Top 20 # Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Văn Hóa Việt Nam / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Boxxyno.com

Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ / 2023

Đề tài: Văn hóa ẩm thực Việt Nam qua ca dao, tục ngữMỤC LỤC1

KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.

2

NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNG

NGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦA CONNGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNGII.1 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.II.1.1 Ẩm thực miền BắcII.1.2 Ẩm thực miền TrungII.1.3 Ẩm thực miền NamII.2

Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

ăn uống của người Việt Nam

2.2.1. Trong phạm vi cộng đồng2.2.2. Cách ứng xử trong gia đìnhKết luận

1

MỞ ĐẦUNói đến ca dao là nói đến niềm tự hào của dân tộc mình.Ca dao là vănchương dân gian đã trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong nhữnggiai đoạn xã hội lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến ngày nay. Ít có người biếtđến được chính xác các tác giả, dù vậy ca dao đã là vũ khí chống lại những xâmnhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Ca dao Việt Nam là thành trìbảo tồn nền văn hóa dân tộc. Những câu ca dao tục ngữ, lời hò, hát dặm, bài vèthường đề cặp đến nhiều khía cạnh khác nhau như xã hội, gia đình, tín ngưỡng,tình yêu, thiên nhiên …Ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, làm giàu thêmtiếng Mẹ Đẻ, chúng ta nên cố gắng và trân trọng gìn giữ.1, KHÁI QUÁT VỀ ẨM THỰC VIỆT NAM.Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn,nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi ngườiViệt trên đất nước Việt Nam. Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thựcViệt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổbiến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trongcộng đồng người Việt.Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nướckhác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêuhàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những mónhết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên vềbày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộngia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệudai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các mónmăng, chân cánh gà, phủ tạng động vật …).*Nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực Việt Nam– Hòa đồng đa dạng

2

Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dân tộc khác, vùng miềnkhác để từ đó chế biến thành của mình. Đây là điểm nổi bật về ẩm thực của

nước ta – Dùng ít mỡCác món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ, không dùng nhiềuthịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ như món củangười Hoa.– Đậm đà hương vịKhi chế biến thức ăn, người Việt thường dùng nước mắm để nêm, lại kếthợp với rất nhiều gia vị khác… nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món đều có nướcchấm tương ứng phù hợp với hương vị riêng.– Tổng hoà nhiều chất, nhiều vịCác món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều lọai thực phẩm như thịt,tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra còn có sự tổng hợp của nhiềuvị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…– Ngon và lànhNgon lành là cụm từ thể hiện tinh thần ăn uống của người Việt. Ẩm thựcViệt Nam chính là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo nên nét đặc trưngriêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến kèm với cácgia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị,chỉ có người Việt Nam mới có…– Dùng đũaGắp là một nghệ thuật, phải gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi thứcăn… Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quaynướng, người Việt cũng ít dùng dĩa để xiên thức ăn như người phương Tây.– Cộng đồngTính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam, bao giờ trongbữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc riêng ra từng bát nhỏtừ bát chung ấy.3

-Hiếu kháchNgười Việt có thói quen mời trước khi ăn. Lời mời thể hiện sự giaothiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…– Dọn thành mâmNgười Việt có thói quen dọn sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trongmột bữa lên cùng một lúc chứ không như phương Tây ăn món nào mới mangmón đó ra.2

NHỮNG CÂU CA DAO TỤC NGỮ GIỚI THIỆU VỀ VÙNGNGUYÊN LIỆU VÀ NGHỆ THUẬT GIAO TIẾP ỨNG XỬ CỦACON NGƯỜI VIỆT NAM THÔNG QUA ĂN UỐNGII.3 Những câu ca dao, tục ngữ giới thiệu về vùng nguyên liệu.Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió

mùa.Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung,Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy địnhnhững đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét,khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đadạng. Đây là một văn hóa ăn uống sử dụng rất nhiều loại rau (luộc, xào, làmdưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt là canh chua, trong khi đó sốlượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịtđược dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc,hến, trai, sò v.v. Những món ăn chế biến từ những loại thịt ít thông dụng hơnnhư thịt chó, thịt dê, thịt rùa, thịt rắn, thịt ba ba… thường không phải là nguồnthịt chính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liênhoan nào đó với rượu uống kèm. Người Việt cũng có một số món ăn chay theođạo Phật được chế biến từ các loại thực vật, không có nguồn thực phẩm từ độngvật. Tuy nhiên, trong cộng đồng thì lại có rất ít người ăn chay trường, chỉ cócác sư sãi trong các chùa hoặc người bị bệnh nặng buộc phải ăn kiêng.*) Có 3 vùng nguyên liệu.4

II.3.1 Ẩm thực miền BắcLà một khu vực nằm ở địa đầu Tổ quốc, miền Bắc có nguồn tài nguyênthiên nhiên độc đáo và đa dạng. Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bảncủa vùng, do phù sa của hệ thống Sông Hồng và Sông Thái Bình bồi đắp. Diệntích này dùng để trồng cây ngắn ngày như lúa, hoa màu lương thực, cây côngnghiệp hàng năm. Diện tích này tiếp tục được mở rộng ra biển với các biệnpháp quai đê, lấn biển, thực hiện phương thức ” lúa lấn cói, cói lấn sú, vẹt, súlấn biển”.Đặc trưng khí hậu của vùng là có một mùa đông lạnh, từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau, và có tiết mưa phùn trong mùa khô. Đó là điều kiện hết sứcthuận lợi cho việc tăng vụ trong năm: vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụhè thu, vụ mùa.Mạng lưới sông ngòi trong vùng tương đối phát triển. Ở vị trí hạ lưusông Hồng và sông Thái Bình với nhiều chi lưu nên vùng có một mạng lướisông tương đối dày đặc.Trong nỗi nhớ thương sâu đậm quê hương, chứa đựng cái tình quyếnluyến mặn nồng những món ăn địa phương, hợp với khẩu vị người từng vùng,người miền Nam thấy món canh chua cá lóc thích khẩu cũng như người miềnBắc tha thiết với món thịt nấu đông trong ba ngày Tết. Cho nên, đồng bào miềnBắc khi lìa làng mạc chẳng đã than thởRa đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tươngNhớ ai giãi nắng dầm sươngNhớ ai tát nước bên đường đêm nao…Nào những món ăn cố hữu, nào cảnh, nào người đúc lại, rồi cô đọngthành hình ảnh lưu luyến nặng niềm nhớ quê hương.” Ai chẳng nhớ cháo làng GhềNhớ cơm phố Mía, nhớ chè Đông Viên5

Ở đất Bắc, ai lại không nhớ mãi hương vị đặc biệt :“Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bầnnước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”Ca dao đã ca tụng những vùng đặc sản rau của Hà Nội. Đó là vùng KẻLáng, Kẻ chợ ngày xưa :“…Đi đâu mà chả biết taTa ở Kẻ Láng vốn nhà trồng rauRau thơm, rau húng, rau mùi,Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoaMồng tơi, mướp đắng, ớt, cà,Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên.”” Dưa la húng Láng, nem Báng, tương BầnNước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”Rau được trồng ở vườn, song trong vườn lại còn có nhiều loại cây ăn quảnhư nhãn, hồng, bưởi, cau, sung…những loại cây này đều đã đi vào ca dao tụcngữ:“Ớt cay là ớt Định CôngNhãn ngon là loại nhãn lồng làng QuangAi về ăn ổi Đinh QuangĂn ớt Vĩnh Thạnh ăn măng Truông dài”II.3.2 Ẩm thực miền TrungMảnh đất miền Trung vốn cằn cỗi là thế và cũng không được thiên nhiênưu ái như các vùng đất khác, chính vì vậy, con người nơi đây luôn biết trântrọng và biến những sản vật tuyệt vời đó thành những món ăn mang nhữnghương vị rất riêng, mà ai đã một lần thưởng thức nó sẽ không thể nào quên.Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hươngvị riêng biệt nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màusắc được phối trộn phong phú, rực rỡ thiên về màu đỏ và nâu sậm.6

Xứ Thanh : Những thực phẩm như cá mè sông Mực (Nông Cống) rấtbéo đến nỗi dân quê phải ao ước trầm trồ :” Cá mè sông Mực chấm với nước măm Do XuyênChết xuống âm phủ còn muốn trở viền (về) mút xương”Ẩm thực Xứ Nghệ đậm đà, mộc mạc, như tính cách người Xứ Nghệ.Người Xứ Nghệ tuy mang vẻ ngoài thô kệch, quê mùa, nhưng tâm hồn lãngmạn, nên hương vị ẩm thực Xứ Nghệ cũng thi vị như tâm hồn người XứNghệ.Thi vị của Ẩm thực Xứ Nghệ người đời không thể không công nhận, vìtừ rất lâu, nó đã gắn liền với ca dao:” Nhà Từa rau vác, Giao tác cà ngải, Phúc hải bền môn”.Đây là ba thứ rau cà nổi tiếng của ba thôn được nhắc đến một cách vầnvè để nói về những bữa ăn kham khổ của dân lao động.” Cá rô bầu nón kho với nước tương Nam ĐànGạo tháng mười đánh tràn không biết no”“Nhứt Thanh Chương tương Nam Đàn”Quả tình món nhứt mới là món thực phẩm của xứ Nghệ cũng chỉ là loạidưa muối chua mà thôi, nhưng nguyên liệu chủ yếu là mít non. Nhút này phảichấm với tương Nam Đàn mới thực là đúng vị.” Quê ta mía ngọt Nam ĐànBùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã ĐoàiHọ nói đến sản vật quê hương là để tỏ niềm tự hào với của cải tự nhiên,với vật phẩm dồi dào, với đời sống tất nập.Nhà cách mạng Hồ Chí Minh nửađời buôn ba khắp thế giới, không bao giờ quên được không khí và cảnh sắc quêmình.“Sa Nam trên chợ dưới đòBánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên”Xứ Quảng:

7

” Đường về phố Hội còn xaTrên trăng, dưới nước, còn ta …với mỳ!”Khi mỳ Quảng gắn với sông nước lênh đênh thì còn được gọi ” mỳ ghe”,đơn giản là người bán trên ghe phục vụ cho khách đi thuyền trên bến sông nàođó. Các bến đò dọc sông Vu Gia, Thu Bồn … nơi nào cũng có “mỳ ghe” mãimãi là nỗi nhớ của những người con xứ Quảng xa quê. Hình ảnh đó đã đi vàoca dao:” Thương nhau cho bát chè xanhLàm tô mỳ Quảng mời anh xơi cùng”Ăn 1 tô mỳ Quảng xong, phải uống 1 bát chè xanh Tiên Phước thì sướngđến mê tơi.” Ẳm em đi dạo vườn càTrái non ăn mắm trái già làm dưaLàm dưa ba bữa dưa chuaGửi về cho mẹ làm dưa tốn tiền”.Ở miền Trung người ta hay muối cà, muối rau không chỉ làm dưa mà cònlàm mắm.” Lửa gần rơm như cơm gần mắmĂn cơm mắm thấm về lâuCá bống kho tiêu cá thiều kho nghệ”.Bước vào miền Trung cổ kính, ca dao Việt Nam sẽ giúp chúng ta thưởngthức những món ăn của xứ Cố Đô:Yến sào Vĩnh Sơn.Cua gạch Quảng KhêSò nghêu Quan HàRượu dâu Thuần Ly.ù

8

Những ân tình hình như bị bỏ quên mỗi khi nhắc đến món rượu dâu rừngcó vị chua chua, ngọt ngọt của miền Trung. Biết bao chàng trai đắm say menrượu thay men tình:“Mang

bầu

đến

quán

rượu

dâu.

Say sưa quên biết những câu ân tình.”Xứ Huế, đất Đế Đô, đất Thần Kinh không làm sao bỏ quên những câu ca daobất hủ của các món như:“Ốc gạo Thanh HàThơm rượu Hà Trung.Mắm ruốc Cửa Tùng.Mắm nêm Chợ Sãi.”Các món ăn theo ca dao cùng nhau vượt núi, vượt đèo Hải Vân:“Nem chả Hòa Vang.Bánh tổ Hội An.Khoai lang Trà Kiêu.Thơm rượu Tam Kỳ.”Với đồi núi cao ngất, biển cả mênh mông, ca dao Việt Nam lại mangnhững món hải sản để trao đổi với những rau trái:“Ai về nhắn với họ nguồn.Mít non gửi xuống cá nguồn gửi lên.Măng giang nấu với ngạch nguồn.Đến đây nên phải bán buồn cho vui.Cá nục nấu với dưa hường.Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi.Thương em vì cá trích vè.Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.”Ca dao ngọt ngào hương vị khi về tới xứ Quảng, Qui Nhơn:9

“Kẹo gương Thu XàMạch nha Thi Phổ.Muốn ăn bánh ít lá gaiLấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.”Ca dao qua các món sơn hào, hải vị khi bước vào Khánh Hòa:“Yến sào Hòn Nôi.Vịt lội Ninh Hòa.Tôm hùm Bình Ba.Sò huyết Cam Ranh.Nai khô Diên Khánh.”Thêm vào những món ăn của miền Trung qua ca dao Việt Nam còn cócác món gỏi:Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.Trên non túc một hồi còi,Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.Không đi thì sợ quan đòi.Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.II.3.3 Ẩm thực miền NamNam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam Địa hình trên toàn vùngNam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và ĐôngNam giáp biển Đông, phía bắc và tây bắc giáp Campuchia và một phần phía tâybắc giáp Nam Trung Bộ.Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vàcận xích đạo, nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài,nhiệt độ và tổng tích ôn cao.Biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong nămthấp và ôn hòa. Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng từ 80 – 82%.Khí hậu hìnhthành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa từ10

tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4. Về mùa vụ sản xuất cókhác với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.” Biên Hòa có bưởi Thanh TràThủ Đức nem nướng Điện Bà Tây NinhBánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đuốc”.“Ba phen quạ nói với diều.Cù lao Ông chưởng có nhiều cá tôm.Tháng tư cơm gói ra Hòn.Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.”Ca dao không những qua thực đơn mà còn có những điệu hò ru con củacác bà, các mẹ:“Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.Về sông ăn cá về đồng ăn cua.Ví bằng con cá nấu canh.Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”Ca dao còn giúp những món rau cải được tăng thêm sư thèm muốn chongười dùng:“Mẹ mong gả thiếp về vườn.Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.Khoan khoan mổ một con gàBí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.”Cũng như các ông thường thèm chút rượu đi đôi với:“Đốt than nướng cá cho vàng.Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.Bậu ra bậu lấy ông câu.Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.Kho tiêu, kho ớt, kho hành.11

Kho ba lượng thịt để dành mà ăn…”Qua những lời ca dao ngọt ngào đậm chất trữ tình chúng ta có thể thấyđược sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng nguyên liệu, cách ăn của ẩmthực 3 miền. Mỗi 1 vùng miền có 1 nét riêng thể hiện đậm chất con người vàvăn hóa Việt Nam.*) Phân loại theo gia vị.Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộnnguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia vị)để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:*

Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa

là, mùi tàu v.v.;*

Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá

*

Gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo

non;đắng, nước cốt dừa…Khi thưởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cáchtổng hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: người Việt ít khi ăn món nào riêngbiệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món ăntừ đầu đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các nướckhác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước mắm. Nước mắmđược sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn của người Việt. Ngoài racòn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu (làm từ đậu nành). Bát nướcmắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến nay làm khẩu vị đậm đà hơn, mónăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người ViệtMắm là một món ăn mang đầy tính… thách thức, ai có can đảmmới dám làm bạn với mắm để mà gắn bó với nó suốt đời. Vì vậy, không có gìlạ khi thứ thực phẩm “nặng mùi” này đi liền với… tình nghĩa vợ chồng, từ thuởtóc còn xanh, mới xây tổ uyên ương đã nghe sực nức cái mùi “độc chiêu”:12

“Nước chanh giấy hòa vào mắm mựcRau mũi viết lộn trộn giấm sonBốn mùi hiệp lại càng ngonNhư qua với bậu, chẳng còn cách xa”Hay là mùi mẫn hơn:“Mắm cua chấm với đọt vừngHọ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.”Cho đến khi răng long đầu bạc chống gậy lụm cụm, mà bạn tôi gọi là“đôi bóng nhỏ đi vào… Thiên Thai” thì mắm là cái tình chung thủy có mùi vịrất đời và khó tả” Con cá làm nên con mắmVợ chồng nghèo thương lắm mình ơi”Các cô chưa chồng mà còn kén bị so sánh với hũ mắm để lâu trong nhà“Liệu cơm mà gắp mắm raLiệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi.”“Trai ba mươi tuổi đang xinhGái ba mươi tuổi như chình mắm nêm”Đừng sợ, mắm là mặt hàng dự trữ lâu, không sợ thiu. Nhiều chàng coi bộcũng ưa mấy cái hũ mắm hơn mấy cô non tơ nheo nhẻo trên thị thành“Muốn làm kiểng lấy gái Sài GònMuốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu.”“Anh than cha mẹ anh nghèoĐũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum”Thì ra mắm cũng có thứ sang trọng, đắt tiền khiến cho mấy anh vớikhông tới, chớ đừng làm bộ chê. Dầu mình có lớn tuổi hơn thì hũ mắm cũngvẫn có người mơ :“Mắm ruốc trộn lẫn mắm nêmBan ngày kêu chị, ban đêm kêu mình.”13

Vả lại, mấy ảnh cũng đi cưới vợ bằng mắm, chớ có chi lạ:“Tiếng đồn con gái Phú YênGhe anh đi cưới một thiên mắm mòiKhông tin giở thử lên coiRau răm ở dưới, mắm mòi ở trên.”Ai biểu đi cưới vợ bằng mắm, đến khi chung sống rồi thì hũ mắm cũnglàm khổ đời trai“Em còn bánh đúc bẻ baMắm tôm quệt ngược, cửa nhà anh tan”Mắm tôm là thứ gia vị mặn mà của nhiều món ăn phía bắc, tại sao ngườita lại thường ví nó với sự bất hòa, thô kệch:“Vợ chồng ta bánh đa bánh đúcVợ chồng nó… một cục mắm tôm”Mắm là sự dầm ấm trong gia đình:“Giàu thì thịt cá bĩ bàngNghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu”II.4

Những câu ca dao, tục ngữ thể hiện nghệ thuật ứng xử trong

ăn uống của người Việt Nam.2.2.1. Trong phạm vi cộng đồngViệc ứng xử khi ăn uống trong cộng đồng người Việt được đặt ra 1 cáchnghiêm ngặt. Dân gian có câu: ” miếng ăn quá khẩu thành tàn” để chỉ rõ cái sựăn nếu không được giáo dục cẩn thận sẽ bị người đời chê cười.Nếu trong ăn uống ở gia đình trọng thực tức là bảo đảm nhu cầu dinhdưỡng được đưa lên hang đầu thì mục đích ăn uống nơi đình đám không hoàntoàn như vậy. Tác giả Trần Từ cho rằng : mục đích của nó là bữa cơm cộngcảm. Dụng cụ trong đình đám , lễ hội cũng khác thứ dùng hàng ngày. Chẳnghạn, mâm phải là mâm thau hoặc mâm gỗ sơn, dùng đũa sơn, bát đĩa men,thùng đựng cơm bằng gỗ tiện sơn son.14

” Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”Ở đây không chỉ nói về chuyện ăn đủ mà quan trọng hơn là cái miếng ănấy biểu trưng cho địa vị của mỗi người.” Một miếng khi đói bằng một gói khi no”Không chỉ bao hàm nghĩa đùm bọc, đỡ đần nhau trong hoạn nạn mà cònphản ánh sự chia sẻ thức ăn.” Ăn cá nhả xươngĂn đường nuốt chậm”Cá là loại động vật nhiều xương vì thế ăn quá vội sẽ dễ bị hóc, cònđường là loại gia vị chế biến từ thực vật dễ tan trong nước, nếu ăn từ từ thì mớicảm nhận được vị thơm ngọt của nó. Nghĩa đen của nó thật dễ hiểu nhưngnghĩa bóng của nó còn truyền tải hiệu quả hơn nhiều.Câu này khuyên người ranên linh động trong mọi việc có cách ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, có vứt bỏnhững khó khăn, căng thẳng thì mới thưởng thức được những cái vui của cuộcsống.“Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”.Có thể hiểu ăn mặn ăn chay chỉ là vẻ bề ngoài, hay cách ứng xử của conngười, còn nói ngay nói dối là bên trong, tức là đạo đứa của con người cần phảigiữ gìn. Câu tục ngữ này truyền tải ý nghĩa đả kích những người thích giả đạođức ngoài mặt mà tâm địa đen tối, nham hiểm, làm những việc ngoài mặt tráivới tâm địa của mình.” Ăn một miếng tiếng một đời”Con người tất phải ăn nhưng là loại động vật thượng đẳng nên goàimiếng ăn là vật chất ra còn phải lưu ý tới tinh thần tức danh dự, nhân phẩm.Tuy nhiên cũng không ít người sẵn sàng lao vào tranh đoạt miếng ăn mà bỏ quatư cách của mình vì vậy thành ngữ có câu:” Miếng ăn là miếng tồi tàn”

15

Sử dụng 2 từ “ăn” là vật chất, “miếng” là tinh thần. Câu ca chê tráchnhững người chỉ biết ăn mà quên đi phẩm giá.” Ăn ốc nói mò”Câu tục ngữ chê trách những người không biết được nguyên nhân sự việcnào đó mà sự dụng trí tưởng tượng của mình đoán già đoán non rồi đưa ra kếtluận khiến sự việc sai lệch đi.” Ăn tùy nơi tùy chốn”Đây là một triết lý nhân sinh sâu sắc của người xưa đúc kết thành tụcngữ, nhằm khuyên bảo người ta nên ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, tùy nơi tùylúc.” Ăn không lo của kho cũng hết”Con người bắt buộc phải để ăn để sống, để bồi bổ cho sức lực đã mất đido lao động nhưng nếu ăn mà không làm việc thì biết lấy đâu ra mà ăn? Vì vậynếu chỉ biết ăn mà không biết làm, không biết lo lắng, cân bằng giữa làm và ănthì của cải bao nhiêu cũng hết. Cũng với ý nghĩa này, kho tàng tục ngữ có câu:” Miếng ăn mấy núi cũng lở”Tuy không thể nhắc nhở đến việc phải lo toan nhưng rất tự nhiên khiếnngười ta phải tính toán, sắp xếp.Ngoài ra, kho tàng ca dao tục ngữ của ta còn có nhiều câu khuyên răn,nhắc nhở con người ứng xử cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, đạo đức xãhội.” Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi”” Ăn miếng chả trả miếng nem”” Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành”” Ăn nên đọi nói lên lời”” Ăn nhạt mới biết thương đến mèo”” Ăn no tức bụng”” Ăn ớt sụt suỵt ăn ớt ghê răng”16

” Ăn quả chín dành quả xanh”” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”” Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay dần sàng”” Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”” Ăn theo thưở ở theo thì”” Ăn phải mùi chùi phải sạch”” Ăn quả vả trả quả sung”” Ăn ráy ngứa miệng”” Ăn tám lạng trả nửa cân”” Ăn thì mau chán, việc cần thì đủng đỉnh”” Ăn lắm không biết miếng ngonNói lắm sẽ hết lời khôn hóa rồ”” Miếng ăn là miếng nhục”” Cơm ăn chẳng hết thì treoViệc làm chẳng hết thì kêu láng giềng”” Cơm ăn mỗi bữa một lungHơi đâu mà giận người dưng thêm gầy”2.2.2 Cách ứng xử trong gia đình.Cung cách ứng xử trong gia đình của người Việt biểu hiện lõ nhất qua 2bữa cơm chính. Đây là 2 bữa mà mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu đôngđủ.” Người ăn không bực bằng người trực nồi cơm”Câu nói này ở mức độ nào đó cũng phản ánh khía cạnh trên. Mọi ngườigắng chờ đủ nhau trước khi ăn. Nếu nhà ít người và cũng không phong kiến thìtất cả ngồi quay quanh 1 mâm cơm. Vị trí đặt mâm cũng tùy từng nhà hoặc tùytheo từng buổi hoặc từng mùa. Nếu bếp rộng rãi người ta đặt ngay mâm cơm ở1 gian. Vào mùa đông các gia đình thích ăn cơm trong bếp, đôi khi còn do điềukiện khác, có mâm cơm khách đặt trên nhà thì có mâm cơm của vợ con gia chủ17

thường đặt dưới bếp. Có người khách đến thăm lúc đang dùng bữa, vợ con ý tứbưng mâm xuống bếp. Khi trời hè vào bữa tối người ta thích ngồi ăn ở hiên hayngoài sân cho mát.Trong bữa ăn ai ngồi đầu nồi thì đánh cơm, ai trẻ nhất trong mâm thìphải mời trước, mời lần lượt từ người nhiều tuổi hoặc người có vị trí.” Ăn chậm nhai kĩ “Là 1 thói quen của người Việt nói chung đến mức được tổng kết trong 1câu tục ngữ ” Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa” là nhắc nhở đến cung cách ứngxử.” Ăn trông nồi ngồi trông hướng”.Nồi cơm ở đây là biểu hiện cho văn hóa của người phương Đông. Thôngthường tùy theo số miệng ăn mà nấu, vì vậy dù có đói đến đâu cũng phải tế nhịmà xem xét cơm còn hay không để biết dừng lại nhường cho những ngườikhác. Lý luận xưa kia rất nghiêm khắc với tôn ti trật tự, thậm chí còn quy địnhcả chỗ ngồi cho từng người. Vì vậy là người có đầu óc thì phải biết quan sáttrước khi ngồi xuống, không để phạm sai lầm . Câu tục ngữ này khuyên bảocon người ta phải biết quan sát, cân nhắc trước khi muốn thực hành bất cứ việcgì, chứ không riêng gì việc ăn uống hay ngồi đúng nơi đúng chỗ.*) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm của con cái với cha (mẹ).Sự phụng dưỡng không đòi hỏi phải cao sang. Cung cách phụng dưỡngmới nói lên được lòng hiếu thảo:“Anh đi vắng cửa vắng nhà,Giường loan gối quế, mẹ già ai nuôi!Cá rô anh chặt bỏ đuôi,Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già.”“Ba tiền một khứa cá buôi,Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.”Người Huế có thêm một cách phụng dưỡng rất địa phương:18

“Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi,Gạo de An-cựu mà nuôi mẹ già.”Con cái ăn gì thì cha mẹ già ăn thứ đó, không đòi hỏi phải cao sang. Vớigia đình bình dân thì cơm với cá là món ăn căn bản cho cha mẹ. Nếu có mộtchút hy sinh quyền lợi căn bản của chính mình, như nhịn phần cơm của mìnhđể nuôi cha mẹ, thì lòng hiếu mới trọn vẹn.“Đói lòng ăn hột chà là,Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.Đói lòng ăn trái ổi non,Nhịn cơm nuôi mẹ, cho tròn nghĩa xưa”Ngày nay chúng ta vẫn còn tiết kiệm từng miếng ăn, từng mảnh áo, đểcó ít tiền gởi về cho cha mẹ ở nơi xa. Đáng kính thay lòng hiếu thảo của ngườicon Việt Nam.Lòng hiếu của người bình dân thiết tha, đậm đà và thực tế hơn cảnh cắtthịt của mình cho cha mẹ ăn, hay ôm gốc măng mà khóc như trong Nhị thập tứhiếu của Nho gia.Nếu phải xa nhà vì công việc làm ăn, người chồng dặn dò người vợ trẻmột vài phương cách phụng dưỡng mẹ già thay mình.“Liệu mà thờ kính mẹ già,Đừng tiếng nặng nhẹ, người ta chê cười.Dù no dù đói cho tươi,Khoan ăn bớt ngủ, liệu bài lo toan.’*) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm vợ chồng.” Tay bưng chén muối đĩa gừngGừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”Tình yêu đôi lứa không phải bao giờ cũng hòa thuận, suôn sẻ, có khisóng gió bão bùng, có lúc ấm vui hạnh phúc nhưng cũng có khi thì đắng cay,19

đau khổ. Lấy vị mặn của muối, vị cay của gừng để truyền tải 1 ý nghĩa. Một khiđôi trai gái chấp nhận chung sống với nhau thì cũng phải chấp nhận nhữngxung đột tình cảm trong quá trình ấy. Dù đắng cay ngọt bùi như thế nào cũng làlẽ thường tình, không vì thế mà rời bỏ nhau được. Đây là câu ca dao thể hiệnđược đạo lý phải giữ được lòng chung thủy trong tình yêu vợ chồng bằngnhững món thực vật hàng ngày.” Râu tôm nấu với ruột bầuChồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”Câu nói này thể hiện một cách tinh tế tình cảm vợ chồng. Râu tôm vàruột bầu là những thứ người ta hay loại bỏ khi chế biến, nhưng ở câu nói này lạilà thứ thức ăn “ngon”, bởi lẽ nó chứa đựng tình cảm yêu thương, đồng camcộng khổ của đôi vợ chồng nghèo. Tuy khó khăn nhưng họ vẫn biết đùm bọcyêu thương nhau, thế nên những thứ tưởng chừng như không ăn nổi thì họ lại“gật đầu” tấm tắc khen ngon. Qua đây, người ta khuyên những đôi vợ chồngnên biết cùng nhau vượt qua khó khăn, có thế mới có ngày hạnh phúc, bên nhautrọn đời.*) Những câu ca dao tục ngữ nói về tình cảm nam nữ.” Ăn cơm hồ sen, uống nước hồ senAnh quen em những thưở đi men trên giường”

” Ăn trầu người như chim mắc nhạUống rượu người như cá mắc câuThương em chẳng nói khi đầuĐể cho bác mẹ ăn trầu khác nơiĐau lòng em lắm, anh ơiRiêng em chỉ quyết đợi người lấy thôi”

20

” Ăn chi cho má em hồngGọi chi cho tóc như đồng nước xanhVì chưng ăn miếng trầu xanhCho nên má đỏ tóc xanh đến giờ”” Ăn cơm cũng thấy nghẹnUống nước cũng thấy nghẹnNghe lời em hẹn ra bãi đứng trôngBiển xanh bát ngát nhìn không thấy người”” Ăn cơm dừa ngồi gốc cây dừaCho em ngồi với cho vừa một đôi”” Ăn cơm ba chén lung lungUống nước cầm chừng, để dạ thương em”” Ăn cà ngồi cạnh vại càLấy anh thì lấy đến già mới thôi”” Ăn trầu phải mở trầu raMột là thuốc độc, hai là bùa yêu”” Ăn bát cơm trắng nhớ bát cơm langĐường kia nồi nọ dặn em khoan lấy chồng”Những câu ca dao tục ngữ này 1 phần thể hiện tình cảm sâu sắc của cácđôi trai gái đang yêu nhau, 1 phần thể hiện sự tiếc nuối, kém duyên của nhữngđôi không đến được với nhau tuy tình cảm đã mặn mà. Phần khác là chê trách,phê phán xã hội phong kiến lạc hậu đã không cho họ được kết duyên với nhau,khiến họ phải xa lìa nhau, khiến họ đau khổ mà chỉ biết gửi gắm tình cảm vàonhững câu ca ngắn ngủi.

21

Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Trong Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt Nam. / 2023

MỤC LỤCA. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………11. Tên đề tài……………………………………………………………………12. Lý do chọn đề tài………………………………………………………… 13. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………… 14. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………… 25. Phương pháp nghiên cứu 26. Cấu trúc tiểu luận……………………………………………………………2B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU…………………………………2 Chương 1. Các khái niệm liên quan……………………………………….2 Chương 2. Truyền thống văn hóa dân tộc qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao 41. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết……………………………………………….42. Truyền thống trung thực, tự trọng…………………………………………………63. Truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn……………………………………64. Một số thành ngữ khác về truyền thống con người Việt………………………… 8 Chương 3 : Dấu ấn văn hóa dân tộc qua ý nghĩa biểu tượng của thành ngữ, tụcngữ Việt Nam…………………………………………………………………………9C. KẾT LUẬN…………………………………………………12D. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………131A.PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tên đề tàiTRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO, TỤC NGỮ,THÀNH NGỮ VIỆT NAM.2. Lý do chọn đề tài. Thành ngữ tục ngữ được xem như túi khôn của nhân loại, tục ngữ thành ngữkhông chỉ là những kinh nghiệm dân gian của ông cha mà chứa đựng trong đó còn là kếttinh nền văn hóa của cả một dân tộc. Thành ngữ tục ngữ gần gũi với giao tiếp trong cuộcsống hàng ngày, người ta đôi khi sử dụng thành ngữ như một thói quen, như một câucửa miệng mà quên mất yếu tố văn hóa ở trong đó. Nhận thấy tính bức thiết của đề tàinày, tiểu luận ” Truyền thống văn hóa dân tộc trong ca dao, tục ngữ thành ngữ ViệtNam ” sẽ tập trung phân tích, làm rõ ý nghĩa những thành ngữ thể hiên truyền thốngvăn hóa dân tộc của người Việt Nam, đồng thời phân tích những yếu tố văn hóa ẩn chứadưới lớp vỏ ngôn từ, qua đó giúp người đọc hiểu một cách rõ ràng và sâu sắc về văn hóadân tộc Việt Nam.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3.1 Đối tượng Kho tàng thành ngữ tục ngữ, ca dao dân tộc là vô cùng to lớn, do vậy bài viết sẽchỉ đề cập tới một số thành ngữ điển hình, được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàngngày. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Trong bài đề cập tới truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, đây là một đề tàirộng lớn mang tính bao quát. Bài tiểu luận chỉ tập trung vào một số truyền thống tiêubiểu mang tính đặc trưng cho con người và dân tộc Việt Nam như truyền thống nhânhậu, đoàn kết ; truyền thống trung thực tự trọng ; truyền thống uống nước nhớ nguồn.24. Mục đích nghiên cứu Qua việc khảo sát, thống kê, phân tích, bài viết sẽ tập trung lý giải đặc điểm ngữnghĩa của bộ phận tục ngữ thể hiện truyền thống văn hóa dân tộc, so sánh đối chiếu chấtliệu ngôn ngữ cùng ý nghĩa câu thành ngữ tục ngữ với câu tương tự của các nước khác,qua đó để tìm hiểu đặc trưng văn hoá của người Việt.5. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân loại;phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp nghiêncứu liên ngành.6. Cấu trúc của tiểu luận.Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của bài viết bao gồm 3 chương:Chương 1: Các khái niệm liên quan.Chương 2: Truyền thống văn hóa dân tộc trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Chương3: Dấu ấn văn hóa dân tộc qua ý nghĩa biểu tượng của thành ngữ tục ngữ Việt Nam.

Sau cùng là Tài liệu tham khảo.B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.1.1 Định nghĩa về văn hóa của UNESCO Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và cảm xúc,quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương , những lối sống, những quyền cơbản của con người và hệ thống những giá trị những phong tục, tín ngưỡng. Văn hóa đem3lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa giúp cho chúng ta trởthành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính có phê phán và dấn thân một cách có đạolý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình làmột phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi khôngmệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình mới mẻ, vượt trội bảnthân.1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói vàngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi vănhoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, vàlà công cụ tư duy của con người.1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vàongôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song vớibiến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứungôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.1.4 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ. -Thành ngữ là một cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, nghĩa củachúng có tính hình tượng, gợi cảm. – Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ kinh nghiệm, luân lí, là những câu nóihoàn chỉnh, tục ngữ được coi như một tác phẩm văn học trọn vẹn bởi nó luôn mang bachức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.4CHƯƠNG 2 . TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO,TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ.1. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết.Có thể nói nhân hậu, đoàn kết là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộcta. Khó có một dân tộc nào trên thế giới có ý thức dân tộc mạnh mẽ cùng truyền thốngđoàn kết như dân tộc ta.Trải qua 4000 năm lịch sử, dân tộc ta từ khi dựng nước đã phảigiữ nước do đó ý thức dân tộc luôn được đặt lên trên hết, điều này được thể hiện rõ néttrong văn hóa nước ta, mà biểu hiện của nó được thể hiện một cách rõ nét trong kho tangthành ngữ tục ngữ. Thành ngữ tục ngữ ca dao về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được thểhiện một cách rõ nét qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như:– Lá lành đùm lá rách : người có lòng giúp người khác trong cơn khó khăn. Hoạn nạn– Chết cả đống còn hơn sống một mình : tinh thần đoàn kết, sống chết có nhau.– Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ : tinh thần đoàn kết, đòng cam cộng khổ.– Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết : đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.– Đồng tâm hiệp lực ( đồng sức đồng lòng): cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mụctiêu chung– Thương người như thể thương thân: tinh thần nhân đạo cao cả, coi trọng giá trịcon người.– Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao– Bầu ơi thương lấy bí cùngTuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.– Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước thì thương nhau cùng. Chúng ta có lẽ không xa lạ gì với những câu tục ngữ, thành ngữ trên, ông cha tađã sử dụng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để thể hiện thông điệp của mình. Đây đượcxem như những lời răn dạy, những bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời. Những“bầu”, những “bí” hay “lá lành”, “lá rách” đều mang ý nghĩa biểu tượng cho con người5Việt Nam, những đồng bào cùng chung sống trong mái nhà chung. Đất nước Việt Namlà một đất nước nhỏ, dân tộc Việt Nam là tổng hòa mối quan hệ của 54 dân tộc anhem .Nếu không có sự đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau thì dân tộc này,đất nước này làm sao có thể có được hòa bình êm ấm, tự do tự chủ. Thành ngữ, tục ngữ còn nói lên bài học về lòng nhân hậu vị tha.– Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tìnhnghĩa với người cũ.– Hiền như Bụt: Khen người nào rất hiền lành.– Lành như đất: Khen người nào rất hiền lành.– Ở hiền gặp lành: Ăn ở tốt với người khác thì lại có người đối xử tốt với mình.Khuyên sống hiền lành, nhân hậu thì sẽ gặp điều tốt đẹp may mắn.– Uống nước nhớ nguồn: Biết ơn người đã đem lại những điều tốt đẹp cho mình, sốngcó nghĩa có tình, thủy chung.– Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.– Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tìnhnghĩa với người cũ.– Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấycó giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.– Muôn người như một: Mọi người đều đồng ý như nhau, đoàn kết một lòng.– Nhường cơm sẻ áo: Nói lên tình cảm thân thiết giữa con người với nhau. Gúp đỡ, sansẻ cho nhau lúc gặp khó khăn hoạn nạn. Bên cạnh những thành ngữ mang ý nghĩa tốt cũng có không ít thành ngữ phê phánnhững thói xấu của một số người trong xã hội như :6– Con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.– Trâu buộc ghét trâu ăn: Nói những kẻ ghen ghét gièm pha người có quyền lợi hơnmình.2. Truyền thống trung thực , tự trọng.– Cây ngay không sợ chết đứng: Người ngay thẳng chẳng sợ sự gièm pha, bày đặt đểnói xấu hay chèn ép của kẻ ghen ghét. – Chết trong còn hơn sống đục: phương châm cao thượng của người biết tự trọng.– Chết vinh còn hơn sống nhục: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.– Chết đứng còn hơn sống quỳ: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.– Đói cho sạch, rách cho thơm: Dù đói khổ vẫn phải sống trong sạch, lương thiện.– Giấy rách phải giữ lấy lề: Dù nghèo đói, khó khăn vẫn phải giữ nền nếp.– Thẳng như ruột ngựa: Có lòng dạ ngay thẳng.– Tốt danh hơn lành áo: Danh dự thanh danh còn hơn cái vỏ bề ngoài.– Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Chê người vì một mối lợi nhỏ mà phẩm chất sasút.– Đục nước béo cò: phê phán kẻ cơ hội.3. Truyền thống biết ơn ,uống nước nhớ nguồn. Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn. Truyền thống ấy được thể hiện qua việc biết ơn, kính trọng đấng sinh thành, tôn trọng 7người có lòng giúp đỡ, dìu dắt, dạy bảo ta nên người. Truyền thống ấy được cha mẹ, ôngbà răn dạy ngay từ thuở còn trong nôi, theo thời gian, truyền thống ấy được bồi đắp, giữ gìn rồi trở thành quan niệm sống, lối suy nghĩ, trở thành văn hóa của cả một dân tộc. Từ xưa đến nay, tryền thống uống nước nhớ nguồn luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua nhiều đời, nhiều thế hệ và vẫn luôn vẹn nguyên giá trị cho tới ngày nay. Tục ngữ, thành ngữ về biết ơn gia đình, tổ tiên và những người có lòng giúp đỡ mình:– Ăn quả nhớ người trồng cây: nhớ ơn tổ tiên, ông bà.– Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy: nhớ ơn ông bà cha mẹ và người thầy.– Uống nước nhớ nguồn: luôn ghi nhớ công ơn, tổ tiên, gốc rễ.– Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.– Chim có tổ, người có tông: – Lá rụng về cội.– Ơn trả nghĩa đền : phải biết ơn, ghi nhớ công ơn, đền đáp những người đã giúp đỡ mình.– Ơn sâu nghĩa nặng : ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình– Tiên học lễ, hậu học văn : trước hết phải biết đạo lí, học cách đối nhân xử thế rồi sau đó mới học kiến thức.– Kính lão, đắc thọ : Tôn trọng, yêu quý người già thì được sống lâu.– Kính già, già để tuổi cho.– Tối lửa tắt đèn : mối quan hệ thân thuộc giữa hàng xóm, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.Ca dao tục ngữ thể hiện lòng kính trọng người thầy.– Không thầy đố mày làm nên.– Tôn sư trọng đạo: kính trọng thầy và coi trọng những kiến thức, cái đạo của thầy truyền lại, theo nho giáo.– Nhất tự vi sư, bán tự vi sư : một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.– Một chữ nên thầy: đồng nghĩa với nhất tự vi sư bán tự vi sư.– Trọng thầy mới được làm thầy: phải kính trọng thầy thì mới có thể nhận được sự 8kính trọng từ người khác.– Tầm sư học đạo: tìm thầy, tìm người giỏi để theo học.

Không chỉ là những lời răn dạy con người ta biết nghe theo điều hay lẽ phải, thành ngữ, tục ngữ còn phê phán lối sống bất nhân bất nghĩa như:– Gieo nhân nào gặt quả ấy: một người luôn làm thiện tích đức sẽ gặp thiện báo còn làm ác sẽ gặp quả ác báo.– Gieo gió gặt bão: làm việc xấu thì phải gánh lấy hậu quả.– Có trăng quên đèn: phê phán lối sống phụ bạc, thiếu tình nghĩa, có cái mới thì quay ra rẻ rúng, vứt bỏ cái cũ.– Có mới nới cũ : đồng nghĩa với có trăng quên đèn.4. Một số thành ngữ khác về phẩm chất con người Việt.– Có chí thì nên: có ý chí nghị lực thì sẽ có ngày thành công.– Có cứng mới đứng đầu gió: Phải có dũng khí mới đương đầu được với mọi khó khăntrắc trở.– Chân cứng đá mềm: ý nói sức lao động của con người chiến thắng mọi khó khăn– Có công mài sắt, có ngày nên kim: Khuyên nên kiên trì, nhẫn nại làm việc, nhất định sẽcó kết quả tốt đẹp.– Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo. Khuyên phải cố gắng vượt mọi khó khăn để hoànthành nhiệm vụ.-Gan vàng dạ sắt: Dũng cảm, gan dạ, không nao núng trước khó khăn nguy hiểm.– Lửa thử vàng, gian nan thử sức: Khó khăn là điều kiện thử thách và rèn luyện mới biếtcon người có nghị lực, tài năng.9– Nước chảy đá mòn: Kiên trì, nhẫn nại sẽ thành công. CHƯƠNG 3 : DẤU ẤN VĂN HÓA DÂN TỘC QUA Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG CỦATHÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VIỆT NAM. Để tìm hiểu được dấu ấn văn hóa trong thành ngữ Việt Nam, ta cần có một sự sosánh giữa thành ngữ Việt Nam và một số nước khác.1. Ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước. Do ảnh hưởng từ nền văn minh lúa nước, nên tục ngữ thành ngữ trong kho tàngvăn học nước ta cũng thể hiện rõ ràng dấu ấn của cư dân nông nghiệp, coi trọng nhữnghình ảnh thiên nhiên như gió mưa, sông, nước,…Người Việt ta có câu ” gieo gió gặtbão” để thể hiện triết lí mang tính nhân quả, những người làm việc ác sẽ nhận lại hậuquả tương ứng, hay như câu tục ngữ có ý nghĩa tương tự ” gieo nhân nào, gặt quả ấy”.Hình ảnh ảnh mang tính biểu tượng ở đây là ” Gió” và “bão”, đây là hiện tượng thời tiếtđặc thù của cư dân sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, người Philipines có câu nóitương tự ” Nếu gieo những múi tên thì bạn sẽ gặt ưu phiền”. Điều này cho thấy tuy nướcta và Philipines có điều kiện địa lý tương tự, cũng hứng chịu nghiều thiên tai bởi gió bãonhưng tư duy ngôn ngữ của hai dân tộc khác nhau dẫn tới chất liệu của ngôn ngữ cũngkhác. Người Anh diễn đạt câu này bằng những câu sau: “sow the wind and reap thewhirlwind” hay ” we reap as we sow” hay ” he. Who sows the wind, will reap thewhirlwind”. Chúng ta còn thể hiện sự khác biệt về đặc trưng văn hóa- dân tộc qua nhóm hìnhảnh về động vật và thực vật. Trong câu tục ngữ :” đục nước béo cò”, hình ảnh con cò“béo” được ăn no nê ở chỗ nước “đục” với nội dung phê phán những kẻ cơ hội. Cò làcon vật gần gũi với cư dân nông nghiệp, đặc biệt là cư dân với nền văn hóa lúa nước.Hình ảnh con cò trong ca dao còn biểu trưng cho người nông dân thấp cổ bé họng, lam10lũ, chịu khó. Đây là hình ảnh mang đặc trưng của con người Việt Nam nói chung và cưdân lúa nước nói riêng. Như đã nói, thực vật cũng là một khía cạnh, chất liệu thường gặptrong tục ngữ, thành ngữ Việt Nam. Câu tục ngữ ” ăn quả nhờ kẻ trồng cây” hay ” lárụng về cội” đều mang đặc trưng ấy. Nhiều từ ngữ liên quan đến quá trình canh tác nôngnghiệp cũng được sử dụng rộng rãi như “gieo”, “gặt” trong “gieo gió gặt bão”, hay“trồng”, trong câu trên… đều thể hiện rõ đặc trưng của cư dân nông nghiệp.2. Ảnh hưởng của lối tư duy cộng đồng .Cái nhìn của mối dân tộc về cộng đồng, cá nhân và vai trò của chúng trong việcđịnh hình tính cách, văn hóa của mỗi nơi mỗi khác. Người Việt Nam còn mang nặng tưtưởng cá nhân không thể làm nên việc lớn và đề cao sức mạnh đoàn kết của tập thể, điềunày thể hiện rõ nét truyền thống dân tộc, ta có thể lí giải Việt Nam là một nước nhỏ,luôn phải đối mặt với thù trong giặc ngoài do vậy sự đoàn kết gắn kết giữa dân tộc đượcđề cao. Về triết lí này, người Việt ta có câu: ” Một cây làm chẳng nên non”, ngườiRuanda lại có câu ” một cây không làm nên ngôi nhà”, Trái lại, Người Anh lại có câu“Một con chim nhạn không làm nên mùa hè”. Người Việt Nam dùng hình ảnh ” non” ,người Ruganda lại dùng hình ảnh ” nhà” để thể hiện sự thành công, trong khi đối vớiđảo quốc sương mù thì mùa hè mới là mùa của thành công và hi vọng.Nhưng thành ngữ của tiếng Anh lại không mấy phổ biến về sự đoàn kết cộngđồng.Vì con người Anh và các nước phương Tây coi trọng sự độc lập, tự do cá nhân , sựđộc lập của bản thân mối người mang tính hướng ngoại nên trong thành ngữ cũng khôngcó nhiều câu mang tính đoàn kết cộng đồng, tập thể như ở Việt Nam, và tính cộng đồngđoàn kết không phải là đặc trưng mang tính văn hóa như trong văn hóa Việt.3. Lối tư duy duy tâm trong quan hệ xã hội.11 So sánh với tục ngữ trong tiếng Anh thì tục ngữ thành ngữ tiếng Anh chỉ tập trungphản ánh mối quan hệ xã hội mà ít đề cập tới mối quan hệ giữa thiên nhiên và kinhnghiệm sản xuất, đó là sự biểu hiện của một dân tộc có nền công nghiệp sớm phát triển,ít phụ thuộc vào tự nhiên. Trái ngược với nước ta, từ xưa đến nay luôn dựa vào canh tácnông nghiệp,coi nông nghiệp là điều kiện kinh tế chủ đạo. Điều này thể hiện trong gốc văn hóa du mục, thành ngữ Anh thể hiện tư duy phântích trong nhận thức, duy lý trong đối xử và coi trọng sức mạnh trong xã hội của ngườiAnh (phân định rạch ròi chức năng của từng loại động vật qua cách gọi ngay trongthành ngữ,…) trong khi người Việt giữ trong mình triết lý âm dương từ trong máu thịt,coi trọng nhân quả, đây là sự ảnh hưởng to lớn từ đạo phật và đạo khổng qua hàng ngànnăm. (Ví dụ: gieo gió gặt bão, nhân nào quả ấy, kính lão đắc thọ…), sống trọng tình vàcoi trọng kinh nghiệm sự khéo léo qua những thành ngữ chỉ văn hóa nhận thức tư duycủa mình ( ví dụ tư tưởng trọng lão: sống lâu lên lão làng, kính lão đắc thọ…).Đặc điểm của cư dân nông nghiệp còn thể hiện ở tính trào lộng, dân dã trong thànhngữ tục ngữ trong Tiếng Việt,trong khi so sánh với những ngôn ngữ khác như TiếngAnh thì lại trang nghiêm, mực thước, gần với ngôn ngữ bác học.Vì khác nhau cơ bảntrong nhận thức nên cách ứng xử, cư xử với xã hội của hai dân tộc lại càng khác nhau,Việt Nam tế nhị, hiếu hòa, linh hoạt trong xưng hô, giao tiếp (ví dụ: xưng khiêm hô tôn,học ăn học nói học gói học mở,…); người Anh thẳng thắn , lịch sự (ví dụ: as stiff/straight as a ramrod, as straight as a die,…); dân Việt trọng nông nghiệp (thành ngữmiêu tả công việc làm nông áp đảo những thành ngữ có sử dụng từ trong công hay thủcông nghiệp), còn người Anh trọng công nghiệp . 12C. KẾT LUẬN Sự liên hệ, so sánh trên đã phản ánh rõ dấu ấn văn hoá in đậm trong tục ngữ củadân tộc đó. Người ta có thể tìm thấy nhiều mặt của đời sống xã hội được phản ánh trongtục ngữ. Người Đức có câu “Quốc gia nào, tục ngữ nấy” hay “Người ta có thể đánh giámột quốc gia qua phẩm tính tục ngữ của quốc gia đó”. Cái riêng này chính là dấu ấnvăn hoá – dân tộc. Điểm chung của tục ngữ là từ ngữ ít, ý nghĩa hay và hình ảnh đẹp.Thế nhưng, giữa tục ngữ các dân tộc vẫn tồn tại những nét dị biệt. Nét dị biệt thể hiện ởcách tổ chức cấu trúc hình thức và lựa chọn chất liệu để biểu đạt nội dung triết lí tươngđồng. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á có nền nông nghiệplúa nước. Với tư cách là một loại hình văn học dân gian, tục ngữ Việt là tấm gương phảnánh kết quả tư duy, in đậm dấu ấn nền văn hoá nông nghiệp lúa nước, mang nét riêng sovới văn hoá của dân tộc khác. Tóm lại, có thể thấy chất liệu biểu trưng là một trongnhững nhân tố làm nên vẻ riêng và thể hiện đặc trưng văn hoá – dân tộc của tục ngữ cácnước.13TÀI LIỆU THAM KHẢO1 Ca dao Việt Nam về tình cảm gia đình. http://vi.wikiquote.org/wiki/Ca_dao_Vi%E1%BB%87t_Nam_v%E1%BB%81_t%C3%ACnh_c%E1%BA%A3m_gia_%C4%91%C3%ACnh.2. Hoàng Văn Hành, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb Khoa Học Xã Hội, 20023. Hoành Văn Hành và nhóm biên soạn, Thành ngữ học tiếng Việt, Viện Khoa Học XãHội Việt Nam, 2004 4. Hoàng Văn Hành, Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số1, 1976 . 5. PGS. TS Phan Mậu Cảnh , Đặc trưng văn hóa, cội nguồn văn hóa và sự thể hiệnchúng trong ca dao người Việt, 6. Ts. Nguyễn Văn Nở, Dấu ấn văn hóa- dân tộc qua chất liệu biểu trưng của tục ngữngười Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 3,2009.14

Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam / 2023

Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Nội dung Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn: Chứa đựng tiếng cười trào phúng

Phân loại

Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

Chi chi chành chành Cái đanh thổi lửa Con ngựa đứt cương Ba vương ngũ đế …

Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

Trời mưa trời gió đùng đùng Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu Đem về trồng bí trồng bầu Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

Dập dìu cánh hạc chơi vơi Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô Khi đi nhớ cậu cùng cô Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

Ca dao trào phúng, bông đùa

Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho Đêm nằm thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà Đi chợ thì hay ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm Trên đầu những rác cùng rơm Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

Ca dao trữ tình. Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Tục ngữ Việt Nam

Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam / 2023

T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

Lệ Như Thích Trung Hậu

ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

Phật lịch 2545

Tân Tỵ 2001

Gs. Cao Huy Thuần.

(Paris)