xinh.

    Đại ý: Đạo pháp luôn gắn liền với đời sống tinh thần của quê hương đất nước, mái chùa luôn là biểu tượng của truyền thống dân tộc trong việc giữ gìn sự hoà hiếu và mang lại đời sống tinh thần bình an, hạnh phúc và ấm no.

    Ca dao ca- ngợi Đạo pháp cũng gần gũi gắn bó với tình cảm yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên.v.v..Hãy tìm những bài ca dao (hoặc tục ngữ) nói về những đề tài nầy?

    + “ Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương”.

    + “ Trước bến Vân Lâu,

    Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm,

    Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông…

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

    Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.”

    +“ Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

    Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say”

    3.Kết luận:

    *Ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc, thiên nhiên rất nhiều và có mối quan hệ Vì lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc, nền văn học Việt Nam đã quá lâu đời, song song hình thành, tồn tại và phát triển.

    – Đạo pháp và dân tộc Việt Nam hòa quyện.Thiên nhiên,quê hương, đất nước Việt Nam chan hòa, tình tự1.

    -Cung cấp kiến thức về ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương dân tộc, thiên nhiên cho các em.- Giáo dục tình cảm tôn thờ Đạo pháp, tình yêu quê hương đất nước, dân tộc, thiên nhiên… Kỹ năng sống cho các em.- Rèn luyện kỹ năng cảm thụ văn học: Trong những bậc học trước, các em đã biết đề tài, nội dung của ca dao,tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng. Bài học này sẽ giúp các em củng cố kiến thức đồng thời biết thêm những nội dung mới như ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc…trước hết là ca ngợi đạo hiếu. Em hãy cho biết một số câu ca dao (hoặc tục ngữ) có nội dung này?+ “ Phật dạy chữ Hiếu làm đầu,Ai mà giữ được đạo mầu mới trao”+ “ Quý thay đức Mục kiền Liên,Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu”_Em hãy nêu một lời dạy của Đức Phật về mối quan hệ này?“ Gặp thời không có Phật thì thờ cha mẹ là thờ Phật vậy”_Bên cạnh ca ngợi đạo hiếu, Đạo Pháp còn là ca ngợigì nữa?+ Ca ngợi giáo lý vi diệu của Đức Từ phụ (Phật-Pháp). Cho dẫn chứng?+ Ca ngợi cảnh trí trang nghiêm, thanh tịnh chốn thiền môn (Tăng, Chùa). Cho dẫn chứng?Mái chùa hồn nước hồn nonHồn dân tộc Việt chon von mái chùaNước non thuận gió hoà mưaDân an nước thịnh mái chùa thêm xinh.: Đạo pháp luôn gắn liền với đời sống tinh thần của quê hương đất nước, mái chùa luôn là biểu tượng của truyền thống dân tộc trong việc giữ gìn sự hoà hiếu và mang lại đời sống tinh thần bình an, hạnh phúc và ấm chúng tôi dao ca- ngợi Đạo pháp cũng gần gũi gắn bó với.v.v..Hãy tìm những bài ca dao (hoặc tục ngữ) nói về những đề tài nầy?+ “ Gió đưa cành trúc la đà,Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương”.+ “ Trước bến Vân Lâu,Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm,Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông…Thuyền ai thấp thoáng bên sông,Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.”+“ Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say”*Ca dao tục ngữ ca ngợi Đạo pháp, quê hương đất nước dân tộc, thiên nhiên rất nhiều và có mối quan hệ Vì lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc, nền văn học Việt Nam đã quá lâu đời, song song hình thành, tồn tại và phát triển.- Đạo pháp và dân tộc Việt Nam hòa quyện.Thiên nhiên,quê hương, đất nước Việt Nam chan hòa, tình tự1.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Và Mùa Xuân Trong Thi Ca Việt
  • Chọn Lọc Những Câu Cao Dao Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Americans Missing In Action In Southeast Asia
  • Cuộc Thi “Nét Chữ Từ Trái Tim”: “Em Yêu Tổ Quốc” Là Bài Thơ Được Các Em Thiếu Nhi Viết Nhiều Nhất
  • Đặc Sắc Tục Ngữ, Ca Dao Cao Lan
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Nhân, Anh Hùng Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Người Việt Nam Thương Mẹ, Kính Cha Qua Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Biển, Biển Đảo, Biển Vũng Tàu Nha Trang Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Thị Thu Nga
  • Trong quá trình xây dựng đất nước nước ta đã trải qua rất nhiều thời kỳ khác nhau trong mỗi thời kỳ đều có những người tài và cống hiến đóng góp nhiều cho đất nước và sự phát triển chung của xã hội. Có rất nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc được vinh danh và ghi nhận. Công trạng của họ còn được truyền miệng qua rất nhiều các câu ca dao tục ngữ để kể lại cho người đời sau. Ca dao tục ngữ về danh nhân hay và ý nghĩa nhất

    Việt Nam là một đất nước có những con người kiên trung, có tinh thần yêu nước sâu sắc và vô cùng đáng quý. Những anh hùng hi sinh trong các cuộc chiến tranh, những người anh hùng đã hi sinh cả tuổi xuân, cả cuộc đời mình vì sự nghiệp độc lập dân tộc. bên cạnh những vị anh hùng ấy còn có những hậu phương vững chắc để họ quyết tâm tham gia chống giặc cứu nước là những người mẹ, người vợ vô cùng kiên trung.

    Bà Trưng, Bà Triệu là 1 trong những danh nhân nổi tiếng và được nhiều người biết tới với công trạng chống lại giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước

    Những vẻ đẹp của những người anh hùng ta không thể hiểu và thấu hết qua một vài câu chuyện, qua một vài lời giới thiệu. để nói lên vẻ đẹp đó thì các nhà văn nhà thơ đã nói lên những tình cảm của mình dành cho các vị anh hùng ấy qua các tác phẩm văn học, thơ,… bên cạnh đó còn có một thể loại thể hiện vẻ đẹo của các danh nhân, chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ nói về danh nhân.

    Câu 1:

    • Ai về Hậu Lộc Phú Điền
    • Nhớ đây Bà Triệu trận điền xung phong.

    Câu ca dao trên nói về một vị nữ tướng là Bà Triệu, bà là một trong những nữ tướng nổi tiếng của Việt Nam ta xưa. Bà Triệu là một nhân vật có tính cách mạnh mẽ, quyết tâm và có tinh thần yêu nước sâu sắc. Bởi thấy những khổ cực mà nhân dân ta chịu bà đã đứng lên để dành lấy độc lập của dân tộc, cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân.

    Câu 2:

    • Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn
    • Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh.

    Câu ca dao trên nói về một vị vua rất nổi tiếng, người có tấm lòng nhân đạo và yêu thương nhân dân sâu sắc đó là vua Lê Thái Tông. Để nói đến công lao của vua Lê Thái Tông thi câu ca dao nhắc đến hai địa danh mà làm nên tên tuổi của vua Lê Thái Tông đó là Biên Thương và Lam Sơn. Hình ảnh oai hùng và kiên cường của vua Lê Thái Tông khi chống giặc ngoại xâm và trị vì đất nước vô cùng được nể phục.

    Câu 3:

    • Có chàng Công Tráng họ Đinh
    • Dựng luỹ Ba Đình chống đánh giặc Tây

    Đinh Công Tráng là một người được biết đến với tính cách trung trực, trật tự, kỉ luật và nghiêm nghị. Ông tham gia rất nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp và giành được nhiều thắng lợi và đặc biệt là thắng lợi của khởi nghĩa Ba Đình chống giặc Pháp.

    Câu 4:

    • Vĩnh Long có cặp rồng vàng
    • Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần.

    Câu ca dao nói đến mảnh đất Vĩnh Long, một mảnh đất sinh ra anh hùng và nuôi dưỡng anh hùng. Một trong hai vị anh hùng nôi tiếng của vùng đất này đó là Bùi Hữu Nghĩa và Phan Tuấn Thuần. ngày nay người dân Vĩnh Long đã lập đền thờ để tưởng niệm hai vị anh hùng này.

    Câu 5:

    • Gò Công anh dũng tuyệt vời
    • Ông Trương “đám lá tối trời” đánh Tây.

    Câu ca nói đến mảnh đất Gò Công, Tiền Giang nói về một vị anh hùng mang tên Trương Quyền. ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp bởi những hình ảnh anh hùng và kiên cường ông đã ghi tên mình trong lòng bao người dân yêu nước.

    Câu 6:

    • Phất cờ chống nạn xâm lăng
    • Trương Công nghĩa khí lẫy lừng trời nam.

    Câu ca dao trên cũng nói về một người con của tỉnh Tiền Giang mang tên Trương Công Định. Trương Công Định đã cùng 25 nghĩa quân hy sinh tại mặt trận Kiểng Phước. Sự hi sinh ấy đã để lại bao nhiêu nể phục danh cho những người dân Việt Nam.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về danh nhân:

    Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi

    Muốn coi lên núi mà coi

    Coi bà Triệu tướng cởi voi đánh cồng.

    Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri.

    Bao giờ Tự Đức chết đi,

    Vỡ đường Thiệu Trị vỡ đôi năm liền

    Mong cho thiên hạ lòng thuyền

    Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua.

      Trách lòng Biện Nhạc chẳng minh

    Làm cho con gái thất kinh thất hồn

    Trách lòng biện Nhạc làm kiêu

    Làm cho con gái nhiều điều phiền lo.

      Trăng rằm mây phủ còn lu,

    Tấm gương chị Lý nghìn thu sáng ngời.

      Bô Bô nói với Phường Chào

    Xem tôi với chị bên nào hiền hơn.

    Hỏi thăm ông Hường Hiệu có còn hay không?

    Thăng Long tấp nập trăm miền khơi thông

    Vua Lý đã chọn đất rồng

    Ngàn năm bền vững Thăng Long kinh kỳ

      Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Atgt, Ca Dao Tục Ngữ Câu Nói Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Thông, An Toàn Giao Thông
  • Thành Ngữ Tiếng Trung Hay Và Thâm Thuý ( P 1 )
  • Thành Ngữ, Quán Ngữ Trong Hoạt Động Giao Tiếp Của Giới Trẻ Hiện Nay
  • Giao Tiếp Thành Thần Nhờ 26 Câu Thành Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu Chung Thủy Trong Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Bên cạnh đó những nét đặc sắc trong ca dao tục ngữ về tình yêu chung thủy cũng là cách để mượn ý bày tỏ, ước muốn đến với người mình yêu thương. Có thể là các cặp đôi yêu nhau trong giai đoạn tình yêu nở rộ hay tình cảm gia đình, vợ chồng. Tuy nhiên cũng là sự bày tỏ nỗi thương tiếc về sự trắc trở, đổ vỡ, làm tôn lên sự thủy chung, chờ đợi trong tình yêu.

    1. Sự ngợi ca về tình yêu chung thủy

    Nước sông Tô vừa trong vừa mát

    Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh.

    Dừng chèo muốn tỏ tâm tình

    Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.

    Muối ba năm muối đang còn mặn

    Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

    Đôi ta tình nặng nghĩa dày

    Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xa.

    Chừng nào cho sóng bỏ gành

    Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.

    Thương anh vô giá quá chừng

    Trèo truông quên mệt ngậm gừng quên cay.

    Những câu ca dao chất chứa nỗi niềm của chàng trai, cô gái về đạo thủy chung, mong ước đối phương một lòng son sắc đừng quên ân nghĩa đã từng. Không phải là những lời thơ bóng bẩy, mượn cảnh vật thiên nhiên, mượn hình ảnh cây cỏ, đất trời để bày tỏ sự cảm thông, tình yêu cao thượng nhưng không trách móc, hờn giận nhau.

    Nhác trông thấy bóng anh đây

    Ăn chín lạng hạt ớt ngọt ngay như đường.

    Rủ nhau xuống bể mò cua

    Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

    Em ơi chua ngọt đã từng

    Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

    Trăng tròn chỉ có đêm rằm,

    Tình ta tháng tháng năm năm vẫn tròn.

    Ta cũng thấy đâu đó sự nhắc nhớ về đạo gắn bó, tình nghĩa phu thê, có cay đắng ngọt bùi cùng nhau để đối phương sống cho phải đạo vợ chồng.

    2. Sự trách móc, giận hờn vì đã quên ước hẹn

    Mình nói dối ta mình hãy còn son

    Ta đi qua ngõ thấy con mình bò

    Con mình những trấu cùng tro

    Ta đi xách nước rửa cho con mình.

    Trăm năm đành lỗi hẹn hò

    Cây đa bến cũ con đò khác xưa.

    Chè non ai hái nửa nương

    Cau non nửa chẽ người thương nửa chừng

    Hai hàng nước mặt ngập ngừng

    Thà rằng ngày trước ta đừng gặp nhau.

    Cũng mượn hình ảnh sông nước, con đò, hàng cau mái lá để tỏ tâm tình, trách móc vì người sao để lòng nhớ thương mà lại quên vội. Hay vội thay lòng đổi dạ khi tình cảm người ở lại không đổi mà người đi rồi không về quay về nữa.

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng.

    Đạo nào bằng đạo phu thê

    Tay ấp, má kề, sinh tử có nhau.

    Thương nhau gặp khúc sông vơi,

    Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung.

    Bên cạnh đó là lời khẳng định mong ước một vợ một chồng, xóa tan quan điểm “tam thê tứ thiếp” chịu cảnh chồng chung của người phụ nữ thời xưa.

    3. Sự mong mỏi, một lòng nhớ thương

    Thuyền ai lơ lửng bên sông

    Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?

    Thuyền ơi có nhớ bên chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Thò tay mà bứt cọng ngò

    Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ.

    Sự thủy chung đó còn là tình cảm thầm thương trộm nhớ, tha thiết chờ mong được thẩu hiểu nhưng lại không biết được tình cảm của người kia ra sao. Thế nhưng vẫn một lòng thương, vẫn một lòng nhớ nhung một ngày được đáp trả.

    Với những câu ca dao tục ngữ về tình yêu chung thủy không chỉ mang những quy luật về cuộc sống mà còn nói lên được tình cảm, tâm tư mộc mạc, trong sáng, đậm đà qua cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, các thủ thuật văn chương hóa mang đến sự cảm thụ gần gũi, chân thực, đi sâu vào lòng người. Có lẽ từ đó mà ca dao tục ngữ nói chung hay những câu miêu tả về tình yêu nói riêng lại truyền từ đời này sang đời khác như một nét văn hóa giàu bản sắc dân tộc.

    Lý Ngân – Tổng hợp

    Có thế bạn quan tâm :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Chị Em (Phần 8)
  • Top 100+ Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu, Về Cha Mẹ, Chế
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Bạn Thâm Thúy Và Đáng Suy Ngẫm!
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Sự Tiết Kiệm, Hoang Phí, Lãng Phí Thời Gian Của Cải Tiền Bạc Hay Nhất
  • Người “gom Nhặt” Ca Dao, Tục Ngữ Dân Tộc Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Status Tháng 12, Tạm Biệt Năm Cũ Và Khép Lại Những Buồn Vui Đã Qua
  • Sưu Tầm Ngay Những Stt Chúc Mừng Sinh Nhật Idol Hay Nhất
  • Tuyển Tập Stt Hay Về Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Dành Tặng Người Thân
  • 100 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh Hay Nhất Cho: Bạn Bè, Người Yêu, Bố Mẹ, Anh Chị Em 2021
  • Một Số Lời Nói Hay Của Nhà Phật
  • Hàng chục năm qua, ông bỏ công sức sưu tầm, tìm hiểu loại hình văn hóa và tri thức dân gian này để vận dụng vào đời sống văn hóa thực tiễn. Đến nay, ông đã sưu tầm được hơn 2 nghìn câu ca dao, tục ngữ, từng bước đưa di sản này đến gần với đời sống văn hóa tinh thần của người dân trong thời hiện tại.

    Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn hóa, ông Cừ thừa hưởng tình yêu ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái từ người cha yêu quý của mình.

    Khi trưởng thành, bằng tình yêu, tâm huyết và mong muốn tìm lại kho tàng ca dao tục ngữ dân tộc Thái, ông Cừ đã đi đến tất cả các thôn bản của người Thái sinh sống ở xứ Thanh để sưu tầm, tìm hiểu. Tại đây, ông có cơ hội được gặp gỡ nhiều cụ cao niên để khai thác, cóp nhặt tất cả các câu ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái, tập hợp thành những tệp tư liệu riêng. Được mỗi người chia sẻ một, hai câu theo trí nhớ của mình, qua nhiều năm “gom nhặt”, ông Phạm Xuân Cừ đã sưu tầm được hơn 2.500 câu ca dao tục ngữ.

    Ông còn phối hợp cùng các hội viên trong Hội Dân tộc học và Nhân học tỉnh Thanh Hóa và thầy cô giáo, sinh viên Trường Đại học Hồng Đức sưu tầm, phiên dịch gần 10 nghìn câu ca dao, tục ngữ dân tộc Thái, hiện đã được in thành sách đưa vào giảng dạy ngoại khóa cho sinh viên dân tộc Thái.

    Ông Cừ chia sẻ, cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái là một kho tàng tri thức, kinh nghiệm về sản xuất, đời sống tinh thần, qua đó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng, tình cảm của con người.

    Tục ngữ dân tộc Thái ca ngợi, khích lệ người siêng năng chăm làm và làm ăn có tính toán biết gắn cuộc sống của người lao động đối với vai trò, vị trí của mình trong xã hội, được xã hội quý mến, trân trọng. Ngay từ ngày mới trưởng thành con trai Thái phải học những việc cần thiết của người đàn ông như, đan lát, tập chặt dao, rìu, tập cầm cày bừa…, con gái Thái phải học dệt thổ cẩm, thêu thùa, may vá, các công việc nội trợ…

    Ví dụ như câu ca dao tục ngữ người Thái về giáo dục cách sống, cách ứng xử như: “Nhiều mây trời mới đổ mưa/ Nhiều người mới nên làng nên bản”, hay những câu tục ngữ Thái ca ngợi, khích lệ người siêng năng chăm làm, được xã hội quý mến, trân trọng “Của xin không đủ ngày/ Của mua không đủ năm/ Chăm làm có ăn, siêng nằm chết đói”.

    Ấn tượng hơn là, vào mỗi dịp họp dân, ông Cừ tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến bà con không chỉ bằng văn bản khô cứng mà vận dụng ca dao, tục ngữ để ví von cho bà con dễ hiểu. Ông Cừ ví dụ “Giữ lấy rừng về sau phát triển/ Để cho muôn mó nước, sông suối tuôn trào/ Ai nhớ được câu nói ấy thì mới nên người”.

    Theo ông Cừ, những văn bản, chính sách tiếp cận đến bà con không phải ai đọc cũng hiểu, nên mình hiểu được phải giải nghĩa cho bà con, đọc ca dao tục ngữ để giải thích là hiệu quả nhất, vừa cuốn hút, vừa sâu sắc.

    Không chỉ sưu tầm ca dao tục ngữ Thái, ông Phạm Xuân Cừ còn tự mình sáng tác. Ông chia sẻ ca dao, tục ngữ vốn là của dân gian, nhưng theo thời gian, kho tàng ca dao dần bị mai một nên cũng cần có người sáng tác để bồi đắp cho kho tàng ca dao tục ngữ ấy. Mong muốn của ông, không chỉ những người con dân tộc Thái hiểu, mà tất cả các dân tộc khác cũng có thể học tập, vận dụng vào đời sống.

    HỒNG MINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 999+ Stt Hay Vui Về Tình Bạn Tình Yêu Trong Cuộc Sống
  • 99 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Tiểu Thuyết Ngôn Tình Cổ Đại Và Hiện Đại Trung Quốc
  • 20+ Lời Chúc Sinh Nhật Bạn Gái Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Ngày Công An Nhân Dân Việt Nam 19.8 Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Đời
  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội Hay Nhất
  • Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Yên Bái
  • Yên Bái: Những Tên Gọi Gợi Về Lịch Sử Và Thức Dậy Tiềm Năng
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Dân Ca Hay Và Sâu Sắc Về Tình Nghĩa Vợ Chồng
  • Một Số Câu Thành Ngữ
  • Xem tướng mạo nó có thể đúng, cũng có thể sai. Tự trong lòng ca dao, dân gian cũng tự nhận định và đánh giá nội dung này:

    Sông sâu sào vắn dễ dò

    Đố ai lấy thước mà đo lòng người

    Những câu sau chỉ có tính chất giải trí và tìm hiểu góc nhìn kinh nghiệm của người xưa 🙂

    1. Nhìn người qua diện mạo, hình dung

    1.1. Qua “răng” và “tóc”

    Đầu tiên, điều người bình dân quan tâm nhất là hai bộ phận răng và tóc. Bởi lẽ, theo họ ” cái răng, cái tóc là góc con người”!

    So sánh với kinh nghiệm dân gian của những bà nội trợ khi chọn cá, diện mạo con người cũng được nhìn nhận, xét trong nội hàm câu ca, chúng tôi cho rằng đây dành cho người phụ nữ:

    Cá tươi xem lấy đôi mang

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai dài xuống mang tai

    Là người khó tánh ít ai vừa lòng

    Một tướng mạo khả ái danh cho khách má hồng:

    Tóc thưa, dài, mướt, trắng da

    Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân

    Ngược lại, đây là hình ảnh lý tưởng:

    Tóc đen, thưa, rộng mà dài

    Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng

    Nhìn tưởng của cả hai: đàn ông lẫn đàn bà:

    Đàn ông ít tóc: an nhàn

    Đàn bà ít tóc: dở dang duyên tình

    Tương tự, và ở chiều người lại, ca dao có câu:

    Đàn bà nhiều tóc thì sang

    Đàn ông nhiều tóc thì mang nặng đầu

    Như vậy, có thể thấy rằng dân gian quan niệm đàn bà nhiều tóc là tốt tướng. Ngược lại, đàn ông ít tóc mới hay, trừ trường hợp:

    Cái sọ trọc như không có tóc

    Kém công danh lao lực về sau

    Hàm răng cũng là nơi để người bình dân đánh giá chân dung con người.

    Nhưng lời dành cho phái mạnh:

    Trai mà có cặp răng nanh

    Gan dạ , chịu đựng, khôn lanh đủ điều

    Dành cho thiếu phụ:

    Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa

    Răng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng

    Một câu khác cũng gần tương tự, nhưng có kết hợp với những yếu tố “da trắng” và “mặt sẫm”:

    Răng thưa, da trắng: gái hay

    Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình

    1.2. Mặt, trán, má, mày …

    Trông mặt mà bắt hình dong, từ quan niệm ấy, nên trong kho tàng ca dao Việt Nam không ít lần người bình dân bày tỏ cách nhận diện con người qua mặt, mày:

    Mặt dài tuy nhỏ: vui chơi

    Tai to mặt ngắn: chịu lời đắng cay

    Ở trán, một bộ phận nằm trên khuôn mặt cũng là nơi thể hiện tính cách, đối với phái nam, dân gian nhận xét:

    – Đàn ông gân trán nổi cao

    Tánh tình nóng nảy, dạt dào ái ân

    – Trán cao có cái đầu vuông

    Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu

    Còn đây, là lời đúc kết dành cho phận gái:

    Gò má mà chẳng cân phân

    Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao

    Đúng là “má hồng – bạc mệnh”!

    Má hồng, trán bóng có duyên

    Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao

    Cái nhìn dành cho cả hai đối tượng:

    Đàn ông trán dựng có tài

    Đàn bà trán dựng lâu đài soi gương

    Môi, miệng cũng là nơi có thể đoán tính người:

    Môi mỏng nói điều sai ngoa

    Mai sau sinh nở con ra hoang đàng

    Mồm mép cũng là những bộ phận không kém phần quan trọng để người ta trông vào:

    Môi dày, miệng rộng cân phân

    Nhơn trung sâu rộng, tánh chơn khoan hòa

    Theo sách nhân tướng xưa, thì điểm giữa môi trên và đầu mũi được gọi là nhân trung

    Một câu ca quen thuộc:

    Đàn ông miệng rộng thì sang

    Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà

    Hai môi không giữ kín răng

    Là người yểu tướng, nói năng hỗn hào

    Chân tướng những người khôn ngoan:

    – Những người râu mép ngoảnh ra

    Mép dày môi mỏng, ấy là tinh khôn

    – Những người thành thật môi dày

    Lại thêm ít nói lòng đầy nghĩa nhân

    Cũng có khi phải kết hợp nhiều bộ phận từ dáng người đến tóc, môi, …

    Người đen mà ốm lại cao

    Tóc quăn, môi lớn, lao đao tháng ngày

    Đến râu, lông cũng bộc lộ nhân cách.

    Râu rìa, lông ngực đôi bên

    Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần

    Họ không ngần ngại kết luận:

    Đàn ông mà kém bộ râu

    Văn chương cũng dở, công hầu đừng mong

    Nếu râu là bộ phận không thể thiếu cho bậc nam nhi, thì ngược lại nhũ hoa là bộ phận quan trọng không kém của người phụ nữ, bởi thiên chức của nó:

    Đàn ông không râu bất nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Nơi cửa sổ của tâm hồn là đôi mắt, người bình dân cũng dành những nhận định xác đáng:

    Người khôn con mắt đen sì

    Người dại con mắt nửa chì nửa than

    Một câu ca khác gần tương tự về nội dung như thế:

    Người khôn con mắt dịu hiền

    Người dại con mắt láo liên nhìn trời!

    Câu ca dành để xem nam tướng:

    Trán cao, mắt sáng phân minh

    Là người học rộng, công danh tuyệt vời

    Con mắt của kẻ vô nghì, ham mê tửu sắc:

    Mắt tròn dưới mí láng sưng

    Là tên tửu bác, không ngừng chơi đêm

    Mũi cũng thể hiện được tính cách chủ nhân của nó:

    Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắc

    Ắc lòng tham, hiểm độc gian phi

    Tướng này đức đã suy vi

    Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan

    Hay:

    Lỗ mũi mà hỉnh ngửa lên

    Bạc tiền chồng chất một bên chẳng còn

    1.3. Ngoài những sắc diện đã giới thiệu, chúng ta còn thấy dân gian nhìn nhận ở các bộ phận khác trên cơ thể con người:

    Một câu ca chỉ đơn thuần nói về hình thể:

    Hàm rộng, miệng cọp: anh hùng

    Hàm rắn, miệng chuột: bất trung vô nghì

    Nhìn thân hình cũng có thể biết:

    – Những người béo trục béo tròn

    Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày

    – Ngồi khòm đầu gối quá tai

    Là người cực khổ chẳng sai chút nào

    Ở phụ nữ, dáng vẻ không thể chê vào đâu được:

    Những người thắt đáy lưng ong

    Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.

    Bộ phận dưới của tai, theo dân gian cũng bộc lộ nhân cách:

    Dái tai như hột châu thòng

    Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi

    Thiệt người phú quý thảnh thơi

    Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai

    Đến nốt ruồi cũng quyết định ít nhiều, …

    Mụt ruồi màng tang cả làng ăn thép.

    Mụt ruồi bên mép, ăn thép cả làng,

    Ngón tay, bàn chân cũng là những bộ phận khác trong cơ thể của con người, góp phần hình thành tính cách.

    Những người có tướng mạo tốt:

    – Ngón tay thon thỏn búp măng

    Tánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi

    – Bàn tay đỏ ửng như son

    Không người danh tướng cũng con học hành

    – Thông minh, học giỏi, anh tài

    Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non

    Những con người không ra gì, thể hiện ở tay, chân:

    – Bàn tay ngang lại lắm lông

    Là người nhục dục ắt không phải vừa

    – Móng tay mỏng, nhọn: cơ cầu

    Tâm tư hiểm độc, hay xâu của người

    – Đàn bà chân thẳng ống đồng

    Khó con mà lại sát chồng, nguy nan

    Dân gian cảnh báo hãy tránh xa!

    2. Đoán tính cách con người qua hành động đi đứng, ăn uống, tiếng nói, giọng cười

    Nhưng người khôn ngoan bộc lộ qua lời nói:

    Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

    Bên cạnh đó, chân tướng của những người mà dân gian cho là “không ra gì” biểu hiên qua hành động đi đứng, chưa nói đã cười của họ:

    Những cô chưa nói đã cười

    Chưa đi đã chạy là người vô duyên

    Đến khi có chồng rồi, tính cách kia không sửa đổi, điều chỉnh thì chẳng những “vô duyên” mà tác hại còn nặng nề hơn:

    Đàn bà chưa nói đã cười

    Lương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên

    To tiếng cũng là chân dung những phụ nữ không ra gì ở mai hậu:

    Vai ngang, mặt lớn, tiếng to

    Nhiều chồng mà lúc về già vẫn không

    Cùng trong hành động đi, đứng, ta còn gặp hàng loạt câu ca khác:

    – Ra đi chân bước nhẹ nhàng

    Là người hiếu khách, rõ ràng yên vui

    – Bước chân thình thịch, cúi đầu

    Bôn ba đây đó, dãi dầu nắng mưa

    Cùng một dáng đi, nhưng nam xấu, nữ tốt:

    Tướng đi chân bước hai hàng

    Nàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm

    Kết hợp diện mạo, ăn nói, hành động:

    Lưng dài vai mập ba gang,

    Ăn nhai nửa miệng: khô khan chai lười

    Dáng một “hiền nhân”

    Mắt ngước, chân bước nhẹ nhàng

    Tướng đi khang nhã, rõ ràng hiền nhân

    Nhút nhát bộc lộ sự thiệt thòi:

    Chưa nói mà đã thẹn thò

    Phải chịu thiệt thòi trong việc làm ăn

    Hay nhẹ hơn, đây là những hành động chỉ những người luôn luôn sầu tư, ảo não:

    Những người chép miệng thở dài

    Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ

    Kết hợp cả diện mạo và lời nói, chân tướng của kẻ khôn ngoan:

    Khao khao giọng thổ tiếng đồng,

    Quăn quăn tóc trán là dòng khôn ngoan.

    Giọng nói của người hiểm độc:

    Tiếng nói rít qua kẽ răng

    Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang

    – Những người, lẩm bẩm một mình

    Giàu sang chẳng được, lại sinh kém tài

    Cũng có khi cùng một gam “giọng nói” nhưng nam thì tốt, mà nữ thì bị xã hội phê phán:

    Giọng nói răm rắp tiếng dư

    Trai thì can đảm, gái ư gan lỳ

    Và “tiếng nói” để nhận diện phụ nữ:

    Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng

    Một là sát chồng, hai là hại con

    Hoặc những nam nhân mà mang nhiều “nữ tính”:

    Trai mà nói giọng đàn bà

    Tánh tình nhu nhược, còn là long đong

    Ăn trông nồi, ngồi trông hướng, dân gian đã căn dặn hậu sinh như thế. Qua đó, có thể thấy rằng không chỉ trong “ăn nói” mà ngay trong hành động ăn uống cũng góp phần thể hiện tính cách.

    Ăn uống khoan thai là người thanh cao

    Ăn uống nhồm nhoàm là người thô tục

    Một người có tài “mồm mép”!:

    Trán cao, miệng rộng, mũi dài

    Có khoa ăn nói, ít ai sánh bằng

    3. Nhìn tướng người và thể hiện thái độ bằng những quan hệ ứng xử

    Từ tướng mạo, người bình dân đưa ra hướng ứng xử trong giao tiếp. Tuỳ theo đối tượng, khen chê, trọng khinh được đưa ra.

    Đối với với người dịu dàng dễ thương mến

    Chẳng tham nhà ngói rung rinh

    Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười

    Miệng cười em đáng mấy mươi

    Chân đi đáng nén miệng cười đáng trăm

    Những người con mắt lá răm

    Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền

    Lối so sánh vừa khéo léo, tế nhị đã bộc lộ được tất cả những gì người nói muốn nói! Nhưng người có “cao” tướng, ắt hẳn sẽ có hạnh phúc

    Đàn ông gối dụm, chân chàn

    Chẳng cô gái đẹp cũng nàng nết na

    Còn đây, nhưng người mà theo dân gian phải tránh xa:

    – Chim sa, cá nhảy chớ nuôi

    Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng

    – Mắt trắng, môi thâm, da thiết bì

    Người nhiều lông bụng: vô nghì chớ thân

    Hay:

    Những người tai mỏng mà mềm

    Là phường xấc láo, lại thêm gian tà

    Dáng mạo cũng báo trước cho biết những người khó thuỷ chung

    – Mi nhỏ như sợi chỉ mành

    Tình trong chưa thắm, ngoại tình đã giao

    Tính cách không ra gì:

    Những người béo trục béo tròn

    Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày

    Những người mặt nạc đóm dầy

    Mo nang trôi sấp, biết ngày nào khôn.

    – Đàn bà vú lép, to hông

    Đít teo bụng ỏng, cho không chẳng cầu

    – Những người ti hí mắt lươn

    Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người

    – Những người mặt nặng như mo

    Chân đi bậm bịch, có cho chẳng thèm

    Những kẻ bảo thủ, không có ý cầu tiến:

    Những người tai ngửa ra sau

    Tướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe

    Trên diện mạo đôi lúc chỉ cần đảo vị trí, tính tình cũng quay ngược hẳn ở hai chiều khác nhau:

    Mắt dài, mày ngắn: bất bình

    Mày dài, mắt ngắn: đệ huynh vẹn toàn

    Xem ánh mắt, dân gian không ngần ngại bày tỏ với những cô gái “vô duyên”:

    – Con lợn mắt trắng thì nuôi

    Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi

    – Miệng rộng, môi mỏng, liếc ngang

    Con gái như thế chẳng màng làm chi

    Dành cho kẻ “sáng say, chiều xỉn”

    Lờ đờ như người say rượu

    Mắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi

    Cũng có người mà ngay trong tướng mạo như đã báo trước những điều bất hạnh:

    Kẻ nào trống giữa bàn chân

    Hổng không đụng đất thì đừng chơi xa

    4. Những nhận con người qua công việc

    Ở một cấp độ khác, người bình dân thể hiện thái độ của mình qua việc nhìn nhận đánh giá về công việc thường nhật. Chúng tôi chỉ dừng lại ở thái độ mỉa mai, phê phán những hiện tượng lười biếng, dành cho những hạng người vô tích sự trong cuộc sống.

    Dân gian cho rằng người phụ nữ chu đáo, đáng trọng là người biết tảo tần, đảm đang, có chồng phải “gánh giang san nhà chồng”, nên họ khẳng khái dành cho những kẻ “ngồi lê đôi mách”

    Đàn bà yếu chân mềm tay

    Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm

    Họ quả quyết chắc chắn rằng:

    Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác

    Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư

    Và nặng lời chế giễu:

    Làm trai cho đáng thân trai

    Khom lưng cố sức gánh hai hạt vừng

    Ăn no rồi lại nằm khoèo

    Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem

    Chân dung của những con người vô dụng:

    Chú tôi hay tửu hay tăm

    Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa

    Ngày thì khấn những ngày mưa

    Đêm thì ước những đêm thừa trống canh

    Hay:

    – Chồng người cưỡi ngựa bắn cung

    Chồng em thì lấy dây thung bắn ruồi

    – Chồng người đi ngược về xuôi

    Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo, …

    Nguồn: Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Văn Hoá Ẩm Thựccủa Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa, Hạt Gạo, Nông Dân Ruộng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Trong Giảng Dạy Môn Giáo Dục Công Dân Ở Các Lớp 6, 7
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ Lẫn Nhau
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai, Đồng Tháp, Đà Nẵng, Đak Lak, Đak Nông, Điện Biên Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đồng Nai
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội (Hay Nhất)
  • Cây lúa vẫn là cây trồng chủ đạo ở VIệt Nam với diện tích trồng rất lơn ở các vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, mặc dù giá trị kinh tế khôn quá cao nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho con người không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Việt Nam hiện tại là 1 trong những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới đem lại nguồn thu rất cao cho Việt Nam. Ca dao tục ngữ về cây lúa, hạt gạo, nông dân ruộng hay và đặc sắc nhất

    Từ bao đời nay ông cha ta, dân tôc ta luôn gắn bó với nghề trồng lúa, gắn bó với mảnh ruộng mảnh vườn. cho đến ngày nay truyền thống trồng lúa, làm nông nghiệp vẫn luôn gắn bó với bao thế hệ trẻ ngày nay. Điển hình là sản lượng lứa gạo nước ta được xuất khẩu đi khắp nơi và mang lại nguồn kinh tế dồi dào cho đất nước nhờ sản xuất lương thực thực phẩm.

    Cây lúa vẫn là cây trồng phổ biến nhất ở Việt Nam, do canh tác nhiều nên có rất nhiều các câu ca dao tục ngữ nói về cây trồng này để đúc kết những bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau này

    Những sự tần tảo, chịu khó, chịu nắng mưa gió bão để trồng lúa, làm nông nghiệp của những người nông dân đã được nhiều nhà thơ nhà văn thể hiện. nhưng làm sao có thể nói lên hết những nhọc nhằn khó khăn ấy, những khó khăn họ phải gánh chịu khi tạo ra hạt gạo cho chúng ta ăn. Chúng ta cùng đi tìm hiểu ca dao tục ngữ về cây lúa, hạt gạo nông dân để hiểu rõ hơn về nghề nông, nghề mà bao năm ta gắn bó.

    Ca dao tục ngữ về cây lúa

    Câu 1:

    • Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
    • Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Câu ca dao nói về một thời vua mà dân ta được âm no, hạnh phúc, không chịu những cảnh khó khăn đói cực đó là đời vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông. Thời hai vị vua này thì nhân dân ta được học cách cải tạo ruộng đất, làm lúa, làm gạo một cách đầy đủ. Thời hai vị vua này lúa gạo nhiều đến nổi lúa rụng ngoài đồng mà gà ăn không hết.

    Câu 2:

    • Lúa khô nước cạn ai ơi
    • Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

    Câ ca dao trên nói về những khổ cực khi làm ruộng của những người nông dân ta. Mùa hạn hán, khi nước không có, chúng ta không thể chờ trười mưa, không thể chờ trời mà phải tự vận động, tự mình tát nước để có nước cho cây lúa tốt tươi.

    Câu 3:

    • Thân em như lúa nếp tơ,
    • Xanh cây tốt rễ, phởn phơ phơi màu

    Tác giả mượn hình ảnh cây lúa mới lớn, xanh mơn mởn để thể hiện vẻ đẹp của những người con gái mới lớn. những cây lúa mới lớn có cây xanh, rễ tốt có vẻ đẹp phởn phơ như những cô gái mới lớn có vẻ đẹp tinh khiết và yêu kiều giống như cây lúa.

    Những câu ca dao tục ngữ về cây lúa:

    Bỏ em cấy lúa đồng không một mình

    Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm

    Khi trời gió bão ầm ầm,

    Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba

      Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

      Cực lòng thiếp lắm chàng ơi

    Kiếm nơi khuất tịch, thiếp ngồi thở than

    Than vì cây lúa lá vàng

    Nước đâu mà tưới nó hoàn như xưa

    Trông trời chẳng thấy trời mưa

    Lan khô huệ héo, khổ chưa hỡi trời

    Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

      Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Được mùa cau, đau mùa lúa

      Trời cao đất rộng thênh thang,

    Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng,

    Cá tươi gạo trắng nước trong,

    Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê

      Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẽo thơm một hạt đắng cay muôn phần

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu

      Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    • Mạ non bắt trẻ cấy biền
    • Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra
    • Trời mưa cho lúa thêm bông

    Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền

    Thương em đứt ruột, chạy tiền không ra

    Ca dao tục ngữ về hạt gạo

    Câu 1:

    • Cái cò lặn lội bờ sông
    • Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Câu ca dao trên nói về hình ảnh người mẹ đưa gạo, tiếp tế cho người cha, người chiến sĩ ở chiến trường. Mượn hình ảnh con cò để nói lên hình ảnh người phụ nữ tần tảo, chịu lội sông, lội suối để đưa gạo cho chồng để con khóc ở nhà một mình.

    Câu 2:

    • Cần Thơ gạo trắng nước trong
    • Ai đi đến đó lòng không muốn về

    Câu ca dao nói về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Cần Thơ. Cần Thơ là một tỉnh miền Tây sông nước, là một tỉnh đang phát triển. câu nói nói rằng khi đên Cần Thơ sẽ được thưởng thức gạo trắng nước trong, một khi ai đến đó rồi sẽ không muốn ze nữa.

    Câu 3:

    • Muối Xuân An, mắm Tịnh Kỳ
    • Khoai lang dưới trảng, gạo thì Đường Trung

    câu ca dao trên nói về những địa danh nổi tiếng, mỗi địa danh sẽ có những đặc sản nổi bật, riêng biệt của vùng đất đó. Muối nổi tiếng ở Xuân An, ở Tinh Kỳ thì nổi tiếng nắm, còn gạo thì ở Đường Trung. Mỗi nơi có một đặc sản riêng biệt của chính nơi ấy.

    tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về hạt gạo:

      Bao giờ nước ngọt đường cay

    Gánh vừa lon gạo thì thằng Tây ở tù

    Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Đừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

      Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    • Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất
    • Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư

    Sư về, sư ốm tương tư

    Ốm lăn ốm lốc nên sư trọc đầu

    Cho ruột sư héo như bầu đứt dây

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    • Mạnh vì gạo, bạo vì tiền
    • Đồng Nai gạo trắng nước trong

    Quảng Nam đá cục đừng mong anh về

    Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già

      Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

    Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sang

    Ca dao tục ngữ về nông dân

    Câu 1:

    • Mạ úa cấy lúa chóng xanh,
    • Gái dòng chóng đẻ sao anh hững hờ?

    Câu trên nói về tình cảm nam nữ, một câu nói vui. So sánh người con gái như mạ úa nhưng cây lúa sẽ chóng xanh. Vẻ đẹp ấy, sắc đẹp ấy mà sao những người thanh niên, nhưng chàng trai lại hững hờ.

    Câu 2:

    • Nhờ trời mưa gió thuận hoà.
    • Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau.
    • Chim, gà, cá, lợn, cành cau,
    • Mùa nào thức nấy giữ màu nhà quê

    Những câu trên nói về sự khó nhọc, khổ cực khi làm ruộng làm nên hạt gạo cho chúng ta ăn. Dù là trai gái, già trẻ thì ai cũng có những mong ước dành cho hạt gạo.

    Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về nông dân:

    Chăn tằm ăn cơm đứng

    Chắc là nước bể, nước mưa đầy trời.

    Ai ơi nên nhớ lấy lời.

    Trông cơ trời đất, liệu thời làm ăn

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

      Chiêm xong lại đến vụ mùa

    Hết mùa rau muống đến mùa cải hoa

    Đừng khinh dưa muối, tương cà

    Tuy rằng ít bổ, nhưng mà có luôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Cối, Câu Dừa, Cây Tre, Cây Bưởi
  • Tục Ngữ, Thành Ngữ, Câu Đố
  • Tục Ngữ Về Tình Yêu Nam Nữ Hay ❤️ 1001 Câu Chế Vui
  • Ca Dao Về Vợ Chồng Hạnh Phúc ❤️ Tục Ngữ Vợ Chồng Hay
  • Những Câu Ca Dao Nói Về Cha Mẹ ❤️ Tục Ngữ Cha Mẹ Hay
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50