Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Ăn Uống, Món Ăn, Ăn Nói, Ăn Mặc

--- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập 100+ Stt Yêu Xa Hay, Chất Nhất 2022 Khi Người Yêu Đi Lính, Đi Làm Xa..
  • Những Câu Hói Hay Về Tình Cảm Anh Em, Chị Em Ý Nghĩa, Cảm Động
  • Stt Hay Về Mối Tình Đầu, 101+ Câu Status Hay Về Mối Tình Đầu Đã Qua
  • 45+ ❤️ Những Câu Stt Trời Trở Lạnh Ai Đọc Cũng Phải Run
  • 20 Lời Chúc Mừng Sinh Nhật Cho Người Yêu Hay Nhất 2022
  • Tổng hợp những câu ca dao, tục ngữ hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc

    Câu ca dao, tục ngữ nào hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc?

    Câu ca dao, tục ngữ hay về ăn uống, món ăn, ăn nói, ăn mặc

    1.

    Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu

    Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày

    Nghĩa đen về mặt sinh học của câu thành ngữ này là khi nhai càng kĩ thì hiệu suất tiêu hóa càng cao, cơ thể hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng hơn nên no lâu hơn.

    2..

    Muốn cho ngũ tạng được yên

    Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau

    Câu ca dao cho biết ý nghĩa là không nên ăn nhiều những thứ không tốt cho sức khỏe, mặc dù nó có ngon nhưng bớt ăn mấy miếng để giữ sức khỏe, nhịn thèm hơn là ăn vào rồi đổ bệnh.

    3.

    Râu tôm nấu với ruột bầu,

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Hai câu ca dao trên nói về lòng chung thủy của những đôi vợ chồng lao động nghèo khó nhưng vẫn hạnh phúc, dù bữa ăn chỉ là với món Râu tôm ruột bầu. Râu tôm ruột bầu chỉ là những thứ bỏ đi, nhưng lại là một giá trị lớn cho những người lao động nghèo khó. Nghèo nhưng họ vẫn hạnh phúc với món cơm bình dân.

    4.

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Câu nói của các cụ ngày xưa đã cho thấy, rau quan trọng thế nào trong bữa cơm thường ngày. Tuy nhiên thực tế cho thấy, các bữa ăn trong gia đình hiện đại ngày nay đang thiếu cân bằng dinh dưỡng với rau xanh chỉ bởi một điều, ai cũng bận rộn, cứ nghĩ ăn uống qua loa cho no bụng, đáp ứng nhu cầu calo, tạo ra năng lượng để tập trung làm việc là sai hoàn toàn nhé

    5.

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Câu tục ngữ này dùng để chỉ cho sự quan trọng của bạn cùng tu hành. Bạn đồng tu sẽ giúp mình tinh tấn hơn, nâng đỡ mình đứng dậy khi lầm lỗi, bảo hộ thân tâm mình trong sự tu tập và đời sống. Việc so sánh như “ăn cơm có canh” như vậy nhằm nhấn mạnh hơn về tình bạn

    6.

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm với cáy (một thứ cua nhỏ ở bể) là khi nhà còn nghèo; ăn cơm với thịt bò là lúc đã giầu có. Câu này ý nói nghèo chưa hẳn đã khổ, giầu có chưa hẳn đã là sung sướng, giàu nghèo đều có niềm vui và nỗi buồn.

    7.

    Ăn thịt bò không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Câu này dùng hình những hình ảnh thức ăn để phản ánh lên cách ăn uống không đúng cách, thiếu những gia vị sẽ làm món ăn không còn hấp dẫn nữa.

    8.

    Ăn tôm cấu đầu, ăn trầu nhả bã

    Câu tục ngự này có ý nghĩa là ăn tôm thì nhớ bỏ đầu đi cũng như ăn trầu thì nhớ nhả bã ra vì đó đều là những thứ chẳng béo bổ gì.

    9.

    Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh hoa lý, nấu chè hột sen.

    Hoa thiên lý đã đi vào thơ ca, nhạc họa như một loài hoa mộc mạc, giản dị mà nồng nàn. Câu này có hàm ý là người phụ nữ khi về làm vợ, lại bày tỏ tình cảm một cách thực tế hơn, khi lấy hoa thiên chế biến món ngon để giữ lấy tình yêu của người đàn ông.

    10.

    Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    Câu ca dao có hàm ý là người phụ nữ nấu món cá rôi cùng với rau cải và thêm vào một vài lát gừng để chồng thưởng thức thấy thích và yêu thương.

    11.

    Học ăn, học nói, học gói, học mở

    Câu tục ngữ này nói về những điều cơ bản trong cuộc sống mà con người ta phải học để có được cách ăn ở, giao tiếp, cách đối nhân xử thế sao cho lịch sự, tế nhị, văn minh.

    12.

    Ăn lấy chắc, mặc lấy bền

    Câu tục ngữ thể hiện một tinh thần tiết kiệm, một sự bình dị trong ăn mặc. Từ đó có thể hiểu rằng xuất phát điểm của câu tục ngữ là tầng lớp người lao động nghèo trong xã hội xưa, đồng thời đây còn là một lời khuyên về cách sử dụng thành quả lao động sao cho hợp lí, sao cho giản dị.

    13.

    Cơm là gạo, áo là tiền

    Cơm áo gạo tiền là chỉ những lo toan cho cuộc sống hàng ngày của con người gồm có Cơm gạo là cái ăn, áo đại diện cho cái mặc và tiền dùng để chi tiêu hàng ngày.

    14.

    Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

    Quan niệm xưa cho rằng”tóc bỏ đuôi gà, má lúm đồng tiền” là vẻ đẹp hình thể, vẻ đẹp bề ngoài, còn”ăn nói mặn mà có duyên”là vẻ đẹp của tâm hồn bên trong, luôn bền vững với năm tháng, với thời gian…

    15.

    “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe”

    Ca dao còn nhắc nhở, khuyên nhau khi nói phải lựa lời, chọn lời, cân nhắc ý tứ. Lời nói luôn có sẵn, đối với từng trường hợp cụ thể mà chúng ta dành những”lời hay ý đẹp”cho nhau. Có niềm vui nào hơn khi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được nghe những lời nói đẹp, những lời nói hay, sâu sắc, để cho con người sống thương nhau hơn, gần gũi nhau hơn:

    16.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Câu ca dao là một bí quyết giúp ta thành công trong đời, là một lời giáo huấn về cách đối nhân xử thế. Đây cũng là 1 bài học cho con người để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho con người. Bản thân em lánh cần học tập cách ăn nói lịch sự, lễ pháp để xúng đáng là “con ngoan trò giỏi”

    17.

    Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

    Câu ca dao này là bình phẩm về nhân cách của cá nhân. Hàm ý khen ngợi, ca tụng con người có văn hoá, một bên trách cứ cái xã hội không chăm lo cho con người để nó tốt lên

    18.

    Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo

    Câu nói này ý muốn nhắc nhở ta cần tránh lối nói lấp lửng, nửa úp nửa mở, khiến cho người nghe áy náy, phân vân, không rõ thực hư thế nào, gầy phiền muộn cho nhau

    19.

    Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê”

    Câu này người xưa khuyên răn ta nên “nói ít làm nhiều”, đừng “nói nhiều làm ít” kẻo mang tiếng cười, tiếng chê bai

    20.

    Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Đúng vậy, nói nhau làm chi nặng lời bởi trong tình huống nào cũng rất cần chữ”nhẫn”như người xưa khuyên nhủ”một câu nhịn, chín câu lành”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 23 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Tình Yêu Và Tình Bạn
  • Những Câu Chửi Hay Cho Người Nhiều Chuyện Thích Soi Mói
  • 14 Lời Chúc 8/3 Hay Và Ý Nghĩa Nhất Dành Tặng Quý Cô Giáo
  • 45 Câu Nói Hay Nhất Về Mưa Mang Theo Tâm Trạng Buồn, Vui Trong Tình Yêu Và Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Hay Về Mùa Thu
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cách Ăn Uống

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Tâm Trạng Buồn Nhớ Người Yêu Cũ Hay & Xúc Động Nhất
  • Những Lời Chúc Mừng Đám Cưới Hay Và Ý Nghĩa Nhất Chọn Lọc
  • Quà Tặng Cuộc Sống, Số 0 Của Chiếc Cân, Những Câu Nói Hay Về Nghị Lực Trong Cuộc Sống
  • Những Lời Chúc Buổi Tối Vui Vẻ Bằng Tiếng Anh Cho Bạn Cho Tôi
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Tan Vỡ
  • Một số câu ca dao, tục ngữ về cách ăn uống ông bà ta để lại:

    Cơm tẻ mẹ ruột.

    Đói thì thèm thịt thèm xôi

    Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường.

    Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu

    Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày.

    “Muốn cho ngũ tạng được yên

    Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau”

    Tham thực, cực thân

    Ăn bớt bát, nói bớt nhời

    Bớt ăn mấy miếng nhịn thèm hơn đau…

    Hay ăn thì lú

    Hay ngủ thì ngu.

    Râu tôm nấu với ruột bầu,

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi

    Ăn thịt bò không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Trời mưa cho ướt lá dừa

    Cho tươi luống cải cho vừa lòng em.

    Cho em hái đọt rau dền,

    Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

    Bồng em đi dạo vườn cà,

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.

    Chồng chê thì mặc chồng chê,

    Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

    Nhà em có vại cà đầy

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương.

    Dầu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em.

    Một nhà vui vẻ êm đềm,

    Đói no tuỳ cảnh, không thèm luỵ ai.

    Tôm rằn lột bỏ đuôi

    Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

    Ba tiền một khứa cá buôi

    Cũng mua cho được để nuôi mẹ già.

    Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen.

    Bậu câu cá bống, ngắt đầu kho tiêu

    Kho tiêu, kho mở, kho hành

    Kho ba lượng thịt để dành cho em ăn.

    Sống thì cua nướng, ốc lùi

    Chết cũng nên đời, ăn những miếng ngon.

    Sáng ngày bồ dục chấm chanh

    Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chầy.

    Chim, gà, cá, lợn, cành cau

    Mùa nào thức ấy, giữ mầu nhà quê.

    Mua thịt thì chọn miếng mông

    Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi

    Trông mặt mà bắt hình dong

    Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

    Mua bầu xem cuống

    Mua rau xem lá

    Mua cá xem mang

    Mua cua xem càng.

    Con gà tục tác lá chanh

    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,

    Con chó khóc đứng khóc ngồi

    Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng.

    Cá không ăn muối cá ươn.

    Con cưỡng cha mẹ tram đường con hư

    Thịt đầy canh không hành không ngon.

    Cái cò, cái vạc, cái nông

    Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

    Vặt lông con vạc cho tao

    Hành, răm, mắm muối bỏ vào mà thuôn.

    Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng

    Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một nơi

    Mâm thịt kẽo với mâm xôi

    Thịt bùi, xôi dẽo kẽo nơi bà già

    Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa

    Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.

    Nồi cơm kẽo với nồi canh

    Quả bí trên nhành kẽo với tôm he

    Bánh tráng kẽo với nước chè (trà)…

    Cơm nắm ăn với thịt dim

    Vừa bùi vừa dẻo lại thêm mặn mà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top Những Câu Nói Hay Trong Ngôn Tình Hiện Đại Ngọt Ngào Đến Rụng Tim
  • Vì Đời Là Những Chuyến Đi
  • “gạch Đầu Dòng” Những Lời Chúc Kỷ Niệm Ngày Cưới Hay Nhất!
  • Những Câu Stt Hay Nhất Về Tình Yêu Và Cuộc Sống
  • Những Câu Nói Hay Về Tình Yêu Của Con Gái P2
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

    Ăn Bắc nằm Nam

    Ăn bánh trả tiền

    Ăn bánh vẽ

    Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

    Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

    Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng

    Ăn bất thùng chi thình

    Ăn bậy nói càn

    Ăn bền tiêu càn

    Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều

    Ăn biếu ngồi chiếu hoa

    Ăn bơ làm biếng

    Ăn bốc ăn bải

    Ăn bòn dòn tay

    Ăn mày say miệng

    Ăn bóng nói gió

    Ăn bớt bát nói bớt lời

    Ăn bớt cơm chim

    Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày

    Ăn bữa hôm lo bữa mai

    Ăn bừa mứa (bừa bứa)

    Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối)

    Ăn bữa trưa chừa bữa tối

    Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống

    Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày

    Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.

    Ăn cá bỏ lờ

    Ăn cả cứt lẫn đái

    Ăn cà ngồi cạnh vại cà

    Lấy anh thì lấy đến già mới thôi

    Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm

    Ăn cái rau trả cái dưa

    Ăn cầm chừng

    Ăn cam nằm gốc cây cam

    Lấy anh thì lấy, về Nam không về

    Ăn cám xú

    Ăn cận ngồi kề

    Ăn càn nói bậy (nói bừa)

    Ăn canh cả mặn

    Ăn canh không chừa cặn

    Ăn cắp ăn nẩy

    Ăn cắp như ranh

    Ăn cắp quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn cắp vặt

    Ăn cáy bưng tay

    Ăn cây nào rào cây nấy

    Ăn cây sung ngồi gốc cây sung

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

    Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn)

    Ăn cay uống đắng

    Ăn chắc để dành

    Ăn chắc mặc bền (mặc dày)

    Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả

    Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần)

    Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận

    Ăn chẳng hết thết chẳng khắp

    Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh

    Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông

    Khuyên cho đó vợ đây chồng

    Đó bế con gái, đây bồng con trai

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2)

    Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3)

    Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà.

    Bây giờ chê xấu chê xa,

    Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn.

    Ở đâu yểu điệu thanh tân,

    Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả

    Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả,

    Cầm cân đi lừa lại phải thau năm!

    Thau năm đánh lẫn vàng mười

    Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

    Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4)

    Lấy anh thì lấy, về Thanh không về

    Ăn cháo báo hại cho con

    Ăn cháo đá bát (đái bát)

    Ăn cháo để gạo cho vay

    Ăn cháo lá đa

    Ăn cháo lú (cháo thí)

    Ăn chắt để dành

    Ăn châu chấu ỉa ông voi

    Ăn chay nằm đất

    Ăn chay niệm Phật

    Ăn cho buông so

    Ăn chó cả lông

    Ăn hồng cả hột

    Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp)

    Ăn cho no đo cho thẳng

    Ăn chơi cho đủ mọi mùi

    Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình

    Ăn chơi cho hết tháng Hai

    Để làng vào đám cho trai dọn đình

    Trong thời trống đánh rập rình

    Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

    Ăn chơi khắp bốn phương trời

    Cho trần biết mặt, cho đời biết tên

    Ăn chưa no lo chưa tới

    Ăn chưa sạch bạch chưa thông

    Ăn chưa tàn miếng trầu

    Ăn chực đòi bánh chưng

    Ăn chực nằm chờ

    Ăn chung mủng riêng

    Ăn chung ở chạ (ở lộn)

    Ăn chuối không biết lột vỏ

    Ăn có chỗ đỗ có nơi

    Ăn có chủ ngủ có công đường

    Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn có giờ làm có buổi

    Ăn có mời làm có khiến

    Ăn cỗ muốn chòi mâm cao

    Ăn có nhai nói có nghĩ

    Ăn cỗ nói chuyện đào ao

    Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn

    Ăn cỗ phải lại mâm

    Ăn có sở ở có nơi

    Ăn có thời chơi có giờ

    Ăn coi nồi ngồi coi hướng

    Ăn cơm ba chén lưng lưng (*)

    Uống nước cầm chừng để dạ thương em

    Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa

    Ăn cơm chúa múa tối ngày

    Ăn cơm chùa ngọng miệng

    Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Ăn cơm có canh tu hành có vãi

    Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày

    Ăn cơm hom ngủ giường hòm

    Ăn cơm hớt

    Ăn cơm hớt thiên hạ

    Ăn cơm không rau

    Như đánh nhau không người gỡ

    Ăn cơm không rau như đau không thuốc

    Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu

    Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan

    Ăn cơm mới nói chuyện cũ

    Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau)

    Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ

    Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia

    Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng

    Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan

    Ăn cơm nhà vác ngà voi

    Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa

    Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

    Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ

    Ăn cơm sao đặng mà mời

    Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm

    Mình ơi đừng đặng cá quên nơm

    Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

    Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời

    Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

    Ăn cơm tấm ấm ổ rơm

    Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật

    Ăn cơm trên nói hớt

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau

    Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước

    Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt)

    Mía sâu có đốt nhà dột có nơi

    Nghèo hèn giữa chợ ai chơi

    Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

    Ăn của chùa phải quét lá đa

    Ăn của ngon mặc của tốt

    Ăn của người phải làm việc cho người

    Ăn của người ta rồi ra phải trả

    Ăn của người vâng hộ người

    Ăn của rừng rưng rưng nước mắt

    Ăn cùng chó ló xó cùng ma

    Ăn cướp cơm chim

    Ăn cứt không biết thối

    Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao)

    Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang

    Ăn đã vậy nói làm sao

    Ăn dầm nằm dề

    Ăn đàn anh làm đàn em

    Ăn đằng sóng nói đằng gió

    Ăn đầu sóng nói đầu gió

    Ăn đấu trả bồ

    Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ

    Ăn đây nói đó

    Ăn dè dặt

    Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn

    Ăn dè xẻng

    Ăn đến nơi làm đến chốn

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn đi trước lội nước theo sau

    Ăn đổ ăn vãi

    Ăn đỡ làm giúp

    Ăn đổ làm vỡ

    Ăn dơ ở bẩn

    Ăn dò sau cho dò trước

    Ăn độc chốc đít

    Ăn đói mặc rách

    Ăn đợi nằm chờ

    Ăn đói nằm co

    Ăn đời ở kiếp

    Ăn đồng chia đủ

    Ăn đong cho đáng ăn đong

    Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng)

    Ăn đua cho đáng ăn đua

    Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng

    Ăn dùa thua chịu (thua giựt)

    Ăn dưng ở nể

    Ăn được ngủ được là tiên

    Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo)

    Ăn đứt thiên hạ

    Ăn gạo tám chực đình đám mới có

    Ăn già ăn non

    Ăn giả vạ thật

    Ăn gian nói dối

    Ăn gian nói dối đã quen

    Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người

    Ăn gio bọ trấu

    Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau)

    Ăn gió nằm sương

    Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ

    Ăn gởi nằm nhờ

    Ăn ha hả trả ngùi ngùi

    Ăn hại đái nát

    Ăn ham chắc mặc ham dày

    Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão)

    Ăn hết cả phần cơm chó

    Ăn hết cả phần con phần cháu

    Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ

    Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài

    Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương)

    Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu

    Ăn hết nước hết cái

    Ăn hết phần chồng phần con

    Ăn hiền ở lành

    Ăn hóc học nên

    Ăn hối lộ

    Ăn hơn hờn thiệt

    Đánh thiệt đuổi đi

    Làm chi thì làm

    Ăn hơn nói kém

    Ăn hương ăn hoa

    Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít ngon nhiều

    Ăn đều tiêu sòng

    Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

    Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói

    Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói

    Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ

    Ăn không biết chùi mép (chùi miệng)

    Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa)

    Ăn không biết lo của kho cũng hết

    Ăn không biết no lo chẳng tới

    Ăn không biết no vô lo vô nghĩ

    Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời

    Cây cao bóng cả chẳng ngồi

    Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

    Ăn không biết trở đầu đũa

    Ăn không được đạp đổ

    Ăn không được phá cho hôi

    Ăn không được thì bảo rằng hôi

    Ăn không kịp nuốt

    Ăn không kịp thở

    Ăn không nên đọi nói không nên lời

    Ăn không ngồi rồi

    Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi

    Ăn không nói có

    Ăn không ra bữa

    Ăn không rau như đau không thuốc

    Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em

    Ăn kiêng ăn khem

    Ăn kiêng cữ

    Ăn kiêng khem

    Ăn kiêng nằm cữ

    Ăn kỹ làm dối

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất

    Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng)

    Ăn la ăn lết

    Ăn la ăn liếm

    Ăn lắm đau bụng

    Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền

    Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn

    Ăn lắm ỉa nhiều

    Ăn làm sao nói làm vậy

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ

    Ăn lắm trả nhiều

    Ăn lạt mới biết thương mèo

    Ăn lấy chắc mặc lấy bền

    Ăn lấy đặc mặc lấy dày

    Ăn lấy đời chơi lấy thì

    Ăn lấy được

    Ăn lấy hương lấy hoa

    Ăn lấy no mặc lấy ấm

    Ăn lấy thảo

    Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo

    Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang

    Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong

    Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn)

    Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi

    Ăn lông ở lỗ

    Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám

    Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư

    Ăn lúc đói nói lúc say

    Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng

    Ăn mặc như đồ ba gà

    Ăn mặc như em quần áo lam lũ

    Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương

    Ăn mắm lắm cơm

    Ăn mắm mút dòi

    Ăn mắm phải nhắm chén cơm

    Ăn mắm phải ngắm về sau

    Ăn mặn hay khát nước

    Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

    Ăn mận trả đào

    Ăn mảnh

    Ăn mảnh khảnh

    Ăn mật trả gừng

    Ăn mày ăn xin

    Ăn mày cầm tinh bị gậy

    Ăn mày chẳng tày giữ bị

    Ăn mày chính thực là ta

    Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày

    Ăn mày còn đòi sang,

    Ăn mày công đức

    Ăn mày cửa Phật

    Ăn mày đánh đổ cầu ao

    Ăn mày đòi xôi gấc

    Ăn mày hoàn bị gậy

    Ăn mày không tày giữ bị

    Ăn mày mà đòi xôi gấc

    Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con

    Ăn mày quen ngõ

    Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi)

    Ăn miếng ngon chồng con trả người

    Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà

    Ăn miếng ngọt trả miếng bùi

    Ăn miếng trả miếng

    Ăn mít bỏ xơ

    Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng

    Ăn một bát hát một câu

    Ăn một bữa một heo

    Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô.

    Ăn một đền mười

    Ăn một đời chơi mội thì

    Ăn một đọi nói một lời

    Ăn một lại muốn ăn hai

    Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường)

    Ăn một miếng tiếng để đời

    Ăn một nơi nằm một chốn

    Ăn một nơi ngủ một nẻo

    Ăn một thời chơi một thì

    Ăn muối còn hơn ăn chuối chát

    Ăn mướp bỏ xơ

    Ăn nạc bỏ cùi

    Ăn năn thì sự đã rồi

    Ăn nay lo mai

    Ăn nên đọi nói nên lời

    Ăn nên làm ra

    Ăn nên nợ đỡ nên ơn

    Ăn ngang nói ngược

    Ăn ngập mặt ngập mũi

    Ăn ngấu ăn nghiến

    Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng

    Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành

    Ăn ngay ở thẳng

    Ăn ngon lành

    Ăn ngon ngủ kỹ

    Ăn ngọn nói hớt

    Ăn ngọt trả bùi

    Ăn ngủ bận như thợ nề

    Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm

    Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm

    Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

    Ăn ngủ đụ ỉa

    Ăn ngược nói ngạo

    Ăn nhà chú ngủ nhà cô

    Ăn nhai không kịp

    Ăn nhạt mới biết thương mèo

    Ăn nhiều ăn ít

    Ăn bằng quả quít cho nó cam

    Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu

    Ăn nhịn để dè

    Ăn nhỏ nhẻ

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo

    Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ)

    Ăn nhờ sống gởi

    Ăn nhồm nhoàm

    Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ

    Ăn như bò ngốn cỏ

    Ăn như cũ ngủ như xưa

    Ăn như gấu ăn trăng

    Ăn như hộ pháp ăn nẻ

    Ăn như hủi ăn thịt mỡ

    Ăn như hùm như hổ

    Ăn như kễnh đổ đó

    Ăn như mèo

    Ăn như mõ khoét

    Ăn như Nam Hạ vác đất

    Ăn như quỷ phá nhà chay

    Ăn như rồng cuốn

    Làm như cà cuống lội ngược

    Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi)

    Ăn như thần trùng đổ đó

    Ăn như thúng lủng khu

    Ăn như thủy tề đánh vực

    Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng

    Ăn như tráng làm như lão

    Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi

    Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi

    Ăn no bò cỡi

    Ăn no cho tiếc

    Ăn no đến cổ còn thèm

    Ăn no giậm chuồng

    Ăn no hôm trước lo được hôm sau

    Ăn no lại ngồi mười đời không khá

    Ăn no lo được

    Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn

    Ăn no ngủ kỹ

    Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì

    Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời

    Ăn no phè phỡn

    Ăn no ra ngả

    Ăn no rồi lại nằm khèo

    Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem

    Ăn no rồi lại nằm quèo

    Thấy giục trống chèo vội vã đi xem

    Ăn no rửng mỡ

    Ăn no tận cổ còn thèm

    Ăn no tức bụng

    Ăn no vác nặng

    Ăn nói ác khẩu

    Ăn nồi bảy quăng ra

    Ăn nồi ba đưa vào

    Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào

    Ăn nói bộp bộp tộp

    Ăn nói bộp chộp

    Ăn nói chanh chua

    Ăn nói chảnh lỏn

    Ăn nói chết cây gẫy cành

    Ăn nói chua ngoa

    Ăn nói chững chạc

    Ăn nói có duyên

    Ăn nói dịu dàng

    Ăn nói dóng đôi

    Ăn nói giọng một

    Ăn nói hồ đồ

    Ăn nói hớ hênh

    Ăn nói hỗn xược

    Ăn nói khiêm tốn

    Ăn nói khúc chiết

    Ăn nói lấp lững

    Ăn nói lễ độ

    Ăn nói luộm thuôm

    Ăn nơi nằm chốn

    Ăn nói ra vẻ

    Ăn nói rành mạch

    Ăn nói thô tục

    Ăn nói từ tốn

    Ăn nói vớ vẩn

    Ăn nói xấc láo

    Ăn nói xấc xược

    Ăn ở có giời

    Ăn ở có thủy có chung

    Ăn ở hai lòng

    Ăn ở thất đức

    Ăn ở thiện thì có thiện thần biết

    Ăn ở ác có ác thần hay

    Ăn ở thủy chung

    Ăn oản của chùa phải quét lá đa

    Ăn ốc nói mò

    Ăn ốc nói mò

    Ăn măng nói mọc

    Ăn cò nói bay

    Ăn ớt nói càn

    Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy

    Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê.

    Ăn phải đũa

    Ăn phải mùi chùi phải sạch

    Ăn phải nhai nói phải nghĩ

    Ăn phùng má trợn mắt

    Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu

    Ăn quà cho biết mùi quà

    Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn

    Ăn quả nhả hạt (nhả hột)

    Ăn quả nhớ kẻ làm vườn

    Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2)

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3)

    Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông

    Đường đi cách bến cách sông

    Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4)

    Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5)

    Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn

    Ta đừng phụ nghĩa vong ân

    Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6)

    Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa

    Ăn quà như mõ khoét

    Ăn quả trả vàng

    Ăn quả vả trả quả sung

    Ăn quẩn cối xay

    Ăn quán ngủ đình

    Ăn quen bén mùi

    Ăn quen chồn đèn mắc bẫy

    Ăn quen nhịn không quen

    Ăn rá cơm ỉa rá cơm

    Ăn ráy ngứa miệng

    Ăn rồi cắp đít đi chơi

    Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa

    Ăn rồi dắt vợ lên rừng

    Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai.

    Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng

    Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về

    Ăn rồi quẹt môi

    Ăn rươi chịu bão cho cam

    Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều

    Ăn sạc nghiệp

    Ăn sạch bát sạch dĩa

    Ăn sao cho được mà mời

    Thương sao cho được vợ người mà thương

    Ăn sao đền vậy

    Ăn sạt nghiệp

    Ăn sau đầu quét dọn

    Ăn sâu ngập cánh

    Ăn se sẻ đẻ ông voi

    Ăn sổi ở thì

    Ăn sóng nói gió

    Ăn sống nuốt tươi

    Ăn sung mặc sướng

    Ăn sung ngồi gốc cây sung

    Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (2)

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng!

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (3)

    Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai?

    Ăn sung ngồi gốc cây sung (4)

    Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

    Ăn sung trả ngáy

    Ăn tái ăn tam

    Ăn tại phủ ngủ tại công đường

    Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà

    Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi

    Ăn tàn phá hại

    Ăn táo trả hột

    Ăn tay ăn túi

    Ăn tham chắc mặc tham dày

    Ăn tham lam làm trốc mép

    Ăn thanh cảnh

    Ăn thanh nói lịch

    Ăn thật làm dối

    Ăn thật làm giả

    Ăn thất nghiệp trả quan viên

    Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời)

    Ăn thì ăn (lựa) những món ngon

    Làm thì chọn việc cỏn con mà làm

    Ăn thì ăn trước ngồi trên

    Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ.

    Ăn thì có mó thì không

    Ăn thì có ó thì không

    Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng

    Ăn thì em chả kém ai

    “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ”””

    Ăn thì ha hả trả thì hu hu

    Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh

    Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy

    Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu

    Ăn thì no cho thì tiếc

    Ăn thì nồi bẩy nồi ba

    Làm thì nống một, nống ba kéo dài

    Có làm cũng chẳng bằng ai

    Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

    Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu)

    Ăn thiệt làm dối

    Ăn thịt người không tanh

    Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Ăn thô nói tục

    Ăn thô tục nói thô lỗ

    Ăn thóc tìm giống

    Ăn thừa mứa

    Ăn thừa nói thiếu

    Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã)

    Ăn thúng trả đấu

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi

    Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.

    Hỡi người quân từ trăm năm

    Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

    Ăn tìm đến đánh tìm đi

    Ăn to như đầu beo

    Làm việc như đuôi chuột.

    Ăn to nói lớn

    Ăn to uống đậm

    Ăn tối lo mai

    Ăn tôm cấu đầu

    Ăn trầu nhả bã

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây

    Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2)

    Uống nước nhớ người đào giếng

    Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3)

    Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng

    Ăn trắng mặc trơn

    Ăn trầu chọn lấy cau khô

    Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng

    Cô bán hàng lòng cô buồn bã

    Bóng xế chiều bóng ngả về tây

    Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

    Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi

    Ăn trầu mà có vỏ chay

    Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm

    Ăn trầu nhà trai

    Ăn trầu phải mở trầu ra

    Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi

    Ăn trầu thì bỏ quên vôi

    Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng!

    Ăn trầu thì phải có vôi

    Cúng rằm thì phải có xôi có chè

    Ăn trên ngồi trốc

    Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài

    Ăn trên ngồi trước (nói trước)

    Ăn tro bọ trấu

    Ăn trộm ái tình

    Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên

    Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại.

    Ăn trộm chê vải hẹp khổ

    Ăn trộm có tang chơi ngang có tích

    Ăn trộm của trời

    Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn trông xuống uống trông lên

    Ăn trứng thì đừng ăn con

    Ăn trước bước không nổi

    Ăn trước trả sau

    Ăn từ dần chí dậu

    Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa

    Ăn từ đầu dần tới cuối dậu

    Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ

    Ăn tục nói phét

    Ăn tươi nuốt sống

    Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi

    Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi

    Ăn tùy nơi chơi tùy chốn

    Ăn tuyết nằm sương (uống sương)

    Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi

    Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi

    Ăn uống vô độ

    Ăn vãi đầu vãi đuôi

    Ăn văng đổ vãi

    Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân

    Ăn vặt quen mồm

    Ăn vay từng bữa không cửa không nhà

    Ăn vi chủ ngủ vi tiên

    Ăn vô điều độ

    Ăn vô độ (vô hậu)

    Ăn vóc học hay

    Ăn vóc học nên

    Ăn vừa ở phải

    Ăn vung bỏ vãi

    Ăn vụng chóng no

    Ăn vụng không biết chùi mép

    Ăn vụng ngon miệng

    Ăn vụng xó bếp

    Ăn xì xà xì xụp

    Ăn xin cho đáng ăn xin

    Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa

    Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn)

    Ăn xó bếp uống nước ao

    Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

    Ăn xô bồ

    Ăn xó mó niêu

    Ăn xôi chùa ngậm họng

    Ăn xôi chùa quét lá đa

    Ăn xôi không bằng đôi đĩa

    Ăn xôi nghe kèn

    Ăn xổi ở thì

    Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi

    Ăn xong không biết chùi mép

    Ăn xong quẹt mỏ

    Ăn xưa chừa nay (sau)

    Ăn xuôi nói ngược

    Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

    Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

    Hàn Lệ Nhân

    (Sưu tầm, lược soạn)

    Ăn mới thực văn nhân tài tử,

    Ăn nguyên là văn tự quốc gia.

    “Trăm năm trong cõi người ta”,

    Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.

    (Đào Trọng Đủ)

    Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

    Mở đầu :

    Ai mở cuộc thi

    [ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

    1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy.

    Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

    2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

    3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

    Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

    4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau:

    a/ Có nên thống nhất triệt để ?

    b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ?

    c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

    ********************

    Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

    Ai mở cuộc thi

    để tôi kiêu ngạo,

    tôi trêu giám khảo,

    tôi nhạo chàng Phan.

    Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

    Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

    Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

    Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

    Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi

    Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

    Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

    Antony ngày 28-6-1979

    Cô Đào

    Để tôi kiêu ngạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÂN TỪ

    nhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo

    và các em học sinh về dự chuyên đề

    Môn ngữ văn

    Giáo viên thực hiện: Lê Thị Như Hoa

    Lời ăn tiếng nói

    trong tục ngữ – ca dao

    A. Lời ăn tiếng nói là vẻ đẹp của con người, là phương tiện thể hiện nội tâm.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Bảy thương nết ở khôn ngoan

    Tám thương ăn nói lại càng thêm thương”

    Gió đưa mười tám lá me

    Mặt rỗ hoa mè, ăn nói có duyên

    Thương chàng lắm lắm chàng ơi

    Nhớ miệng chàng nói, nhớ lời chàng than

    ” Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”.

    * Lời nói đẹp là lời nói thanh ( không tục )

    * Lời nói đẹp là lời nói đúng sự thật , không ba hoa tô vẽ, không vòng vo , rắc rối.

    ” Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu”

    * Lời nói đẹp là lời nói dịu dàng.

    * Lời nói đẹp là lời nói có duyên.

    ” Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe “.

    ” Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên “.

    ii. Những ảnh hưởng của lời nói trong cuộc sống

    * Lời nói làm cho người ta si mê:

    Chim khôn chết mệt vì mồi

    Người khôn chết mệt vì lời nhỏ to.

    * Lời nói đem lại niềm phấn khởi: ” Được lời như cởi tấm lòng” hoặc gây ra nỗi xót xa:

    ” Dao vàng cắt ruột máu rơi

    Ruột đau chẳng mấy bằng lời em than.”

    * Lời nói có thể đem lại lợi ích vật chất, hoặc cũng có thể gây xích mích bất hòa:

    – Một lời nói quan tiền thúng thóc.

    – Một lời nói dùi đục cẳng tay.

    * Ghê gớm hơn, nó có thể gây thù chuốc oán, có khi gây bùng nổ can qua:

    – Một lời nói một đọi máu.

    – Khẩu thiệt đại can qua.

    * Trong đời sống tình cảm,lời nói tác động sâu sắc dai dẳng suốt chiều dài thăm thẳm của đời người:

    ” Dế kêu cho giải cơn sầu

    Mấy lời em nói bạc đầu chưa quên”

    III. Lời nói – phương tiện giáo dục hiệu quả.

    ” Người khôn không nỡ roi đòn

    Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay”

    ” Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”.

    ” Sẩy chân gượng lại cho vừa

    Sẩy miệng còn biết đá đưa đường nào”

    * Thay cho roi vọt và những lời thét mắng thô lỗ cục cằn

    – ” Học ăn, học nói, học gói, học mở”

    – ” Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”

    ” Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

    – ” Ăn nhai nói nghĩ “

    iv. Phương châm nói năng trong tục ngữ – ca dao.

    * Trong nói năng cần chú ý tính chất ngắn gọn, cô đọng, súc tích. Kiệm lời là phương châm hết sức quan trọng.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời

    Miếng ngon ăn ít ngon nhiều

    Người khôn dẫu nói nửa điều cũng khôn.

    * Nói thừa – một điều tối kị trong giao tiếp

    – Nói dài, nói dai, nói dại

    Ăn lắm thì hết miếng ngon

    Nói lắm thì hết lời khôn hóa rồ.

    Rượu nhạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

    Cái răng cái tóc là góc con người. Lời ăn tiếng nói cũng là góc con người, một góc rất quan trọng nữa. Do vai trò to lớn của nó cho nên từ bao đời nay nó đã được quan tâm, được đúc kết và gìn giữ trong những câu ca dao tục ngữ. Với chúng ta ngày nay, biết ăn nói lịch sự văn minh là yêu cầu quan trọng của con người có văn hóa. Dù làm nghề nghiệp gì, dù ở cương vị nào của xã hội mỗi người không thể không chú ý nói ý đẹp lời hay. Lời ăn tiếng nói là của mỗi cá nhân, nhưng nó lại góp vào trình độ văn hóa nói chung của dân tộc. Muốn nâng cao văn hóa của lời nói phải học ăn học nói.

    ” Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được”

    Hồ Chí Minh

    Kính chúc các thầy cô giáo và các em mạnh khoẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Em Hãy Tìm Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Sự Kính Trọng Và Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Giải Bài 9: Kính Trọng, Biết Ơn Người Lao Động
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Cái Đẹp, Kinh Nghiệm Sống, Nụ Cười
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Kinh Nghiệm Sống
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực

    --- Bài mới hơn ---

  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • Ẩm thực Việt Nam cũng khá có tiếng trên thế giới với rất nhiều món đặc trưng như Phở, nem rán, phở cuốn… và nhiều món khác ở khắp các vùng miền bắc trung nam nơi nào cũng có những món ăn đặc trưng rất riêng. PHong cách ẩm thực hiện tại cũng được giao thoa rất nhiều giữa các vùng đặc biệt là các món ngon và nổi tiếng. Ở các thành phố lớn các bạn có thể dễ dàng gặp rất nhiều các món ăn khác nhau với đầy đủ các thương hiệu nổi tiếng hoặc là món ăn nổi tiếng. TPHCM là 1 trong những thành phố có thể nói là giao thoa văn hóa ẩm thực ăn uống nhiều nhất vì nơi đây đủ văn hóa của các miền hơn so với các thành phố khác. Những câu ca dao tục ngữ về món ăn, ăn uống, ẩm thực hay và ý nghĩanhất

    Đối với con người thì việc ăn uống là một vấn đề hết sức quan trọng, một vấn đề mọi ai cũng quan tâm trong cuộc sống này. Ăn uống một phần là thưởng thức, là tận hưởng và bên cạnh đó ăn uống còn là vấn đề về sức khỏe. sức khỏe của chúng ta ảnh hưởng ít nhiều bởi những thức ăn, đồ uống mà chúng ta sử dụng hằng ngày. Văn hóa ẩm thực được hội tụ bởi nhiểu quốc gia, mỗi vùng khác nhau. Mỗi quốc gia, mỗi vùng sẽ có một đjăc trưng, đặc điểm và những món ăn riêng biệt nổi tiếng của vùng đó.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú đa dạng với nhiều các mon ăn ngon trên khắp các vùng miền

    Những món ăn nổi tiếng mà khi nhắc đến địa danh đó ta sẽ biết đó là món ăn đặc sản nào. Nhắc đến bánh cốm ta sẽ nghĩ ngay đến Hà Nội, khi nhắc đến Quảng Nam ta sẽ nghĩ ngay đến mỳ Quảng, nói đến bánh ít lá gai thì ta không thể bỏ qua Bình Định,…. Nhưng một nơi không phải chỉ có một món đặc trưng mà có rất nhiều món đặc trưng, những món ăn ấy đánh dấu đặc trưng, đặc điểm của vùng. Chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về món ăn, ăn uống, ẩm thực để hiểu rõ hơn về món ăn, ăn uống, ẩm thực.

    Ca dao tụ ngữ về ăn uống:

    Câu 1:

    • Ăn chậm, nhai kỹ, no lâu
    • Ăn nhanh, chóng đói, lại đau dạ dày

    Đây là câu ca dao khuyên chúng ta về cách ăn uống, ăn uống như thế nào cho hợp lí, ăn uống như thế nào cho đúng cách. Câu ca dao trên khuyên chúng ta ăn chậm, nhai kĩ, no lâu để có được sức khỏe tốt cũng như là cách ăn uống đúng cách cho bản thân.

    Câu 2:

    • Muốn cho ngũ tạng được yên
    • Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau

    Câu 3:

    • Râu tôm nấu với ruột bầu,
    • Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Đây là câu ca dao nói về một món ăn là râu tôm nấu với ruột bầu. tuy nhiên đây không phải là câu ca doa nói về món ăn mà còn nói lên tình cảm của những người nấu ăn danh cho món ăn ấy.

    Câu 4:

    • Ăn cơm không rau như đau không thuốc
    • Ăn cơm có canh như tu hành có bạn

    Đây là một câu nói về cách ăn uống, ăn uống mà không có rau, không có canh thì cũng như đau không thuốc, như tu không có bạn. chính vì thế khi ăn cơm nên có thuốc, có rau sẽ rất tốt cho sức khỏe.

      Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy

    Ăn cơm với cáy thì ngáy o o…

    Như ăn gỏi không rau mơ

    • Ăn tôm cấu đầu, ăn trầu nhả bã
    • Thương chồng nấu cháo le le

    Nấu canh hoa lý, nấu chè hột sen.

      Rau cải nấu với cá rô

    Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng.

    • Học ăn, học nói, học gói, học mở
    • Ăn lấy chắc, mặc lấy bền
    • Cơm là gạo, áo là tiền
    • Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

      Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe

      Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

      Người khôn ăn nói nửa chừng

    Để cho người dại nửa mừng nửa lo

      Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê”

      Kim vàng ai nỡ uốn câu

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Ca dao tục ngữ về ăn món ăn, ẩm thực:

    Câu 1:

    • Chẳng ai nhớ cháo làng Ghề
    • Nhớ cơm phố Mía, nhớ chùa Đông Viên.

    Đây là một câu ca dao nói về ẩm thực đặc trưng của vùng miền. khi đến với làng Ghề chúng ta sẽ nhớ đến cháo, còn có cơm phố Mía và chùa Đông Yên, đây là những đặc điểm nổi tiếng của Hà Nội.

    Câu 2:

    • Dưa La, cà Láng , nem Báng, tương Bần
    • Nước mắm Van Vân, cá rô Đầm Sét.

    Đây là những món ăn đặc sắc của vùng Thanh Hóa, một tỉnh miền Trung đầy nắng gió. Đến với nơi đây chúng ta sẽ có nhiều món ngon để thưởng thức như

    Câu 3:

    • Yến xào Vĩnh Sơn
    • Nam sâm Bố Trạch
    • Cua gạch Quảng Khê
    • Sò nghêu Quan Hà
    • Rượu dâu Thuần Lý

    Đây là những câu ca dao nói về những món đặc sản của miền Trung. Mỗi địa danh có một đặc trưng, một đặc sản nổi tiếng. đó được xem như là đặc trưng riêng, cách nhận biết mỗi vùng.

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Thơm rượu Tam kỳ

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

      Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

    Về sông ăn cá ,về đồng ăn cua.

      Anh thương em chẳng nại sang giàu

    Mứt hồng đôi lượng , trà Tàu đôi cân.

      mâm trầu hủ ruợu đàng hoàng

    Cây mai đến nói, phụ mẫu nàng thì xong.

      Tay bưng quả nếp vô phòng

    đèn hương đôi ngọn , chữ bá tòng cầu hôn.

      Tiếng đồn con gái Phú Yên

    Con trai Bình Thuận đi cưới một thiên cá mòi.

      Mẹ tôi tham thúng xôi dền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ “đừng”.

    Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ chồng thấp vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

    Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

    Ai ơi, chua ngọt đã từng

    Non xanh, nước biếc ta đừng quên nhau.

    Câu con cá bống ,nấu canh tập tàng.

      Năm tiền một khúc cá buôi

    Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

    Để con bắt ốc hái rau má nhờ

    Má ơi đừng đánh con hoài

    Để con bắt ốc hái xoài mà ăn.

    Để cơm nuôi mẹ , mẹ già yếu răng.

      Rượu nằm trong nhạo chờ nem

    Anh nằm phòng vắng chờ em một mình .

    Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng.

      Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon.

    • Trời đánh còn tránh bữa ăn
    • Có thực mới vực được đạo
    • Dân dĩ thực vi tiên (người dân lấy ăn làm đầu)
    • Ăn được ngủ được là tiên
    • Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
    • Miếng ăn là miếng nhục
    • Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp
    • Ăn cây nào rào cây nấy
    • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
    • Con gà cục tác lá chanh

    Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

    Con chó khóc đứng khóc ngồi

    Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

    Vịt lội Ninh Hòa

    Tôm hùm Bình Ba

    Sò huyết Cam Ranh

    Nai khô Diên Khánh

      Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.

    Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.

      Trên non túc một hồi còi,

    Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

    Không đi thì sợ quan đòi.

    Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.

      Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Bánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đốc.

      Ba phen quạ nói với diều.

    Cù lao Ông chưởng có nhiều cá tôm.

    Tháng tư cơm gói ra Hòn

    Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.

      Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.

    Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

    Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

      Mẹ mong gả thiếp về vườn.

    Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

      Khoan khoan mổ một con gà

    Bí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.

      Đốt than nướng cá cho vàng.

    Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

    Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu

    Kho tiêu, kho ớt, kho hành

    Kho ba lượng thịt để dành mà ăn. . .

    Nhiều món ăn ẩm thực của Việt Nam đã thành thương hiệu nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài hấp dẫn khác du lịch trong và ngoài nước. Ngoài ra việc ăn uống ẩm thực cũng được người xưa rất chú trọng và mỗi kinh nghiệm ẩm thực hoặc các món ăn cũng được người xưa đúc kết thành những câu ca dao tục ngữ hay để truyền đạt lại cho con cháu. Những câu ca dao và tục ngữ về món ăn, ẩm thực hay ăn uống trên kia không chỉ giúp các bạn siêu tầm mà ban jcunxg có thể suy ra rất nhiều những kinh nghiệm thực tế trong ẩm thực ăn uống khi chế biến các món ăn hằng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam Pot
  • Ca Dao, Tục Ngữ 3 Miền Vn
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội: Thời Gian Là Vàng Bạc, Văn Mẫu Lớp 7, Tu
  • Giới Thiệu Sách Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • 1. Dĩ thực vi tiên Ngày xưa, có người đã nhận thấy cái tánh cách tối quan trọng của miếng ăn trong đời sống con người nên đã chủ trương “Dĩ thực vi tiên”. Phải ăn đã, rồi muốn gì hãy hay. Văn nghệ, triết lý, tôn giáo, v.v… đều phải đứng sau cái ăn. Chẳng thế mà có người nhất định đòi hỏi ngay sự thỏa mãn cái bao tử trước khi bắt tay vào một việc đã cả gan hô hào: “Có thực mới vực được đạo”. Câu triết lý vị nhân sinh trên kéo người về thực tại, đặt trước những vấn đề cần phải giải quyết hàng ngày. Dù cho kẻ sĩ đã khuyên “Thực bất cầu bão”, nghĩa là ăn chẳng cần no, nhưng trước sự dày vò mãnh liệt của cái nhu cầu số một thì con người đạo lý cũng không thể làm gì khác hơn như thầy đồ sau đây :

    Cái cười vừa trào lộng, vừa thiết thực trên đã hé cho ta thấy được một phần cái nhân sinh quan của người bình dân. Tuy nhiên, ăn thì cũng có năm bảy đường ăn. Và nghệ thuật ăn cũng đòi hỏi lắm công phu. Ăn phải thế nào? Trong một xã hội xô bồ, giữa những ý nghĩ phiền toái về nhân sinh thì miếng ăn phải được đánh giá thế nào cho hợp lý? Ta hãy thử tìm hiểu quan niệm về miếng ăn trên lãnh vực ca dao, tục ngữ.

    2. Miếng ăn mang tính dân tộc

    Mỗi lần nghĩ đến một địa phương nói hẹp hay một dân tộc nói rộng ra là người ta nghĩ ngay đến những món ăn của địa phương hay của dân tộc ấy. Ai lại không hay nhắc nhở đến món gỏi cá sống của người Nhật, món ca-ry cay của người Ấn, món mỳ sợi của người Ý, các thứ phô-mách của người Pháp và các món mắm đặc biệt của người Việt Nam. Trong ca dao, tục ngữ, ta thấy nhiều địa danh được nhắc nhở đến bên cạnh tên những món ăn được nêu ra. Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyến luyến mặn nồng những món ăn địa phương, hạp với khẩu vị người từng vùng, người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miền Bắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miền Bắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thở :

    Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọng thành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương. Nếu có lìa làng xa xứ, thì lòng người dân cũng ngập ngừng, xót xa : Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt : Còn những người sành ăn thì bao giờ cũng thích :

    Nhất béo, nhì bùi là cá rô câu. Trăm đám cưới chẳng bằng hàm dưới con cá trê. Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Chắc hẳn, những món ăn đặc biệt nấu với những bộ phận của mỗi thứ cá trên đã làm khoái khẩu thực khách. Lẽ dĩ nhiên, thực khách cũng khó mà quên địa phương đã cung cấp “đồ nhắm” ấy cho mình. Rồi khách du rời miền Bắc, vào đến xứ Trung thì làm sao quên được :

    Cái chất giải khát ủ bằng dâu rừng chua chua, ngọt ngọt của miền này đã hơn một lần đắm say lòng người trai: Rượu ở đây thật đã lấn át cả ảnh hưởng của tình ái, đã làm khách rượu quên hẳn hình ảnh yểu điệu của người thục nữ. Vô tới Huế, đất Đế đô, ta thưởng thức :

    Tất cả các món ăn trên đã làm cho khách khó quên được hình ảnh duyên dáng của các tỉnh đã vượt qua. Nhưng kìa, những tỉnh bên kia đèo Hải Vân như ân cần mời mọc khách. Dù lòng khách đã bâng khuâng khi trèo núi vượt đèo, nhưng cùng khuây khỏa phần nào nếu được nếm các món ăn xứ Quảng :

    Ở đây, trên eo đất hẹp lách mình giữa dãy Hoành Sơn cao ngất và biển cả mênh mông, người dân cần thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa hai miền sơn cước và đồng bằng hơn đâu hết để chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Tình đoàn kết cần thiết cho sự sống còn của người miền Trung được biểu hiện trong câu ca dao :

    Đất hẹp người đông, nếu bành trướng ra phía Đông thì gặp trở ngại của biển cả, nên đành quay lên rừng vỡ đất, làm quen với vùng sơn cước : Măng giang nấu cá ngạch nguồn Đến đây nên phải bán buồn mua vui.

    Thật ra, món ăn của núi rừng có làm khuây được nỗi sầu muộn không? Coi chừng đấy, người ta không phải chỉ dùng những nét quyến rũ của một nhan sắc để nhen một

    mối tình, mà còn dùng hương vị của một món ăn mộc mạc để cám dỗ người trai xa xứ : Hay là : Vào đến Quảng Ngãi, ta thưởng thức : Đến Quy Nhơn, ta nếm được hương vị đậm đà của món bánh ít lá gai : Vào tới Khánh Hòa, ta được dịp thưởng thức các món sơn hào hải vị :

    Lòng khách cảm thấy thoải mái, thơ thới khi đặt chân đến miền Nam phì nhiêu, dân cư yên vui và ai lại không biết tiếng:

    Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.

    Ngoài ra, đất ở đây thì rộng, dân thì thưa thớt, cái xứ ruộng cò bay thẳng cánh, có tiếng là nơi hưởng được đời sống tương đối sung túc vì thực phẩm dồi dào :

    Ở các đảo ven bờ biển trong vịnh Thái Lan có những khu rừng sác trù mật mà các loại chim biển thường về trú ngụ, làm tổ : Mỗi miền lại sản xuất một món ăn mang hương vị đặc biệt :

    Cá, tôm, cua, còng dồi dào đã nuôi sống người dân, nhưng vật thực cần phải thêm các loại rau cải để các món ăn đưỡc cải thiện cho thích với khẩu vị : Cho đến gia vị thêm thắt vào nồi canh cá để cho món ăn đậm đà, quyến rũ hơn cũng được ca tụng : Miền Nam cũng có nhiều món ăn đặc biệt như món hầm gà sau đây : Và các tay rượu thì không thích gì bằng:

    Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh.

    ♦♦♦

    1. Tập quán, lễ nghi qua mỗi món ăn

    Các món ăn được nhắc nhở đến như thế vì đã liên hệ đến tính chất của mỗi địa phương. Cho nên, trong lễ nghi cưới xin, miếng ăn biến thành lễ vật, thay đổi tùy theo từng vùng. Sau mối tình khắn khít thì người con trai phải nhờ đến lễ nghi để hợp thức hóa cuộc sống chung tương lai.

    Hay là lễ vật đơn sơ:

    Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng

    Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong.

    Hay là : Cũng có vùng lấy sản phẩm địa phương làm lễ vật : Cũng đôi khi cuộc tình duyên ép uổng đã làm khổ sở người con gái phải ngậm ngùi phục tùng lễ giáo, vâng lời tuyệt đối người trên, cha mẹ “đặt đâu thì ngồi đó”. Cái tập quán “ép uổng duyên con” ấy thường đi theo với sự ham muốn “môn đăng hộ đối”, sự tham lam lễ vật quá ư linh đình của nhà trai :

    Mẹ tôi tham thúng xôi rền

    Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

    Tôi đã bảo mẹ rằng: “Đừng!”

    Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào

    Bây giờ kẻ thấp người cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

    Lời than thân trách phận của người đàn bà bị ép duyên với người chồng không cân xứng nghe thật xót xa, não nùng. Và đây, cũng ở trong vòng tập quán, khi nghe tiếng cu kêu báo hiệu mùa hoa nở đến, ta lại liên tưởng đến Tết, đến những ngày đầu xuân rảnh rang đầy những bữa ăn ngon, bao giờ cũng có nồi chè dân tộc : Cu kêu ba tiếng, cu kêu

    Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

    Hồi trước, ở nhà quê, lúc chế độ xôi thịt còn đang thịnh hành thì được làng chia cho một phần thịt thật là cả một vinh dự : “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

    Bồng em đi dạo vườn cà

    Cà non chấm mắm, cà già làm dưa

    Làm dưa ba bữa dưa chua…

    Có phải hình ảnh nhàn hạ ở đồng quê yên vui đã giữ chặt con người với nơi chôn nhau cắt rốn :

    ♦♦♦

    PHẦN 03: MIẾNG ĂN THỂ HIỆN TÌNH CẢM CON NGƯỜI

    Thu hẹp lại trong phạm vi cá nhân, mỗi món ăn tiêu biểu cho sở thích của con người thì thế nào cũng tố giác được tình cảm, tánh tình của người ấy. Ta thử tìm hiểu tình cảm con người phát lộ trong miếng ăn như thế nào.

    1. Lòng hiếu thảo

    Đầu tiên, ta đề cập đến lòng hiếu thảo. Người con phải tận tâm săn sóc cha mẹ già, cố gắng tìm món ngon vật lạ để dâng cho song thân :

    Hay là : Dù cho bà mẹ có nghiêm khắc đến đâu, phận con cũng phải cố phụng dưỡng cho chu đáo : Hay là : Gặp những năm đói kém thì lòng hiếu thảo càng được tỏ rõ. Người con chịu sống kham khổ, ăn quơ quào để đánh lừa cái đói, miễn là mẹ già được no ấm :

    2. Tình yêu trai gái

    Giữa trai và gái, món ăn là một mối dây nối kết. Để thể hiện một mối tình chớm nở, để nói lên được niềm nhớ nhung người yêu, không gì bằng câu ca dao sau đây :

    Tình ái như một vị hương ngào ngạt làm đắm say lòng người, kẻ được yêu cảm thấy ngây ngất như được thưởng thức món ăn ngon vật lạ :

    Lòng nhớ thương của người con trai được thể hiện trong câu : Ví von như thế thật là vừa thực tế và cũng vừa ngộ nghĩnh… Tuy nhiên, người con gái dùng hình ảnh cụ thể qua những lời thâm thúy và thanh nhã để nói lên được một cách kín đáo lòng trong trắng của mình : Hay là : Hay là :

    3. Tình vợ chồng

    Khi trai gái đã thành gia thất thì mối tình kia lắng xuống đậm đà hơn để đương đầu với bao thử thách đắng cay :

    Vì đã lấy nhau vì tình thì đâu có ngại cảnh sống nghèo khó, đâu có sờn lòng trước gian khổ : Lên non thiếp cũng lên theo Tay vịn chân trèo, hái trái nuôi nhau.

    Yêu thương như thế thật là gắn bó keo sơn, thật là một bài học thiết thực cảnh tỉnh những người hèn hạ đã từng “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Và đây là một hình ảnh ấm cúng, cảnh vợ chồng hòa thuận, tâm đầu ý hợp trong bữa ăn đạm bạc : Tình thương chồng được phát lộ trong cách thức săn sóc chồng từng bữa ăn, lúc bình thường cũng như khi đau yếu : Hay là :

    Tuy nhiên, đôi khi gặp cảnh tình lạt, nghĩa phai, người vợ hiền đau khổ và thở than :

    4. Tình bác ái trong miếng ăn

    Khi quyền lợt cá nhân đã được thỏa đáng, khi bản thân đã ấm no thì thói thường con người hay nghĩ đến những người bất hạnh khác, những người sống đời đói rét, đương đau khổ hay đương kéo dài đời sống cô đơn :

    Tình bác ái được nêu rõ với một lập luận vừa cụ thể, vừa hợp lý. Hình ảnh người giàu thóc đối xứng với kẻ chạy ăn hằng bữa, hình ảnh đầm ấm của đời sống lứa đôi làm nổi bật cảnh lạnh lùng của kẻ cô đơn. Nhưng tình thương người không phải chỉ nằm trong vòng lý thuyết, nghĩa là chỉ là tình thương hại suông thôi. Lòng nhân từ phải cần được thi hành đúng đắn, nghĩa là phải thiết thực cứu giúp người, trong lúc người còn đương hoạn nạn, đau khổ :

    Một miếng khi đói bằng một gói khi no.

    Tương trợ như vậy mới tránh được tình cảm thiên vị, khỏi phải mang tiếng là vì quyền lợi cá nhân hay vì hiếu danh, hiếu thắng

    ♦♦♦

    PHẦN 04: MIẾNG ĂN HAY LÀ TRIẾT LÝ CỦA CUỘC ĐỜI

    1. Thói đời qua miếng ăn

    Có người quần quật suốt ngày cũng vì miếng ăn. Có người ty tiện, bán cả danh cả tiếng, cầu cạnh cho được bả vinh hoa, mồi phú quý. Hạng người này có biết đâu “Miếng thịt là miếng nhục”. Suốt đời chạy theo miếng ăn, sống chết vì miếng ăn, coi miếng ăn là tuyệt đích:

    Trái lại cũng có người trước danh lợi vẫn giữ được nếp sống trắng trong. Họ quan niệm đời một cách khác, vì họ cho đời lẫn lộn đắng cay, ngọt bùi. Sở dĩ người ta giành giật, xâu xé nhau vì đời là trường tranh đấu : Trong thiên hạ, nhiều người tranh nhau từng miếng ăn, nói xấu, hãm hại nhau, tìm cách dìm người khác xuống : Hơn nữa, ngoài chợ đời thì thiếu chi người gian trá, bịp đời, sống trên lưng người, thuộc vào phường “treo đầu dê, bán thịt chó”. Họ còn lắm mồm lắm miệng, nói ngược nói xuôi, chê khen vô lối : Tuy nhiên, có khi tranh giành nhau đến trầy vi tróc vảy mà chung quy vẫn hoài công, vì kết quả thu được chẳng là bao : Thật là một chuỗi cười trào lộng pha vị chua chát, như chửi vào mặt bọn buôn danh bán tiếng, suốt đời chạy theo cái bóng hư danh? Ý tưởng này nhắc ta nhớ đến quan niệm về cuộc đời của nhà thơ Lý Bạch cho rằng, đời chỉ là một giấc mộng lớn, cần gì phải lao đao, lận đận (Xử thế nhược đại mông/ Hồ vi lao kỳ sinh?). Câu ca dao sau đây cũng giúp ta suy nghĩ nhiều về thái độ giả dối của những người chỉ tha thiết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình thôi : Cuối cùng, qua miếng ăn, ta thấy ca dao tục ngữ cũng bày ra hạng người vong bổn, chỉ biết mới chuộng cũ vong, chẳng khác chi :

    Ăn cháo đá bát. 2. Thái độ đối phó

    Cuộc đời quả thật phiền toái và đắng cay. Cho nên, dựa trên kinh nghiệm, chúng ta phải có thái độ đối phó như thế nào, phải khôn ngoan xử thế làm sao cho hợp lý. Ca dao tục ngữ dạy ta sống là phải đấu tranh, phải chịu đựng gian khổ mới có thể mưu sinh dễ dàng.

    Muốn ăn phải lăn vào bếp.

    Làm sao mà ăn không, ở vì được trong khi mọi người đếu lấy “bát mồ hôi đổi bát cơm”? Thành thử, khi ra đời, phải tập luyện cho cơ thể quen thuộc với nắng mưa, chịu đựng gian khổ : Nếu có gặp được cảnh sống thư thả, sung túc thì phải nghĩ đến những lúc thiếu thốn và một ngày mai có thể bị sa cơ thất thế : Thái độ có hậu, chung thủy như trên rất hợp với tinh thần nhân nghĩa của người Á Đông. Còn muốn đảm bảo thành công ở đời thì ta phải khôn ngoan xử sự, có óc thiết thực, không bao giờ chuộng những cái gì hão huyền : Cái lối sống thiết thực ấy phải là lối sống có điều độ, hợp với lẽ phải : Tuy rằng phải tùy cơ ứng biến, phải “Ăn theo thuở, ở theo thì”, nhưng con người trung nghĩa thì bao giờ cũng phải chuộng sự thật, tránh thái độ gian tham, giả dối :

    Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối.

    Những câu phương ngôn trên diễn tả những món ăn, vật uống đã là những lý luận mẫu mực, xác đáng dạy ta phép xử thế thực tiễn.

    3. Bổn phận trong miếng ăn

    Tuy là phải “vắt đầu cá, vá đầu tôm”, một nắng hai sương để chạy từng bữa ăn, nhưng con người còn có cái gì quý hóa, thiêng liêng hơn, đó là bổn phận :

    Người con trai ra đi, vẫy vùng bốn phương cho phỉ chí nam nhi, cũng yên tâm vì có được người vợ hiền ở nhà chăm sóc gia thất, phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con thơ. Món ăn thanh đạm muối dưa nói lên được cái tình nghĩa sắt son của người đàn bà. Hơn nữa, người con gái còn mang nặng bổn phận hiếu thảo đối với cha mẹ, kính nhường anh em, giữ hòa khí trong gia đình :

    Nhà em có vại cà đồng

    Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương

    Dẫu không mỹ vị cao lương

    Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em

    Một nhà vui vẻ êm đềm

    Đói no trong cảnh không thèm lụy ai.

    Đối với người thân ta phải có bổn phận đã đành rồi, còn đối với vô số người vô danh trong xã hội đã góp phần vào đời sống công cộng, thì hết lòng tri ân :

    Thái độ biết ơn trên cũng là thái độ cố hữu của người Việt, là bổn phận của người dân được hưởng thụ, vẫn ghi nhớ công đức đối với các bậc tiền bối đã khai sáng đất nước.

    4. Khí tiết của miếng ăn

    Như vậy, con người lấy nhân nghĩa mà xử sự ở đời, sống phải có trước có sau mặc dầu gặp cảnh nghèo khó, gian khổ phải luôn luôn thủy chung như nhất :

    Cao hơn nữa, cái khí tiết trung nghĩa được phát lộ trong mấy câu ca dao thời thế sau đây. Trước cám dỗ vật chất, trước những miếng ăn thịnh soạn của tân trào mang lại, con người trung nghĩa quyết cam phận thanh bần :

    Văn minh gặp buổi Lang Sa

    Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều

    Khuyên ai giữ chí về sau

    Đừng còn tập tễnh Tây, Tàu mà no

    Thà rằng chịu đói no rau cháo

    Lấy chồng nghèo giã gạo nấu cơm

    Chẳng hơn thịt cá đầy mâm

    Mà đem thân thế ra thân thế này…

    Những người tiết nghĩa như vậy bao giờ cũng chọn cái gì trong trắng, cao quý và ghét đời ô trọc gian tham :

    Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm

    Ngọt như cam sành héo cuống anh chê.

    Ai lại không thích ăn sung mặc sướng, sống đời vương giả, đầy đủ và tiện nghi? Tuy nhiên, nếu sống được như vậy mà phải nô lệ tân trào thì trở về với đời sống đạm bạc còn hơn : Cũng như người con gái, chống lại chế độ đa thê, thà chịu cảnh nghèo nàn chứ nhất định không chịu lấy chồng chung :

    ♦♦♦

    Để kết luận, ta thấy miếng ăn diễn tả trong câu ca dao tục ngữ thật là quan trọng, có thể chế ngự được tình cảm và lý trí, chi phối cả đời sống con người, có thể hạ phẩm giá con người cũng như gây xô xát ngoài xã hội. Tuy nhiên, miếng ăn không có giá trị tuyệt đối, chưa phải là cứu cánh cao quý nhất của con người, vì ở đời còn có điều nhân nghĩa, còn có niềm thủy chung là giá trị tinh thần cố hữa quý hóa của người dân Việt : Con người phải có hậu, không bắt chước những kẻ “có mới thì nới cũ”, biết trọng nghĩa khinh tài và nhất định không bao giờ :

    Xưa nay ăn đâu ở đâu Bây giờ có bí, chê bầu rằng hôi.

    Lưu Văn – Tạp chí Tiến thủ Ảnh: TL-KV sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Kiến Thức Hay Và Bổ Ích Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Rượu Bia
  • Top Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Rượu Bia
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dòng Họ Khỉ
  • Một Số Lễ Hội Mùa Xuân Qua Mấy Vần Ca Dao
  • 20 Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Em Cần Gấp Trả Lời Trước 12 Giờ Tối Nay Câu Hỏi 104117
  • Ngay khi từ bé ở các trường mầm non hay cấp 1 luôn có 1 câu khẩu hiệu đó là Tiên học lễ, hậu học văn nhắm mong nhắc nhở mọi người về việc giao tiếp ăn nói lịch sự lễ phép trước tiên rồi mới tới việc học kiến thức ở trường. Trong thực tế loài người khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp đã có sự phát triển vượt trội hơn rất nhiều. Và nó là phương tiện để giao lưu văn hóa trên toàn thế giới. Tuy nhiên việc giao tiếp của con người cũng có rất nhiều điều để nói. Chính vì thế từ xã xưa các cụ đã có rất nhiều câu tục ngữ để nhắc nhở con cháu về giao tiếp ăn nói trong cuộc sống hằng ngày. Ca dao tục ngữ về giao tiếp hay và ý nghĩa nhất

    Trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, thời đại công nghệ khoa học kĩ thuật hiện đại thì vốn giao tiếp của mỗi người rất là đáng quý và rất cần thiết. giao tiếp là một hình thức làm việc, một hình thức quan hệ xã hội của mỗi người cần phải có. Nhưng giao tiếp đúng cách không phải ai cũng hiểu rõ, không phải ai cũng biết, đây là một cách sống, cách thể hiện rất khó trong cuộc sống của chúng ta.

    Vấn đề giao tiếp ăn nói thì các bạn cần phải học hỏi rất nhiều và cần rút ra những bài học để có thể giao tiếp khôn khéo hợp lòng mọi người

    Giao tiếp trong cuộc sống, trong công việc là một thử thách vưới một số người, nhưng khi với một số người khác thì đó là một chuyện rất dễ dàng. Không phải ai cũng dễ dàng có được sự giao tiếp trong cuộc sống, hay sử dụng cách giao tiếp một cách đúng chỗ, một cách ý nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh nhất. chúng ta cùng đi tìm hiểu ca dao tục ngữ về giao tiếp.

    Ca dao về giao tiếp:

    Câu 1:

    • Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
    • Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    Câu ca dao trên nói về sự giao tiếp, khi giao tiếp cần lựa thời điểm, hoàn cảnh phù hợp để thể hiện sự giao tiếp của mình. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn khi nói tiếng dịu dàng dễ nghe thì sẽ được mọi người yêu mến và quý trọng.

    Câu 2:

    • Lời nói chẳng mất tiền mua
    • Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Lời nói là một hình thức giao tiếp của con người trong cuộc sống, khi con người nói ra phải chọn những lời lẽ phù hợp với hoàn cảnh, với thời điểm thì mới được vừa lòng mọi người, mới được mọi người yêu quý và quý mền, được tin yêu trong cuộc sống.

    Câu 3:

    • Kim vàng ai nỡ uốn câu
    • Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

    Đây là câu ca dao nói về sự giao tiếp, cách ăn nói của con người trong cuộc sống. kim vàng không ai đi uốn câu và lời nói của người khôn không bao giờ nặng lời. chính vì thế mà khi người khôn nói chuyện với nhau không bao giờ cải vả nặng lời.

    Tổng hợp những câu ca dao về giao tiếp:

      Ngày thường chả mất nén hương

    Đến khi gặp chuyện ôm lưng thày chùa

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

      Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

      Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

      Thổi quyên, phải biết chiều hơi,

    Khuyên người, phải biết lựa lời khôn ngoan.

      Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

      Roi song đánh đoạn thời thôi,

    Một lời xiết cạnh, muôn đời chẳng quên.

      Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

      Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

    Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

      Vàng thời thử lửa, thử than,

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

      Người thanh, tiếng nói cũng thanh,

    Chuông kêu, khẽ đánh bên thành cũng kêu.

      Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

      Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

    Người sa lời nói, như chim sổ lồng.

      Đất xấu, trồng cây ngẳng nghiu,

    Những người thô tục, nói điều phàm phu.

      Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

    Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

      Đi hỏi già,về nhà hỏi trẻ

    Đi một ngày đàng học một sàng khôn

      Sang sông phải bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy

      Đất tốt trồng cây rườm rà

    Những người thanh lịch nói ra dịu dàng.

      Người thanh tiếng nói cũng thanh

    Chuông kêu, khẽ gõ bên thành cũng kêu.

    Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời ?

      Vàng thì thử lửa, thử than

    Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời…

      Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

      Sảy chân, gượng lại còn vừa,

    Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

      Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

    Người sa lời nói, như chim sổ lồng.

      Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

    Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

      Ngày thường chả mất nén hương

    Đến khi gặp chuyện ôm lưng thầy chùa

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

      Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

      Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

    Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

    Tục ngữ về giao tiếp:

    Câu 1:

    Câu tục ngữ nói về vai trò và tầm quan trọng của giao tiếp, của lời ăn tiếng nói. Khi chỗ đông người thì lời chào còn cao hơn mâm cỗ, có nghĩa là nó quan trọng hơn mâm cỗ, quý trọng hơn mâm cỗ mà chúng ta tham dự. ý nghĩa của lời ăn tiếng nói rất là quan trọng.

    Câu 2:

      Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

    Trong giao tiếp lời ăn tiếng nói của con người rất là quan trọng, là cách giao tiếp, thể hiện trong cuộc sống. nhưng quan trọng hơn trong giao tiếp là những lời nói đúng, thẳng thắng, trung thực. những lời nói đúng, những lời nói thẳng thắng trung thực thì mọi điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Câu 3:

    Đây là câu tục ngữ nói về miệng lưỡi, người ta thường nói lưỡi không xương muôn đường lắc léo. Chính vì thế mà câu tục ngữ nói rằng miệng lưỡi còn sắc bén hơn gươm. Khi lời nói nói ra còn sắc hơn khi gươm, khẳng định ý nghĩa và giá trị của miệng lưỡi.

    Tổng hợp những câu tục ngữ về giao tiếp:

    • -Kính trên, nhường dưới
    • Lời nói, gói vàng.
    • Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.
    • Ăn có nhai, nói có nghĩ.

    Ăn bớt bát, nói bớt lời.

    • Đa ngôn, đa quá.
    • Lời nói đọi máu.
    • Chim khôn, tiếc lông,

    Người khôn, tiếc lời.

    • Lời nói, không cánh mà bay.
    • Có đi có lại mới toại lòng nhau
    • Kính lão đắc thọ
    • Tôn trọng người khác cũng là tôn tọng chính mình
    • Một câu nhịn bằng chín câu lành
    • Một điều nhịn, chín điều lành
    • Mất lòng trước, được lòng sau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam
  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Biển

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Rượu Bia Hay Và Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống 80++ Châm Ngôn, Stt Hay Nhất Về Cuộc Sống
  • 199 Câu Nói Hay Về Hạnh Phúc Tan Vỡ Đầy Xót Xa
  • 25+ Lời Chúc Vợ Ngủ Ngon Hay Nhất Các Ông Chồng Nên Tham Khảo
  • Download Ebook Lời Chúc Phúc Của Odin Tập 3
  • Sông sâu mà biển cũng sâu

    Muốn ăn cá lớn, rong câu cho dài

    Dốc lòng trồng cúc bẻ bông

    Ngó ra ngoài biển thấy ông đưa đò

    Anh ở làm sao cho biết đói biết no

    Biết ra khơi về lộng đây em lo kết nguyền

    Trời sinh có biển có nguồn

    Có ta, có bạn, còn buồn nỗi chi?

    Tháng chín mưa giông thuyền mong ghé bến

    Từ nơi bãi biển qua đến buổi chợ chiều

    Nuôi con chồng vợ hẩm hiu

    Nhà tranh một mái tiêu điều nắng mưa

    Động bể đông bắc nồi rang thóc

    Động bể bắc đổ thóc ra phơi

    Sự đời nghĩ cũng nực cười

    Một con cá lội mấy người thả câu

    Anh về xẻ gỗ bắc cầu

    Non cao anh vượt biển sâu anh dò

    Bây giờ sao chẳng bén cho

    Xa xôi cách mấy lần đò cũng đi

    Trời cao hơn trán

    Trăng sáng hơn đèn

    Kèn kêu hơn quyển

    Biển rộng hơn sông

    Anh đừng thương trước uổng công

    Chờ cho thiệt vợ, thiệt chồng hãy thương

    Ai về em gởi bức thơ

    Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao

    Non kia ai đắp mà cao

    Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu

    Non cao, biển cả

    Con chim tra trả tìm mồi

    Khi mô vật đổi sao dời

    Đất Quảng Nam hết nước mới hết người tài hoa

    Bãi biển Nha Trang mịn màng, trắng trẻo

    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh

    Đêm đêm thơ thẩn một mình

    Đố sao cho khỏi vướng tình nước mây?

    Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá

    Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua

    Biểu anh về lập miếu thờ vua

    Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cua đang đá

      Ngó xuống biển thấy cặp cá đang đua

      Biểu anh về lập miếu thờ vua

      Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá,

      Ngó về Rạch Giá thấy cặp cá đương đua.

      Anh về lập miếu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    • Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện,

      Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua.

      Anh về lập miễu thờ vua,

      Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

    Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn

    Núi lở non mòn, ngỡi bạn không quên

    Ðường còn đi xuống đi lên,

    Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng.

      Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn

      Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên

      Đường còn đi xuống đi lên

      Ơn bạn bằng biển, ta đền bằng non

      Đường mòn duyên nợ không mòn

      Chết thì mới hết, sống còn gặp nhau

      Lời nguyền trước cũng như sau

      Em không phụ khó, ham giàu ở đâu

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

    Lụa tốt xem biên

    Người hiền xem tướng

    Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

    Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

    Em thương anh không dám nói ra

    Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời

    Anh với em cũng muốn kết đôi

    Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan.

    Đố ai tát bể Đông Khê

    Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chiêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Tết Bính Thân 2022 Hay Và Dễ Nhớ Dành Cho Bạn Bè
  • Những Lời Chúc Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Top Sách Hay Và Những Câu Nói Ý Nghĩa Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
  • 10 Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Bất Hủ Của Các Nhà Khoa Học Vĩ Đại
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Tình Cảm Và Lãng Mạn Dành Cho Người Yêu
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò
  • Cái Cò Và Con Cò
  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  •  

    Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

    Thuyduongnsx tuyển chọn

    1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    2. Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    4. Đường về đêm tối canh thâu

    Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

    5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa

    hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

    6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng

    Trâu đá gà que cẳng con trâu

    7. Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    8. Dù ai buôn đâu bán đâu,

    Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.

    Dù ai buôn bán trăm nghề,

    Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.

    9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    10. Nghé ơi ta bảo nghé này

    Nghé ăn cho béo nghé cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    11. Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    13. Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    14. Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    “Con trâu là đầu cơ nghiệp

    15. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    16. Trên trời có đám mây xanh (4)

    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

    Ước gì ta lấy được nàng

    Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu

    Thanh Hóa cung đốn trầu cau

    Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò

    Phú Thọ quạt nước hỏa lò

    Hải Dương rọc lá giã giò gói nem

    Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền

    Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi

    An Giang gánh đá nung vôi

    Thừ Thiên Đà nẵng thổi xôi nấu chè

    Quảng Bình Hà Tĩnh thuyề ghe

    Đồng Nai Gia Dịnh chẻ tre bắc cầu

    Anh mời khắp nước chư hầu

    Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang

    Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng

    Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên

    17. Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    18. Nam mô Bồ Tát

    Chẻ lạt đứt tay

    Đi cày trâu húc

    Đi súc phải cọc

    Đi học thày đánh

    Đi gánh đau vai

    Nằm dài nhịn đói

    19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục

    Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

    20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông

    Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

    21. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    22. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    23. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    24. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    27. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    28. Của chua ai nấy cũng thèm

    Em cho chị mượn chồng em vài ngày

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

    30. Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu

    Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    32. Thương nhau vì nợ vì duyên

    Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

    33. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

    Về đâu trong đục mà chờ

    Hoa thơm mất tuyết , nương nhờ vào đâu

    Số em giàu, lấy khó cũng giàu

    Số em nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo

    Phải duyên phải kiếp thì theo

    Giàu ăn khó chịu, lo gì mà lo

    34. Chẳng qua số phận long đong

    Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

    35. Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày.

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng

    Câu đố:

    – Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân. = con trâu

    – Vừa bằng cái bát, san sát giữa đồng = vết chân Trâu

    36. Ru Con

    Bao giờ cho đến tháng ba,

    Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

    Hùm nằm cho lợn liếm lông,

    Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

    Nắm xôi nuốt trẻ lên mười;

    Con gà, be rượu nuốt người lao đao.

    Lươn nằm cho trúm (1) bò vào;

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Lúa mạ nhảy lên ăn bò;

    Cỏ năn (2), cỏ lác (3) rình mò bắt trâu.

    Gà con đuổi bắt diều hâu;

    Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Chú thích:

    (1) Trúm : một thứ đó để bắt lươn

    (2) Cỏ năn : một loài cỏ mọc dưới nước

    (3) cỏ lác : thứ cỏ xấu

    37. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

    Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.

    Vợ dại thì đẻ con khôn,

    Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

    38. Trâu chậm thời anh bán đi,

    Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

    39. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Có con đi trước lòng thòng theo sau.

    40. Trâu anh con cưỡi con dòng,

    Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

    41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    42.Trâu kia kén cỏ bờ ao,

    Anh kia không vợ đời nào có con.

    43.Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    44. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già.

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao?

    45. Em như ngọn cỏ phất phơ

    Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

    46. Mình rằng mình quyết lấy ta

    Ðể ta hẹn cưới hăm ba tháng này

    Hăm ba nay đã đến ngày

    Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng

    Tháng giêng năm mới chưa nên

    Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai

    Tháng hai có đỗ có khoai

    Ta lại vật nài cho đến tháng tư

    Tháng tư ngày chẳn tháng dư

    Ta lại chần chừ cho đến tháng năm

    Tháng năm là tháng trâu đầm

    Ta hẹn mình rằng tháng sáu mình lên

    Tháng sáu lo chửa kịp tiền

    Bước sang tháng bảy lại liền mưa ngâu

    Tháng bảy là tháng mưa ngâu

    Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

    Tháng tám là tháng trăng thu

    Bước sang tháng chín mù mù mưa rươi

    Tháng chín là tháng mưa rươi

    Bước sang tháng mười đã đãi mưa đông

    Quanh đi quẩn lại em đã có chồng

    Như chim trong lồng, như cá cắn câu

    47. Ông Giăng mà lấy bà Sao,

    Đến mai có cưới cho tao miếng giầu.

    Có cưới thì cưới con trâu,

    Chớ cưới con nghé nàng dâu không về.

    48. Ông giẳng ông giăng,

    Xuống chơi với tôi,

    Có bầu có bạn,

    Có ván cơm xôi,

    Có nồi cơm nếp,

    Có nệp bánh chưng,

    Có lưng hũ rượu,

    Có chiếu bám đu,

    Thằng cu xí-xóa,

    Bắt trai bỏ giỏ,

    Cái đỏ ẵm em,

    Đi xem đánh cá,

    Có rá vo gạo,

    Có gáo múc nước,

    Có lược chải đầu,

    Có trâu cày ruộng,

    Có muống thả ao,

    Ông sao trên trời.

    (Cái này thấy gọi là Ca dao nhi đồng, hihi)

    49.Bước sang tháng sáu giá chân,

    Tháng một nằm trần bức đổ mồ hôi.

    Con chuột kéo cầy lồi lồi,

    Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong.

    Vườn rộng thì thả rau rong.

    Ao sâu giữa đồng, vãi cải làm dưa.

    Đàn bò đi tắm đến trưa,

    Một đàn con vịt đi bừa ruộng nương.

    Voi kia nằm ở gặm giường,

    Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn.

    Chuồn kia thấy cám liền ăn,

    Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua.

    Trời mưa cho mối bắt gà,

    Thòng-đong cân-cấn đuổi cò lao xao.

    Lươn nằm cho trúm bò vào,

    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.

    Thóc giống cắn chuột trong bồ,

    Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu.

    Chim chích cắn cổ diều hâu,

    Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

    Bong bóng thì chìm, gỗ lim thì nổi.

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai.

    Hòn đá giẻo dai, hòn xôi rắn chắc.

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi.

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú.

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu.

    Hay cắn thì trâu, hay cày thì chó.

    50. Nam mô bồ tát,

    Chẻ lạt đứt tay,

    Đi cày trâu húc,

    Đi xúc phải cọc,

    Đi học thầy đánh,

    Đi gánh đau vai,

    Nằm dài nhịn đói.

    51. Con kiến mày kiện củ khoai,

    Mày chê tao khó lấy ai cho giầu.

    Nhà tao chín đụn mười trâu,

    Lại thêm ao cá bắt cầu rửa chân.

    52. Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

     

    53. Cưới em có cánh con gà,

    Có dăm sợi bún, có và hạt xôi.

    Cưới em còn nữa anh ơi!

    Có một đĩa đậu hai môi rau cần.

    Có xa dịch lại cho gần,

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi.

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    – Chàng dẫn thế em lấy làm sang

    Nỡ nào em lại phá ngang như là…

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!

    Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.

    Bao nhiêu củ rím củ hà,

    Để cho con lợn con gà nó ăn.

    54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu

    ví dâu

    Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

    55. Anh về bán ruộng cây da

    Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

    56. 17. Hò ơ.. (chớ) Bớ này anh nó ơi

    Số phận em giao phó cho trời xanh

    Lấy anh em không lấy,

    Nhưng dạ cũng không đành làm ngơ

    Vốn em cũng chẳng bơ thờ

    Em đã hằng chọn trong lóng đục,

    Nhưng vẫn còn chờ nợ duyên

    Vốn em muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang,

    Nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm

    Em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm,

    Nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc

    Em muốn lấy chú thợ mộc,

    Nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà

    Em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà,

    Nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt

    Em muốn lấy người hạ bạc,

    Nhưng lại sợ mang lưới mang chài

    Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,

    Nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới

    Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,

    Nhưng lại sợ ảnh nói tức nói êm

    Bằng lấy anh đặt rượu làm men,

    Thì lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi

    Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,

    Nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn

    Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,

    Nhưng lại sợ nhiều điều thá ví

    Em muốn lấy anh lái buôn thành thị,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu mắc rẻ khó lòng

    Em muốn lấy anh thợ đóng thùng,

    Nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng

    Em muốn lấy ông Hương ông Tổng,

    Nhưng lại sợ việc trống việc gông

    Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,

    Nhưng lại sợ đầu treo đầu quảy

    Em muốn lấy chú hàng heo khi nãy,

    Nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan

    Em muốn lấy anh thợ đát thợ đan,

    Nhưng lại sợ ảnh hay bắt phải bắt lỗi

    Em muốn lấy anh hát bè hát bội,

    Nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng

    Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,

    Nhưng lại sợ ảnh hay dằn hay thúc…

    Hò ơ.. (chớ) Mấy lời trong đục chẳng dám nói ra

    Có thầy giáo tập dạy trong làng xa, hay dạy hay răn

    So đức hạnh chẳng ai bằng, lại con nhà nho học

    Sử kinh thầy thường đọc, nên biết việc thánh hiền

    Gặp nhau em kết liền, không chờ chẳng đợi… (ờ)

    Hò ơ.. (chớ) Không chẳng chờ chẳng đợi phỉ nguyền phụng loan

    57. Hút sách là chuyện chẳng lành

    Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

     

    58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay.

    59. Mười năm cắp sách theo thày

    Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

    60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,

    Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.

    61.Ai cũng gặt lúa đỏ đuôi

    Chàng về mà đập, mà phơi kịp ngày

    Ai mà giã gạo ba chày

    Giã sao cho trắng, gửi ngay cho chàng

    Sẵn tiền mua bạc mua vàng

    Sẵn tiền sắm áo cho chàng trẩy kinh

    Sáng trời chàng mới tập binh

    Em ngồi vò võ, một mình em lo

    Ruộng nương không ai cày cho

    Trâu bò, gà, lợn em lo dường nào!

    Ruộng người cày cấy xôn xao

    Ruộng nhà cỏ mọc lên cao lồng ngồng

    Người ta có vợ có chồng

    Cỏ cao, mạ úa nhưng lòng vẫn vui

    Nhà ta chỉ có em thôi

    Ruộng cạn mạ úa em ngồi em lo

    62.Ai ơi uống rượu thì say

    Bỏ ruộng trâu cày bỏ giống ai gieo.

    63.Anh đánh thì tôi chịu đòn

    Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa

    Anh đánh thì tôi xin thưa

    Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu

    Ăn quen chừa được chẳng lâu

    Lệ làng làng bắt mất trâu mặc làng

    64.Ba vợ bảy tám nàng hầu

    Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

    65.Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    66.Anh em bất nghĩa chi khèo

    Anh dữ như mèo tôi lại như trâu

    67.Bé ăn trộm gà

    Già ăn trộm trâu

    Lâu nữa làm giặc

    68.Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    69.Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng Kẻ Chợ cho gần, xem voi

    Trèo lên trái núi mà coi

    Thấy ông quản tượng cõi voi đánh cồng

    Túi vóc mà thêu chỉ hồng

    Têm trầu cánh phượng cho chồng đi thi

    Một mai chồng đỗ, vinh quy

    Võng anh đi trước, em thì võng sau

    Tàn quạt, hương án theo hầu

    Vinh quy bái tổ, giết trâu ăn mừng!

    70.Cái kiến mà kiện củ khoai

    Mày chê tao khó, lấy ai cho giầu

    Nhà tao chín đụn mười trâu

    Lại thêm ao cá, bắc cầu rửa chân

    Cầu nầy là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu nầy

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

    Nhà anh có một cây chanh

    Nó chửa ra nhành nó đã ra hoa

    Nhà anh có một mụ già

    Thổi cơm không chín, quét nhà chẳng nên

    Ăn cỗ khì đòi ngồi trên

    Mâm son bát sứ đem lên hầu bà.

    71.Bong bóng thì chìm gỗ lim thì nổi

    Đào ao bằng chổi, quét nhà bằng mai

    Hòn đá dẻo dai, hòn xôi rắn chắc

    Gan lợn thì đắng, bồ hòn thì bùi

    Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú

    Đàn ông to vú, đàn bà rậm râu

    Hay sủa thì trâu, hay cày thì chó…

    (hình như vẫn còn tiếp thì phải)

    72.Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu

    Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

    Chẳng tham ruộng cả ao liền

    Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

    Chẳng tham nhà ngói ba tòa

    Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.

    73.Chồng dữ thì em mới rầu

    Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

    74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

    76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    77.Chết lỗ chân trâu

    78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    79.Có xa dịch lại cho gần

    Nhà em thách cưới có ngần ấy thôi

    Hay là nặng lắm anh ơi!

    Để em bớt lại một môi rau cần.

    Cưới nàng anh toan dẫn voi

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu sợ họ máu hàn

    Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân

    Dẫn con chuột béo mời dân mời làng.

    80.Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu

    Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

    81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng

    trâu

    82.Con tằm nó ăn lá dâu

    Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

    83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

    Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

    84.Công anh chăn nghé đã lâu

    Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

    85.Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    86.Em thì canh cửi việc nhà

    Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng

    Trước là vinh hiển tổ đường

    Bõ công đèn sách lưu hương con nhà

    Rước vinh quy về nhà bái tổ

    Ngả trâu bò làm lễ tế vua

    Họ hàng ăn uống say sưa

    Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè

    87.Dưa gang một chạp thì trồng

    Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo

    Tháng hai đi tậu trâu bò

    cày đất cho ải mạ mùa ta gieo

    88.Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo

    89.Em là con gái nhà giàu

    Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao

    Cưới em trăm tấm gấm đào

    Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

    Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi

    Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng

    Sắm xe tứ mã đem sang

    Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

    Ba trăm nón Nghệ đội đầu

    Một người một cái quạt Tàu thật xinh

    Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình

    May chăn cho rộng ta mình đắp chung

    Cưới em chín chĩnh mật ong

    Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

    Cưới em tám vạn trâu bò

    Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

    Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

    Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi

    Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

    Xin chàng chín chục con dơi góa chồng

    Thách thế mới thỏa trong lòng

    Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

    90.Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát

    Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc

    Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh

    Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

    91. Vợ bé nghé con

    Sẩy đàn tan nghé

    Hòn đá cheo leo,

    Con trâu trèo, con trâu trợn

    Con ngựa trèo, con ngựa đổ.

    Anh thương em lao khổ

    Tận cổ chí kim,

    Anh thương em khó kiếm khôn tìm.

    Cây kim luồn qua sợi chỉ,

    Sự bất đắc dĩ phu mới lìa thê,

    Nên hay không nên, anh ở em về,

    Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

    92.Lạc đường nắm đuôi chó

    Lạc ngõ nắm đuôi trâu

    93.Lao xao gà gáy rạng ngày

    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

    Bước chân xuống cánh đồng sâu

    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu đi cày

    Ai ơi! bưng bát cơm đầy

    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    94.Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    95.Lộn con toán bán con trâu

    96.Mật ngọt rớt xuống thau đồng

    Những lời anh nói cho lòng em say

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia!

    Chàng ơi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung.

    97.Một rằng mình quyết lấy ta

    Ta về bán cửa bán nhà mà đi

    Ta về bán núi Ba Vì

    Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu

    Ta về bán hết ngựa trâu

    Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung

    Bán ba mươi sáu Thổ công

    Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân

    Bán từ giờ Ngọ giờ Dần

    Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi

    Ta về bán cả que cời

    Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn

    Ta về bán trống bán kèn

    Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

    98.Nghé hành nghé hẹ

    Có khôn theo mẹ

    Có khéo theo đàn

    Chớ có chạy quàng

    Có ngày lạc mẹ

    Việc nhẹ phần con

    Kéo nỉ kéo non

    Kéo đến quanh tròn

    Mẹ con ta nghỉ

    99.Trăm năm cơ hội tình cờ,

    Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.

    Muốn cho thuận nẻo đi về,

    Anh sang làm rể, em về làm dâu.

    Số giàu lấy khổ cũng giàu,

    Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.

    Phải duyên phải kiếp thì theo,

    Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.

    Em ơi! chữ vị là vì,

    Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,

    Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,

    Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

    100.Trời mưa lâm râm

    Cây trâm có trái

    Con gái có duyên

    Đồng tiền có lỗ

    Bánh tổ thì ngon

    Bánh dòn thì béo

    Cái kéo thợ may

    Cái cày làm ruộng

    Cái xuổng đắp bờ

    Cái lờ đơm cá

    Cái ná bắn chim

    Cái kim may áo

    Cái giáo đi săn

    Cái khăn bịt đầu

    Cái cầu đi chợ

    Có vợ đàn ông

    Có chồng con gái

    Cái trái mù u

    Ông cu đi câu

    Để trâu ăn lúa

    Bắt được chặt đầu, chặt đầu đuôi

    Còn hai con mắt đem nuôi mẹ già

     

    Tướng Trâu

    Cầm trâu cầm áo cầm khăn

    Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em !

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Chồng em đâu phải trâu cày

    Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm

    Trâu gầy cũng tầy bò giống

    Ghi Chú: * Trâu gầy vẫn mạnh hơn bò

    Mắt bánh rán,

    Trán bánh chưng

    Lưng tôm càng

    Ghi Chú: * Trâu có mắt lớn, cái trán vuông vức như cái bánh chưng và

    lưng không oằn là trâu khỏe mạnh

    Đã có sừng thì đừng hàm trên

    Ghi Chú: * Trâu không có răng hàm trên

    Tai lá mít đít lồng bàn

    Ghi Chú: * Trâu có tai lớn và mông bự là trâu tốt

    Vành mồm trắng, mắt tai to

    Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua

    Ghi Chú: * Trâu thưa lông bụng và vành mồm trắng mới là trâu có tướng

    tốt

    Sà sừng mắt lại nhỏ con

    Vụng giàn chậm chạp ai còn nuôi chi

    Ghi Chú: * Trâu có cặp sừng sệ xuống và mắt nhỏ thì chậm chạp

    Vai nồi đồng, mông cối lỗ

    Ghi Chú: * Vai to tròn, mông lớn là trâu tốt

    Sừng to móng hến thì nuôi phải rồi

    Ghi Chú: * Trâu có sừng to, mở Rộng là trâu đắc dụng

    Tam tinh khoáy sọ thì chừa

    Đốm đuôi nát chủ thì đưa vào nồi

    Ghi Chú: * Trâu có khoáy sọ và đuôi có đốm là trâu độc dễ gây tai họa

    nên giết thịt

    Làm ruộng có trâu làm giầu có vợ

    Làm ruộng có trâu làm dâu có chồng

    Một huyền hai lái chẳng xong

    Một chĩnh hai gáo đừng nong tay vào

    Lúa Đồng Ngâu, trâu Yên Mỹ

    Mất trâu mất ruộng không màng

    Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa

    Mất trâu thì lại tậu trâu

    Những quân cướp nợ có (chẳng) giầu hơn ai ?

    Một trâu anh sắm đôi cày

    Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia

    Chàng ôi! chàng cho em ra

    Nhẽ đâu một ổ hai gà ấp chung ?

    Một trâu anh sắm hai cày

    Một chàng hai thiếp có ngày oan giạ

    Chả yêu thì bỏ nhau ra

    Làm chi một ổ hai gà ấp chung.

    Yếu trâu cũng bằng bò khỏe

    Con trâu ăn cỏ đất bằng

    Uống nước bờ ao

    Hồi nào mầy ở với tao

    Đến khi mầy chết

    Tao cầm dao xẻo thịt mầy

    Thịt mầy nấu cháo linh binh

    Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa

    Sừng mầy tao tiện con cờ

    Cán dao, cán mác, lược dầy lược thưa

    Mua trâu cưới vợ làm nhà

    Cả ba việc ấy đều là khó thay

    Muốn giầu nuôi trâu nái

    Muốn lụi bại nuôi chim bồ câu.

    Ngày xưa Ninh Thích chăn trâu

    Mà rồi công ấn công hầu trâu ơi !

    Ngày nay mình nghé ta ngồi

    Mai sau ta có một thời hiển vinh ?

    Trâu he cũng bằng bò khỏe

    Ghi Chú: * Trâu he là trâu nghé hay trâu còn non

    Lang đuôi thì bán, lang trán thì cày

    Ghi Chú: * Trâu có hoa trên trán thì giữ để cày ngược lại đuôi có hoa

    thì đem bán

    Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    Nghe ba anh ấy đầu lâu không còn

    Trâu ác vạc sừng

    Ghi Chú: * Trâu ác hay mài sừng để chiến đấu

    Tậu trâu lấy vợ làm nhà

    Trong ba việc ấy lọ là khó thay

    Ruồi lằn chọi với bò trâu

    Đàn gà quật với diều hâu mấy lần

    Thật thà cũng thể lái trâu

    Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng

    Trâu tóc chóp, bò mũ mấn

    Ghi Chú: * Trâu có tóc chóp thì tốt, ngược lại bò có tóc chóp thì xui

    xẻo

    Trâu ra, mạ vào

    Ghi Chú: * Cần cấy ngay sau khi cày ruộng xong

    Trâu kia (già) kén (cắn) (ăn) cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai (Anh) không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Hai sương một nang)Tắ đây trâu đấy ai mà quản công

    Bao giờ cây lúa còn bông

    Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

    Trâu ai buộc ngõ ông Cai

    Hoãn ai mà lại đeo tai bà Nghè

    Ngựa ai buộc ngõ ông Nghè

    Gà ai gáy ở đầu hè ông Cai

    Ghi Chú: * Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

    Trâu bò ở với nhau lâu quen chuồng quen chỏi

    Người ở với nhau lâu, inh ỏi đủ điều

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần

    Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    Ghi Chú: * Tục ăn trầu có ở hầu hết các nước Đông Nam Á; Xem: Trầu Cau

    Trong Ca Dao

    Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta (*)

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    Ghi Chú: * Hoặc: Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu khoẻ chẳng lo cày trưa

    Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

    Trâu kia chết để bộ da

    Người chết để tiếng xấu xa muôn đời

    Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu

    Ghi Chú: * Hai chân sau mở rộng gọi là khai hậu

    Sừng cánh cắt, mắt ông voi

    Ghi Chú: * Cặp sừng to lớn như cánh chim cắt là trâu tốt

    Ăn thịt trâu không tỏi

    Như ăn gỏi không rau mơ

    Trâu quá sá, mạ quá thì

    Ghi Chú: * Quá sá là quá già, không còn khả năng để cày cấy

    Trâu dê chết để tế ruồi

    Sao bằng khi sống cơi suồi kính dâng

    Lại thêm tiền thấp hậu cao

    Ghi Chú: * Hai vai trước thấp mà mông cao, con trâu đi chúi là khôphải

    trâu tốt

    Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày

    Ghi Chú: * Sống lưng phải vừa phải nhưng nổi cao thì trâu cày khỏe

    Đầu thanh cao, rào thấp hậu

    Chẳng tậu thì sao

    Được voi to trâu bò chẳng kể

    Hoa lan hoa huệ mới kể là hoa

    Một lời đã trót nói ra

    Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo (*)

    Ghi Chú: * Nguyên thủy: Nhất ký ngôn xuất tứ mãi nan truy

    Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng

    Trăm trâu trăm bó cỏ

    Trâu đứng ăn năm

    Trâu nằm ăn ba

    Nghé hoa ba con ăn một (*)

    Ghi Chú: * Câu đố toán học – Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

    Chưa được thì khấn một trâu

    Được rồi thì có trâu đâu cho bà

    Anh có sừng trâu bạc

    Tôi có gạc (có giác) trâu đen

    Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy

    Buộc trâu trưa nát chuồng

    Ăn thịt trâu không có tỏi

    Như ăn gỏi không có lá mơ

    Béo như trâu chương

    Đầu trâu mặt ngựa

    Chăn trâu chả biết mặt trâu

    Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

    Chị bị cứt trâu

    Chị em dâu nấu đầu trâu thủng nồi

    Chết đuối vũng trâu đằm

    Anh Ngữ Tương đương: * To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup)

    Chết lỗ chân trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Đàn gảy tai trâu (Đàn khảy tai trâu)

    Đầu nheo còn hơn phèo trâu

    Đến đâu chết trâu đến đấy

    Đi sông đi biển không chết chết ở lỗ chân trâu

    Làm cực như trâu

    Tương Đương với Anh Ngữ : To work as hard as a horse

    Chín đụn mười trâu chết cũng hai tay buông xuôi (cắp đít)

    Tương Đương với Anh Ngữ : A handfull of ashes is all than remains of the

    greatest. OR: It will all be the same a hundred years hence

    Có ăn có chọi mới gọi là trâu

    Gái mười bảy bẻ găy sừng trâu

    Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Cống làng Tô trâu bò làng Hệ

    Dắt trâu chui qua ống

    Đi cày trâu hút đi xúc phải cọc

    Trâu thì kho bò thì tái

    Muống thì vừa cải thì nhừ

    Đuôi chùng quá gối thì nào được đâu!

    Ghi Chú: * Trâu có đuôi dài quá cũng không đắc dụng

    Thứ nhất bó rễ, thứ nhì trễ cành

    Trâu cổ cò, bò cổ vại

    Ghi Chú: * Trâu phải có cổ dài, cổ bò lớn và ngắn thì tốt

    Giờ trâu về chuồng

    Hùng hục như trâu hút mả

    Hùng hục như trâu lăn

    Kẻ trâu trắng người trâu đen

    Khấn trâu trả lễ bò

    Khỏe như trâu

    Không có trâu bắt bò đi đẩm

    Làm kiếp trâu ăn cỏ làm kiếp chó ăn dơ

    Làm kiếp trâu kéo cày trả nợ

    Lấm như trâu đầm

    Lắm rận thì giàu lắm trâu thì nghèo

    Làm rể chớ xào thịt trâu làm dâu chớ đồ xôi lại

    Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc

    Lắm ruộng thì thâu lắm trâu thì bán

    Làm thân trâu kéo cày trả nợ

    Làm thân trâu ngựa

    Lâu ngày cứt trâu hóa bùn

    Lộn con toán bán con trâu (cả nhà)

    Lộn thừng lộn chão quá hơn lộn trâu cày

    Lòng trâu dạ chó

    Máu đâu trâu đó

    Máu trâu cũng như máu bò

    Nằm trâu thổi sáo

    Một con tằm cũng phải hái dâu một con trâu cũng phải đi chăn

    Mua trâu bán chả

    Mua trâu lựa nái cưới gái lựa dòng

    Mua trâu vẽ bóng

    Muốn giàu nuôi trâu cái

    Nai lưng trâu

    Nhịn thuốc mua trâu nhịn trầu mua ruộng

    Tương Đương với Anh Ngữ : Take care of the pence and the pounces will

    take care of themselves

    Phản chủ đầu trâu

    Ăn cơm nhà Phật, Ðốt trâu nhà chùa

    Phản chủ đầu trâu Ăn cơm nhà Phật

    Đốt trâu nhà chùa

    Ruộng sâu trâu nái

    Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng

    Thui trâu nửa mùa hết rơm

    Tham bong bóng bỏ bọng trâu

    Thật thà lái buôn (trâu)

    Vễnh sừng, tóc chớp cả nhà mang tai

    Ghi Chú: * Trâu loại nầy dữ, hay nổi khùng như trâu điên dễ gây tai vạ

    Sông Sâu (hoắm) không chết, chết vũng trâu đầm

    Tương Đương với Anh Ngữ : To cut one’s throat with feather OR An

    unfortunate man would be drowned in a tea cup

    Thà chết vũng trâu hơn chết khu đĩa đèn

    Trật con toán bán cái nhà (con trâu)

    Trâu béo kéo trâu gầy

    Trâu bò được ngày phá đỗ

    Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết

    Trâu buộc ghét trâu ăn

    Trâu cày ngựa cỡi (ngựa cưỡi)

    Trâu chậm uống nước đục (nước dơ)

    Trâu ngơ ăn cỏ héo

    Tương Đương với Anh Ngữ: He that comes first to the hill may sit where

    he will. OR: Delays are dangerous

    Trâu chết bò cũng lột da

    Trâu chết chẳng khỏi rơm

    Trâu chết để da người ta chết để tiếng

    Trâu chết mặc trâu bò chết mặc bò

    Củ tỏi giắt lưng

    Trâu cho ra trâu cho

    Bò bán ra bò bán

    Trâu cột ghét trâu ăn

    Trâu đạp cũng chết voi đạp cũng chết

    Trâu dong bò dắt

    Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy

    Trâu già đâu (không) nệ dao phay

    Trâu hay ác thì trâu vạt sừng

    Trâu ho cũng bằng bò khỏe

    Trâu lấm vẫy quàng

    Trâu lành (Trâu sống) không ai mà cả

    Trâu ngã nhiều gã cầm dao

    Trâu leo cày muỗm

    Trâu ngã lắm kẻ cầm dao

    Trâu nghiến hàm bò bạch thiệt

    Trâu ta ăn cỏ đồng ta

    Trâu teo heo nở

    Trâu thịt thì gầy trâu cày thì béo

    Trâu tìm cọc cọc chẳng tìm trâu

    Trâu tìm cột cột không tìm trâu

    Trâu toi thì bò ngã

    Trâu trắng đi đâu mất mùa tới đấy

    Trâu trắng trâu đen

    Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt

    Thân trâu trâu lo thân bò bò liệu

    Tiếc thịt trâu toi

    Trai mười bảy bẻ gãy sừng trâu

    Trăm trâu cũng một công chăm

    Vác bổi thui trâu

    Ghi Chú: Ý nói không liệu sức mình; Tương đương với câu: Liệu cơm gắp

    mắm

    Vô một gà ra phải ba trâu

    Voi địt hơn trâu rống

    Khoáy sừng, khoáy sọ, khoáy tai

    Tam tinh, chằng ách làm tai chúa nhà

    Đầu gà còn hơn đuôi phượng (đuôi trâu)

    Tương Đương với Anh Ngữ : Better be the head of a dog than a tail of a

    lion Làm chủ một nơi còn hơn làm tôi tớ kẻ khác.

    Dùng dao mổ trâu (mổ bò) cắt tiết gà

    Tương Đương với Anh Ngữ : To use a steam hammer to crack nuts Xử dụng

    không đúng chỗ

    Chung nốt làm cầu, chung trâu làm trống

    Chỉ đường cho Mọi trộm trâu

    Trâu hoa tai, bò gai sừng

    Ghi Chú: Trâu có hoa tai cũng như bò có gai sừng là hai con vật không

    nên nuôi

    Thưa lông, mọng da, mõm giỏ

    Ghi Chú: * Trâu lông thưa, miệng rộng mõm dài, miệng như cái giỏ mới tốt

    Trâu nghiến hàm, bò bạch thiệt

    Ghi Chú: * Trâu nghiến hàm chặt lại là trâu xấu

    Hàm nghiến, lưỡi đốm hoa cà

    Vểnh sừng tóc chóp, cửa nhà mang tai

    Ghi Chú: * Lưỡi trâu có đốm hoa cà là trâu tốt

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi

    Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

    Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi

    Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi

    Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà

    Ghi Chú: * Châm biếm người lái máy cày phải được ăn sang, nông dân phải

    chịu tốn kém

    Trâu ác là trâu vạc sừng

    Bò ác là bò còng lưng méo sườn

    Lọ đầu thì bán

    Lọ trán thì nuôi

    Lọ đuôi thì thịt

     

    Post ngày:

    10/05/17  

    --- Bài cũ hơn ---

  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100