Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ngày đăng: 28/02/2015, 19:59

    Ca dao , tục ngữ về truyền thống tôn sư trọng đạo I/Ca dao “Mấy ai là kẻ không thầy Thế gian thường nói đố mày làm nên” Và như chúng ta đều biết, mỗi con người – từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, luôn được chăm sóc, dạy dỗ bởi bàn tay, khối óc, tấm lòng cao cả, bao la của nhiều người theo bước đi của thời gian. Khi còn nhỏ, ta chịu ơn nuôi dưỡng “như núi Thái Sơn” của cha, chịu cái nghĩa sinh thành “như nước trong nguồn” không ngừng tuôn chảy của mẹ. Rồi khi lớn lên, cắp sách tới trường – thì chính thầy giáo là người nâng niu, uốn nắn cho ta: “Mẹ cha công sức sinh thành Ra trường thầy dạy học hành cho hay” Thầy giáo dạy học trò trên nhiều phương diện, lĩnh vực theo mỗi bước đi của thời gian và sự hình thành nhân cách của trẻ. Nhưng trước hết là dạy để chúng biết được cái chữ: “Công cha, áo mẹ, chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh” Rồi không chỉ có “chữ”, tiếp đó là thầy truyền đạt cho trò nguồn kiến thức gắn liền, phù hợp với tư duy lứa tuổi. Người học trò lớn khôn, trưởng thành hơn qua mỗi bài giảng của thầy. Đến một ngày kia, nếu có ai trong số họ thành đạt, vẫn nghĩ rằng “một chữ hay nửa chữ” là thuộc về công lao của thầy: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy) Chỉ ngần ấy thôi, cũng đủ để chúng ta hiểu: Nhân dân rất coi trọng nghề thầy giáo. Họ đúc kết lại trong những câu ca dao, tục ngữ dễ nhớ, dễ thuộc. Cũng bởi xuất phát từ chỗ nhận thức rõ vị trí của người thầy, mà dân gian đã không quên nhắc nhở học trò lòng yêu kính, biết ơn thầy. Có một câu ca dao viết rằng: “Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy” Lòng yêu kính ấy, được biểu hiện qua nét ứng xử bằng nhiều cách thức khác nhau, trong đó có phong tục lễ, tết. Nghĩa là mỗi năm, khi Tết đến xuân về, như đã trở thành đạo lý ngàn đời, mỗi người chúng ta, ngoài sống có hiếu với cha, với mẹ, còn phải sống có nghĩa đối với thầy. Trong ca dao, thường cất lên lời hứa hẹn của nhân vật trữ tình (là học trò) về sự “đền ơn đáp nghĩa” nếu ngày kia họ thành đạt: “Bao giờ anh chiếm bảng vàng Ơn thầy ta trả, nghĩa nàng nào vong” Song song với điều đó, dân gian cũng lên tiếng “cảnh báo” những kẻ “vong ơn bạc nghĩa”: “Yêu kính thầy mới được làm thầy Những phường bội bạc sau này ra chi” Phải, những kẻ quay lưng lại với người đã nâng niu, dìu dắt, dạy dỗ mình ngay từ ngày đầu tiên – những kẻ đó chắc chắn cuối cùng không thể đi đến trọn vẹn của đỉnh cao vinh quang – vì vinh quang gắn liền với danh vọng song cũng không tách rời đạo lý và lễ nghĩa. Dưới thời phong kiến, người thầy tuy giữ vị trí thứ hai theo trật tự: Quân – Sư – Phụ, nhưng được kính thờ như một: “Vua, thầy, cha, ấy ba ngôi, Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng” Địa vị, vai trò của người thầy được người đời tôn quý như thế đó! Kính thầy là một phong tục có giá trị nhân văn cao cả và sâu sắc. Hàng năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, học trò ở xa cũng thu xếp thời gian đến thăm thầy: “Mồng một tết cha, Mồng hai tết mẹ, Mồng ba tết thầy.” Từ bao đời nay, đạo thầy trò luôn luôn được giữ gìn lưu truyền: “Mười năm, rèn luyện sách đèn, Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy”. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, đạo nghĩa thầy-trò đã được luật hoá. Điều 25 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha mẹ phải răn con em về đạo thờ thầy học. Khi gặp thầy học, phải kính cẩn, có lễ phép, không được trái lệnh; nếu không sẽ khép vào tội bất kính”; điều 90 : “Học trò phải tôn kính thầy, chăm chỉ về đường học, lấy đức hạnh làm gốc, không được khinh nhờn thầy, bỏ mất lễ phép. Ai trái lệnh sẽ bị tội tám mươi trượng”. Trong lịch sử dân tộc ta, đã có biết bao thầy giáo suốt đời tận tụy với công việc “trồng người”. Đời nhà Lý, thầy Lý Công Uẩn học rộng tài cao, học trò của thầy có Lý Thường Kiệt đã trở thành vị anh hùng dân tộc kiệt xuất đời Lý. Đời nhà Trần, thầy Chu Văn An đã đào tạo biết bao nhân tài như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh. Nhiều thế hệ coi Chu Văn An là người thầy mẫu mực bậc nhất dưới thời phong kiến. Đời nhà Lê, thầy Trần Ích Phát mà học trò đã chiếm quá nửa triều đình Hồng Đức với 3 trạng nguyên, 4 bảng nhỡn, 6 thám hoa, 10 hoàng giáp và 51 đồng tiến sĩ. Đời nhà Mạc, thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dạy biết bao người thành tài, nổi bật có Phùng Khắc Khoan là bậc công thần toàn năng và kiệt xuất của triều Lê Trung Hưng. Thế kỷ 19, có thầy khiếm thị – Nguyễn Đình Chiểu – với tư tưởng “Thà đui mà giữ đạo nhà”, cùng với thầy Cao Bá Quát danh tiếng vang lừng khắp nước. Thế kỷ 20, thầy Nguyễn Thúc Tự đã dạy dỗ học trò hầu hết trở thành những chí sĩ, những nhà yêu nước như :Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Lê Văn Huân, Đặng Thúc Hứa Thầy Nguyễn Thúc Tự hồi đó cùng với thầy Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này – là những bậc danh sư đã làm rạng rỡ hơn bao giờ hết truyền thống của nhà giáo Việt Nam trong thời đại mới. Một người thầy đi từng bàn, cầm lấy tay học trò nắn nót viết chữ “S” (tượng trưng cho đất nước Việt Nam hình cong như chữ S từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau) đã gieo vào tim óc trẻ thơ: một nước Việt Nam thống nhất cả ba miền, là hình ảnh tuyệt đẹp của một người thầy. Bên cạnh những người thầy mẫu mực, trong sáng, đất nước ta đã nổi lên những người học trò lỗi lạc, sống có đạo lý, biết ơn và tôn kính hết mực thầy của mình như: Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đỗ tiến sĩ và giữ chức vụ cao, khi đến thăm vẫn cúi lạy thầy Chu Văn An “được thầy khuyên nhủ vài câu, rồi ra đi, rất lấy làm mừng”. II/Tục ngữ – Tiên học lễ, hậu học văn – Không thầy đố mày làm nên – Học thầy chẳng tầy học bạn – Thuộc sách văn hay, mau tay tốt chữ – Một kho vàng không bằng một nang chữ – Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học – Ăn vóc, học hay – Ông bảy mươi học ông bảy mốt – Dốt đến đâu, học lâu cũng biết – Người không học như ngọc không mài – Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi . Ca dao , tục ngữ về truyền thống tôn sư trọng đạo I /Ca dao “Mấy ai là kẻ không thầy Thế gian thường nói đố mày làm nên” Và như chúng ta đều biết, mỗi con người – từ khi. thức khác nhau, trong đó có phong tục l , tết. Nghĩa là mỗi năm, khi Tết đến xuân v , như đã trở thành đạo lý ngàn đời, mỗi người chúng ta, ngoài sống có hiếu với cha, với m , còn phải sống. vi sư (Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy) Chỉ ngần ấy thôi, cũng đủ để chúng ta hiểu: Nhân dân rất coi trọng nghề thầy giáo. Họ đúc kết lại trong những câu ca dao, tục ngữ dễ nh , dễ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Những Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tinh Yêu Trai Gái Trọn Nghĩa Vẹn Tình.
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Yêu Chung Thủy Trong Dân Gian
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Yêu Hay Nhất
  • Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Trong Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Việt Nam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Stt Đểu Về Con Gái Độc Và Hay Nhất Trên Facebook
  • Stt Tâm Trạng Tại Sao Cứ Phải Cố Gắng Gượng Cười Và Giả Vờ Mạnh Mẽ Hả Cô Gái ?
  • Những Câu Nói Hay Cảm Động Nhất Về Hạnh Phúc Gia Đình
  • 27 Câu Nói Giúp Bạn Đánh Bật Sự Chần Chừ Và Làm Việc Hiệu Quả Hơn
  • Đôi Dòng Stt Bày Tỏ Cảm Xúc Khi Người Yêu Cũ Có Người Yêu Mới
  • Sau cùng là Tài liệu tham khảo.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

    CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.

    1.1 Định nghĩa về văn hóa của UNESCO

    Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và cảm xúc,

    quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

    Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương , những lối sống, những quyền cơ

    bản của con người và hệ thống những giá trị những phong tục, tín ngưỡng. Văn hóa đem

    3

    lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hóa giúp cho chúng ta trở

    thành sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lý tính có phê phán và dấn thân một cách có đạo

    lý.Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là

    một phương án chưa hoàn thành, đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không

    mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình mới mẻ, vượt trội bản

    thân.

    1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,

    phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và

    ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn

    hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và

    là công cụ tư duy của con người.

    1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

    Người ta đã nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ

    ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền và trong tương lai, nền văn hóa cũng nhờ vào

    ngôn ngữ để phát triển. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với

    biến đổi và phát triển văn hóa. Vậy muốn nghiên cứu sâu về văn hóa phải nghiên cứu

    ngôn ngữ, và tất nhiên muốn đi sâu vào ngôn ngữ phải chú tâm đến văn hóa.

    1.4 Khái niệm về thành ngữ, tục ngữ.

    -Thành ngữ là một cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, nghĩa của

    chúng có tính hình tượng, gợi cảm.

    – Tục ngữ là những câu nói được đúc kết từ kinh nghiệm, luân lí, là những câu nói

    hoàn chỉnh, tục ngữ được coi như một tác phẩm văn học trọn vẹn bởi nó luôn mang ba

    chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ.

    4

    CHƯƠNG 2 . TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CA DAO,

    TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ.

    1. Truyền thống nhân hậu, đoàn kết.

    Có thể nói nhân hậu, đoàn kết là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc

    ta. Khó có một dân tộc nào trên thế giới có ý thức dân tộc mạnh mẽ cùng truyền thống

    đoàn kết như dân tộc ta.Trải qua 4000 năm lịch sử, dân tộc ta từ khi dựng nước đã phải

    giữ nước do đó ý thức dân tộc luôn được đặt lên trên hết, điều này được thể hiện rõ nét

    trong văn hóa nước ta, mà biểu hiện của nó được thể hiện một cách rõ nét trong kho tang

    thành ngữ tục ngữ.

    Thành ngữ tục ngữ ca dao về tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được thể

    hiện một cách rõ nét qua những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao như:

    – Lá lành đùm lá rách : người có lòng giúp người khác trong cơn khó khăn. Hoạn nạn

    – Chết cả đống còn hơn sống một mình : tinh thần đoàn kết, sống chết có nhau.

    – Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ : tinh thần đoàn kết, đòng cam cộng khổ.

    – Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết : đề cao sức mạnh đoàn kết trong tập thể.

    – Đồng tâm hiệp lực ( đồng sức đồng lòng): cùng một lòng, cùng hợp sức để đạt mục

    tiêu chung

    – Thương người như thể thương thân: tinh thần nhân đạo cao cả, coi trọng giá trị

    con người.

    – Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    – Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    – Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước thì thương nhau cùng.

    Chúng ta có lẽ không xa lạ gì với những câu tục ngữ, thành ngữ trên, ông cha ta

    đã sử dụng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ để thể hiện thông điệp của mình. Đây được

    xem như những lời răn dạy, những bài học mà ông cha ta đã đúc kết từ ngàn đời. Những

    “bầu”, những “bí” hay “lá lành”, “lá rách” đều mang ý nghĩa biểu tượng cho con người

    5

    Việt Nam, những đồng bào cùng chung sống trong mái nhà chung. Đất nước Việt Nam

    là một đất nước nhỏ, dân tộc Việt Nam là tổng hòa mối quan hệ của 54 dân tộc anh

    em .Nếu không có sự đoàn kết, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau thì dân tộc này,

    đất nước này làm sao có thể có được hòa bình êm ấm, tự do tự chủ.

    Thành ngữ, tục ngữ còn nói lên bài học về lòng nhân hậu vị tha.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Hiền như Bụt: Khen người nào rất hiền lành.

    – Lành như đất: Khen người nào rất hiền lành.

    – Ở hiền gặp lành: Ăn ở tốt với người khác thì lại có người đối xử tốt với mình.

    Khuyên sống hiền lành, nhân hậu thì sẽ gặp điều tốt đẹp may mắn.

    – Uống nước nhớ nguồn: Biết ơn người đã đem lại những điều tốt đẹp cho mình, sống

    có nghĩa có tình, thủy chung.

    – Gan vàng dạ sắt: Khen người chung thủy, không thay lòng đổi dạ.

    – Có trước có sau: ( Có thủy có chung): Khen người trước sao sau vậy, giữ vẹn tình

    nghĩa với người cũ.

    – Một miếng khi đói bằng một gói khi no: Khi người ta cần mà mình giúp thì việc ấy

    có giá trị hơn rất nhiều những gì khi mình cho mà mình cho người ta không cần.

    – Muôn người như một: Mọi người đều đồng ý như nhau, đoàn kết một lòng.

    – Nhường cơm sẻ áo: Nói lên tình cảm thân thiết giữa con người với nhau. Gúp đỡ, san

    sẻ cho nhau lúc gặp khó khăn hoạn nạn.

    Bên cạnh những thành ngữ mang ý nghĩa tốt cũng có không ít thành ngữ phê phán

    những thói xấu của một số người trong xã hội như :

    6

    – Con sâu bỏ rầu nồi canh: Một người làm bậy ảnh hưởng xấu đến cả tập thể.

    – Trâu buộc ghét trâu ăn: Nói những kẻ ghen ghét gièm pha người có quyền lợi hơn

    mình.

    2. Truyền thống trung thực , tự trọng.

    – Cây ngay không sợ chết đứng: Người ngay thẳng chẳng sợ sự gièm pha, bày đặt để

    nói xấu hay chèn ép của kẻ ghen ghét.

    – Chết trong còn hơn sống đục: phương châm cao thượng của người biết tự trọng.

    – Chết vinh còn hơn sống nhục: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Chết đứng còn hơn sống quỳ: đồng nghĩa với chết trong còn hơn sống đục.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm: Dù đói khổ vẫn phải sống trong sạch, lương thiện.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề: Dù nghèo đói, khó khăn vẫn phải giữ nền nếp.

    – Thẳng như ruột ngựa: Có lòng dạ ngay thẳng.

    – Tốt danh hơn lành áo: Danh dự thanh danh còn hơn cái vỏ bề ngoài.

    – Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Chê người vì một mối lợi nhỏ mà phẩm chất sa

    sút.

    – Đục nước béo cò: phê phán kẻ cơ hội.

    3. Truyền thống biết ơn ,uống nước nhớ nguồn.

    Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn.

    Truyền thống ấy được thể hiện qua việc biết ơn, kính trọng đấng sinh thành, tôn trọng

    7

    người có lòng giúp đỡ, dìu dắt, dạy bảo ta nên người. Truyền thống ấy được cha mẹ, ông

    bà răn dạy ngay từ thuở còn trong nôi, theo thời gian, truyền thống ấy được bồi đắp, giữ

    gìn rồi trở thành quan niệm sống, lối suy nghĩ, trở thành văn hóa của cả một dân tộc. Từ

    xưa đến nay, tryền thống uống nước nhớ nguồn luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt

    Nam, được hun đúc qua nhiều đời, nhiều thế hệ và vẫn luôn vẹn nguyên giá trị cho tới

    ngày nay.

    Tục ngữ, thành ngữ về biết ơn gia đình, tổ tiên và những người có lòng giúp đỡ mình:

    – Ăn quả nhớ người trồng cây: nhớ ơn tổ tiên, ông bà.

    – Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy: nhớ ơn ông bà cha mẹ và người thầy.

    – Uống nước nhớ nguồn: luôn ghi nhớ công ơn, tổ tiên, gốc rễ.

    – Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

    – Chim có tổ, người có tông:

    – Lá rụng về cội.

    – Ơn trả nghĩa đền : phải biết ơn, ghi nhớ công ơn, đền đáp những người đã giúp đỡ

    mình.

    – Ơn sâu nghĩa nặng : ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình

    – Tiên học lễ, hậu học văn : trước hết phải biết đạo lí, học cách đối nhân xử thế rồi

    sau đó mới học kiến thức.

    – Kính lão, đắc thọ : Tôn trọng, yêu quý người già thì được sống lâu.

    – Kính già, già để tuổi cho.

    – Tối lửa tắt đèn : mối quan hệ thân thuộc giữa hàng xóm, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.

    Ca dao tục ngữ thể hiện lòng kính trọng người thầy.

    – Không thầy đố mày làm nên.

    – Tôn sư trọng đạo: kính trọng thầy và coi trọng những kiến thức, cái đạo của thầy

    truyền lại, theo nho giáo.

    – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư : một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

    – Một chữ nên thầy: đồng nghĩa với nhất tự vi sư bán tự vi sư.

    – Trọng thầy mới được làm thầy: phải kính trọng thầy thì mới có thể nhận được sự

    8

    kính trọng từ người khác.

    – Tầm sư học đạo: tìm thầy, tìm người giỏi để theo học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 101+ Hình Ảnh Kèm Câu Nói Hay Về Đứa Bạn Thân Sâu Sắc & Ý Nghĩa
  • 30 Lời Chúc Ngủ Ngon Cho Bạn Gái Lãng Mạn Nhất
  • Chùm Stt Thất Vọng Về Đàn Ông, Buồn Não Nề Hay, Sâu Sắc Nhất
  • Tổng Hợp Những Stt Đểu Và Chất Về Tình Yêu
  • 60 Lời Chúc Ngày Của Mẹ Hay, Ý Nghĩa Nhất
  • Chữ Hiếu Trong Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Thơ Thư Pháp Hay Về Cha Mẹ
  • Những Câu Thư Pháp Nói Về Cha Mẹ
  • Dịch Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Sang Tiếng Anh
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lí Qua Thơ , Ca Dao – Tục Ngữ
  • Bài Tập 1 66 Với Ca Dao Người Bình …
  • Công Cha như núi Thái Sơn,

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Tinh thần hiếu đễ của người Á Đông nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng đã thấm sâu vào xương tủy của mọi người, và phát khởi ra sự sinh hoạt bên ngoài tạo nên những nét đẹp cao quý, thành ca dao, tục ngữ, thành đặc tính tinh thần Đông Phương. Có lẽ chỉ có người Á Đông mới có tục lệ chúc thọ cho ông bà, cha mẹ và cũng có lẽ chỉ có người Á Đông mới yêu chuộng tinh thần “đại gia đình” – Ông bà, cha mẹ, con cháu, chắt, chút chít… sống quây quần đầm ấm trên cùng một mảnh đất gia tiên, bao bọc bởi lũy tre xanh, hàng dậu bông bụt – Và vì thế nên tình thân được nẩy nở, đơm hoa kết trái để luôn luôn gần gũi, thương yêu và đùm bọc với nhau.

    Có hình ảnh nào đẹp hơn cảnh gia đình xum họp trong những buổi chiều nhàn nhã, gió hiu hiu nhẹ thổi vừa đủ để bà nằm võng đu đưa, tay ôm đứa cháu nhỏ nhè nhẹ hát ru cháu dưới bóng mát của hàng cây sau vườn; ông ngồi kể truyện cổ tích với đàn cháu vây quanh vừa lắng tai theo dõi vừa nhổ tóc sâu, thỉnh thoảng lại chen vào những câu hỏi thơ ngây làm câu chuyện thêm rộn ràng giữa hương thơm của hoa cau, hoa bưởi ngạt ngào trong không gian miền thôn dã. Hoặc những buổi tối: “… Cha tôi ngồi xem báo, me tôi ngồi đan áo, bên cây đèn dầu hao…”

    Tinh thần chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam được diễn đạt qua những câu thơ sau đây của Trần Kế Xương càng làm nổi bật những đức tính hy sinh của người mẹ, người vợ:

    – Quanh năm buôn bán ở ven sông.

    Nuôi đủ năm con với một chồng…

    Mẹ đã tảo tần thức khuya, dậy sớm lo việc tang tầm, thu vén nhà cửa, không những lo cho con mà còn phải lo cho người chồng thư sinh chỉ biết việc bút nghiên:

    – Canh một dọn cửa dọn nhà,

    Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,

    Canh tư bước sang canh năm,

    Trình anh dậy học chớ nằm làm chi.

    Lỡ mai Chúa mở khoa thi,

    Bảng vàng kia cũng sẽ đề tên anh.

    Hay là:

    – … Nửa đêm về sáng gánh gồng nuôi con…

    – Nuôi con buôn bán tảo tần,

    Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

    Những khi trái nắng trở trời,

    Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

    Trọn đời vất vả triền miên,

    Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con.

    Tấm lòng của mẹ thật bao la, mênh mông như trời bể, mặc thân gầy yếu, hao mòn chỉ mong cho con được khôn lớn, mẹ đã vắt cạn dòng sữa thơm cho con được no đủ:

    – Bồng con cho bú một hồi,

    Mẹ đã hết sữa con vòi, con la.

    Lại còn những khi con đau ốm, mẹ nào được an giấc:

    – Con ho lòng mẹ tan tành,

    Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

    Mẹ đã đem hết sức mình để bảo bọc, che chở cho con được an lành, bình yên:

    – Nuôi con chẳng quản chi thân,

    Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    Tấm lòng mẹ trải rộng bao la, không nghĩ gì đến sức khỏe bản thân chỉ nhất mực lo cho con, dù suốt đêm không chợp mắt:

    – Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

    Năm canh chày thức đủ vừa năm.

    Nào đã hết, ngoài việc chăm nuôi, cho con bú mớm, mẹ phải thay cha nuôi dạy con cái:

    – … Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân…

    Mẹ còn phải năng động hơn, xông xáo hơn để giáo dục, truyền đạt cho con những kinh nghiệm cá nhân mong con khôn ngoan, thành đạt trong xã hội:

    – Ví dầu cầu ván đóng đinh,

    Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

    Khó đi, mẹ dắt con đi,

    Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

    Vì thế người mẹ được ví: “Mẹ già bằng ba hàng dậu”. Hạnh phúc thay cho những ai còn có mẹ để chia xẻ niềm vui, nỗi buồn, để được mẹ lo lắng chăm sóc như ngày còn thơ, để được hầu hạ gần gũi với mẹ. Có mẹ để thấy mình vẫn trẻ thơ như ngày nào:

    – Có cha có mẹ thì hơn,

    Không cha không mẹ như đờn đứt giây.

    Đờn đứt giây còn tay nối lại,

    Cha mẹ mất rồi con phải mồ côi.

    Nào đã hết, mẹ vẫn lo toan vất vả trong phận dâu con, có sức chịu đựng nào bằng bổn phận người con dâu đè nặng trên hai vai của mẹ, dẫu chồng có lơ là, lạnh nhạt, nhưng vẫn không thất xuất trách nhiệm cá nhân, qua những câu ca dao sau đây:

    – Gió đưa bụi chuối sau hè,

    Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

    Con thơ tay ẵm tay bồng,

    Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng rơm.

    Chữ hiếu không những chỉ thể hiện trong bổn phận người con, mà còn ràng buộc cả người con dâu nữa. Cụ bà Phan Bội Châu đã thay cụ ông hầu hạ, thuốc thang cho thân sinh cụ ông nay đau, mai ốm trong cảnh gia đình túng thiếu với các con thơ dại trong suốt thời gian cụ ông lo việc nước. Gương hy sinh, tiết liệt của người phụ nữ Việt Nam điển hình qua tinh thần trách nhiệm của cụ bà Phan Bội Châu làm rạng rỡ giá trị thiêng liêng tình nghĩa gia đình.

    Người xưa ra đi lo việc nước đã nhắn nhủ vợ nhà:

    – Anh đi, em ở lại nhà,

    Vườn dâu em bón mẹ già em trông.

    – Con cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non,

    – Nàng về nuôi cái cùng con,

    Để anh trẩy hội nước non Cao Bằng.

    Bằng tâm tình của người chồng phải vắng nhà buôn bán phương xa, đã ân cần nhờ cậy vợ lo toan mọi việc và chăm sóc mẹ già sao cho tròn câu hiếu kính:

    – Nhà anh chỉ có một gian,

    Nửa thời làm bếp, nửa toan làm buồng.

    Anh cậy em coi sóc trăm đường,

    Để anh buôn bán trẩy trương thông hành.

    Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh,

    Để anh buôn bán thông hành đường xa.

    Liệu mà thờ kính mẹ già,

    Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười.

    Vai trò của người mẹ quan trọng biết là chừng nào:

    – Mồ côi cha ăn cơm với cá,

    Mồ côi mẹ, lót lá mà nằm.

    – Gió đưa bụi trúc ngã quì,

    Vì cha con phải lụy dì, dì ơi!

    Phải chăng vì thế con cái thường có khuynh hướng thương yêu và thân cận với mẹ hơn? Nói như thế không có nghĩa là vai trò của người cha không quan trọng:

    – Con có cha như nhà có nóc,

    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

    – Còn cha gót đỏ như son,

    Đến khi cha mất, gót con đen sì.

    Còn cha nhiều kẻ yêu vì,

    Một mai cha thác ai thì nuôi con?

    Sự chăm sóc của cha có thể không chăm chút tỉ mỉ bằng mẹ, nhưng hoàn cảnh bắt buộc cha cũng vẫn lo cho con được no dạ:

    – Nghiêng bình mở hộp nút ra,

    Con ơi, con bú cho cha yên lòng.

    Cha tuy già nhưng không quản ngại, cũng vẫn phải lo sinh kế trong vai trò cột trụ của gia đình, vì thế hình ảnh người cha cũng rất đậm nét trong tâm khảm của mọi người trong nhà:

    – Cha tôi tuy đã già rồi,

    Nhưng còn làm lụng để nuôi cả nhà.

    Sớm hôm vừa gáy tiếng gà,

    Cha tôi đã dậy để ra đi làm.

    Vắng bóng người cha làm cho gia đình trống vắng, quạnh hiu:

    – Vắng đàn ông quạnh nhà.

    Hơn thế nữa, trong vai trò giáo huấn đàn con, người cha bao giờ cũng coi trọng và nghiêm minh hơn, do đó ảnh hưởng giáo dục người cha thường tốt đẹp và tác dụng nhiều hơn mẹ:

    – Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Hoặc:

    – Mẹ đánh một trăm, không bằng cha hăm một tiếng.

    – Mẹ dạy thời con khéo,

    Cha dạy thời con khôn.

    Dẫu thương yêu, gần gũi với mẹ nhiều hơn con cũng không quên được công ơn dưỡng dục của cha, bao giờ cũng hằn sâu trong tâm trí:

    – Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,

    Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ,

    Đạo làm con chớ hững hờ,

    Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.

    Biết bao nhiêu áng văn thơ, ca dao, tục ngữ tán thán công đức Cha và Mẹ, cái hạnh phúc có được cha mẹ vẹn toàn để nhất tâm hiếu kính đã làm cho bao nhiêu người con thiếu vắng cha mẹ phải ước ao ngậm ngùi:

    – Ân cha nặng lắm ai ơi!

    Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.

    – Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,

    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

    Nhớ ơn chín chữ cù lao,

    Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình?

    – Ngày nào em bé cỏn con,

    Bây giờ em đã lớn khôn thế này.

    Cơm cha, áo mẹ, công thầy,

    Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.

    – Làm trai đủ nết trăm đường,

    Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.

    Công cha đức mẹ cao dày,

    Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.

    Nuôi con khó nhọc đến giờ,

    Trưởng thành con phải biết thờ song thân.

    Thức khuya dậy sớm cho cần,

    Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

    “Xảy nhà ra thất nghiệp”, mẹ cha có biết lòng con thương nhớ khôn nguôn, tâm hiếu kính mang mang, luôn tưởng nhớ đến công ơn sinh dưỡng của đấng sinh thành:

    – Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

    Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.

    – Ngó lần nuột lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuột lạt, em thương mẹ già bấy nhiêu.

    – Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    – Gió đưa cây cửu lý hương,

    Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.

    Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,

    Đã bưng lấy bát, lại dằn xuống mâm.

    Phải xa nhà lòng đau như cắt, biết có ai sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, để con khắc khoải nhớ thương:

    – Lòng riêng nhớ mẹ, thương cha,

    Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu?

    Trong vòng binh lửa dãi dầu,

    Bơ vơ lưu lạc, bạn bầu cùng ai?

    – Ra đi bỏ mẹ ở nhà,

    Gối nghiêng ai sửa, mẹ già ai nâng?

    – Một mai cha mẹ yếu già,

    Bát cơm đôi đũa, kỷ trà ai dâng?

    – Đêm đêm khấn nguyện Phật Trời,

    Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

    Cha mẹ có hay lòng con như muối xát, chỉ mong sao cha mẹ được đầy đủ, mong được sáng thăm tối viếng, mong dâng đến cha mẹ miếng ngon vật lạ tỏ lòng hiếu kính phụng thờ mẹ cha:

    – Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

    Giã gạo cho trắng đặng nuôi mẹ già.

    Đói lòng ăn hột chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    – Đây bát cơm đầy nặng ước mong,

    Mẹ ơi, đây ngọc (1) với đây lòng,

    Đây tình con nặng trong tha thiết,

    Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong.

    (1) Hạt gạo là hạt ngọc.

    – Lên chùa thấy Phật muốn tu,

    Về nhà thấy mẹ công phu sao đành?

    Mẹ già ở túp lều tranh,

    Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

    – Cau non khéo bửa cũng dày,

    Trầu têm cánh phượng để thầy mẹ xơi.

    – Ai về tôi gởi buồng cau,

    Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

    Ai về tôi gửi đôi giầy,

    Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

    Cha mẹ nuôi con ơn sâu nghĩa nặng, dẫu nhọc nhằn vất vả con cũng chẳng ưu tư:

    – Dấn mình gánh nước làm thuê,

    Miễn nuôi được mẹ, quản gì là thân .

    Làm con ăn ở sao cho phải đạo, mình biết hiếu kính mẹ cha đó là tấm gương tốt cho con cái noi theo “sóng trước làm sao, sóng sau như vậy”, có hết lòng thờ phụng mẹ cha mới mong sanh con hiếu nghĩa:

    – Nếu mình hiếu với mẹ cha,

    Chắc con cũng hiếu với ta khác gì.

    Nếu mình ăn ở vô nghì,

    Đừng mong con hiếu làm gì uổng công.

    Hoặc:

    – Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,

    Ngỗ nghịch nào con có khác chi!

    Xem thử trước thềm mưa xối nước,

    Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì!

    – Người xưa khó nhọc nuôi mình,

    Khác gì mình đã hết tình nuôi con.

    Suốt một đời sống trong tình thương của cha mẹ, biết bao công khó cho con được nên người, bao lo lắng hy sinh, nhọc nhằn mong con được đầy đủ không thua bạn, kém bè. Nay cha mẹ không còn, đau đớn biết dường nào, dù nuối tiếc bao nhiêu cũng không làm sao được. Bạn hỡi! Ngay bây giờ hãy làm bất cứ điều gì có thể làm được cho cha mẹ để sau này có muốn cũng không thể nào thực hiện được:

    … Độ nhỏ tôi không tin,

    Người thân yêu sẽ mất.

    Hôm ấy tôi sững sờ,

    Và nghi ngờ trời đất.

    Từ nay tôi hết thấy,

    Trên trán mẹ hôn con.

    Những khi con phải đòn,

    Đau lòng mẹ la lẫy.

    Kìa nhờ ai sung sướng,

    Mẹ con vỗ về nhau.

    Tìm mẹ, con không thấy,

    Khi buồn biết trốn đâu?…

    Hiếu đễ không phải là những lời đãi bôi, những xót xa không thật từ cửa miệng, những ao ước bâng quơ không bao giờ thực hiện, mà chữ Hiếu phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, bằng những chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng xuất phát tự đáy tâm hồn với lòng thương quý chân thật.

    Mùa Vu Lan là mùa báo Hiếu, mùa cho các người con tưởng nhớ đến công đức sinh thành của cha mẹ, mong muốn làm điều gì tốt đẹp hơn để đền đáp xứng đáng công ơn dưỡng dục của mẹ cha. Nhớ ơn và báo Hiếu luôn luôn là những suy tư triền miên, sâu đậm trong thâm tâm mọi người con Việt.

    – Phụng dưỡng Cha và Mẹ,

    Là công đức tối thượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Đạo Đức Hay Và Ý Nghĩa
  • 100 Câu Thành Ngữ Tiếng Nghệ
  • Những Danh Ngôn Xin Lỗi Ý Nghĩa
  • Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Tục Ngữ, Ca Dao
  • Sự Giao Thoa Giữa Văn Hóa Xứ Đoài Và Văn Hóa Thăng Long
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu

    --- Bài mới hơn ---

  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Tổng hợp những câu ca dao tục ngữ về hạnh phúc, bất hạnh, hiếu thảo, có hiếu.

    Có những câu ca dao tục ngữ nào về hạnh phúc, bất hạnh, hiếu thảo, có hiếu nhỉ?

    Con chú con bác

    Có khác gì nhau

    Câu này muốn nói rằng con chú, con bác cũng chung một gia tộc, một dòng máu, do vậy mà phải biết yêu thương, hòa thuận với nhau.

    2.

    Đây là câu tục ngữ thể hiện sự hiếu thảo của người con đối với người cha, so sánh hình ảnh con gà với người con để tô đậm hơn ý nghĩa của câu nói.

    3.

    Con hơn cha, là nhà có phúc.

    Câu tục ngữ rất ngắn gọn nhưng nội dung ý nghĩa thật phong phú. Con và cha ở đây ngoài việc nêu mối quan hệ máu thịt trong gia đình, còn có ý nghĩa tượng trưng cho thế hệ trước và thế hệ kế cận trong xã hội.

    4.

    Con khôn, nở mặt mẹ cha.

    Câu này muốn nói đến sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ khi trưởng thành làm cho cha mẹ vui mừng.

    5.

    Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ.

    Mặc dù ít nghe ai nói câu này nhưng nghĩa thì rõ ràng quá rồi: con cái thông minh lanh lợi, học hanh tốt cha mẹ nở mặt nở mày đi đâu cũng tự hào là co đứa con giỏi.

    6.

    Con chê cha mẹ khó

    Chó không chê chủ nhà nghèo

    Câu này có ý chê con người đôi lúc bội bạc hơn con vật. Cha mẹ nghèo khó quá , con đôi lúc cũng chê : tại sao mình sinh vào nhà nghèo như thế này , sao chạ mẹ mình nghèo vậy , phải gì cha mẹ mình giàu nhỉ ! Nhưng con chó trung thành với chủ dù chủ nó nghèo nhưng không bao giờ bỏ chủ nó chạy qua nhà kế bên giàu có hơn để ăn cơm với thịt

    7.

    Con một mẹ như hoa một chùm

    Yêu nhau nên phải bọc đùm lấy nhau

    Câu ca dao thể hiện sự hiếu thảo của con đối với mẹ, tình mẹ là vô bờ bến không gì có thể so sánh được.

    8.

    Con nay tóc bạc da mồi

    Nhớ thương cha mẹ trọn đời không nguôi

    9.

    Công cha nặng lắm ai ơi

    Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau!

    Câu ca dao thể hiện công lao của bậc làm cha mẹ, nuôi dưỡng con cái từ thuở còn non không gì có thể so sánh được với tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái.

    10.

    Dạt dào gió kép mưa đơn

    Tấc lòng ghi nhớ công ơn mẫu từ

    11.

    Dạy con, con nhớ lấy lời,

    Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên.

    Hai câu ca dao thể hiện rõ nét sự hiếu thảo của con cái đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ.

    12.

    13.

    14.

    Cha mẹ là biển là trời,

    Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha

    15.

    Chí tâm niệm Phật đêm ngày

    Cầu cho cha mẹ sống tày non cao

    16.

    Đây là câu ca dao khẳng định công lao to lớn của cha mẹ, sinh thành nuôi nấng ta biết bao nhiêu năm. Do vậy khi lớn khôn trưởng thành thì phải biết báo hiếu cho cha mẹ.

    17.

    Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

    18.

    Đường đi năm bảy bữa, xe lửa chạy cũng gần

    19.

    Muốn ăn cá trắng chấm với rau tần

    Muốn rời chốn cũ cho gần mẹ cha.

    20.

    21.

    Đường xa chi ngại Trường Sơn

    Ngại chăng là ngại lòng con quên về

    22.

    Đạo mẹ cha mất là khó kiếm,

    Đạo vợ chồng chẳng hiếm chỉ nơi.

    23.

    Đa đa đậu nhánh cây đa

    Chồng gần không lấy em lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Bát cơm ai đỡ, chén trà ai dâng?

    24.

    Đêm rằm tháng bảy Vu Lan

    Phận con báo hiếu muôn ngàn ghi ân

    25.

    26.

    Đói lòng ăn đọt chà là,

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    27.

    Đói lòng ăn trái ổi non,

    Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa.

    28.

    29.

    Hạnh phúc dễ tìm nhưng khó giữ.

    Câu tục ngữ muốn nói để tìm được hạnh phúc thì rất dễ nhưng để giữ được hạnh phúc thì đó là cả một vấn đề.

    30.

    Có vợ có chồng như đũa có đôi.

    Câu tục ngữ xưa đã lấy đôi đũa làm hình tượng nói về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Đôi trai gái nào “chẳng may” lại “chồng thấp, vợ cao” thì đôi đũa cũng được đem ra so sánh “như đôi đũa lệch so sao cho bằng”.

    31.

    Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xương.

    32.

    Đàn ông quện nhà, đàn bà quện bếp.

    33.

    Đạo vợ nghĩa chồng.

    34.

    Chồng giận thì vợ bớt lời,

    Cơm sôi bớt lửa bao đời nào khê.

    35.

    Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: thưa anh giận gì ?

    36.

    Chồng giận thì vợ bớt lời

    Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.

    37.

    Chồng làm thì vợ có công

    Của chồng công vợ đừng mong của mình.

    38.

    Có phúc lấy được vợ già

    Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.

    39.

    Em về anh mượn khăn tay

    Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên.

    40.

    41.

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    42.

    Thuận vợ thuận chồng

    Tát biển đông cũng cạn

    43.

    44.

    Cha truyền con nối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 ❤️️ Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất
  • Tổng Hợp Thơ, Danhh Ngôn, Tục Ngữ Hài Hước Vô Đối
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Nhan loại loài người trải qua rất nhiều các thời kỳ khác nhau với mỗi thời kỳ đều có những nét văn hóa và thành tựu trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Và thế hệ sau phải kế thừa những thành quả đó và tiếp tục phát huy nó phát triển và tiền bộ nhiều hơn nữa. Đặc biệt ở nước ta là 1 nước đang phát triển thì sự kế thừa đó rất cần thiết. Nhưng kế thừa cũng phải có chọn lọc và phù hợp với xu hướng của xã hội. Vì nhiều cái không còn phù hợp với xã hội hiện tại mà chúng ta vẫn áp dụng vào thực tế thì nó không mang lại hiệu quả cao thậm chí còn có những tác động ngược lại. Những câu ca dao tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ý nghĩa nhất

    Dân tộc ta từ bao nay có truyền thống yêu nước, chăm chỉ, siêng năng cần cù, kiên trung, yêu thương và giúp đỡ mọi người,…. Bởi những đức tính ấy mà chúng ta sống trong cuộc sống độc lập tự do, cuộc sống hòa bình và yêu thương nhau. Cuộc sống của chúng ta ngày càng hiện đại, sáng tạo và đi vào quá trinh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng hoàn thiện. những truyền thống tốt đẹp ấy đã được cha ông truyền lại bao đời nay cho chúng ta và chúng ta phải kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp ấy của dân tộc mà ông cha ta để lại.

    Dân tộc Việt Nam có rất nhiều nét văn hóa truyền thống rất hay và tót đẹp cần được duy trì và phát triển

    Những câu ca dao tục ngữ về kế thường và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc thể hiện mọi truyền thống tốt đẹp của dân tộc. những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta như truyền thống yêu nước, chăm chỉ, siêng năng cần cù, kiên trung, yêu thương và giúp đỡ mọi người,…. Chúng ta cần tiếp thu, kế thường để phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc để hiểu rõ hơn về truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Những câu tục ngữ về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

    Câu 1:

    Ông bà ta từ xưa đã có truyền thống thờ cũng tổ tiên, ông bà để thể hiện tình yêu thương ông bà, tưởng nhớ tổ tiên và nhớ về cội nguồn. Câu tục ngữ trên thể hiện tinh thần kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Truyền thống yêu thương, nhớ ơn ông bà được thể hiện qua câu tục ngữ trên.

    Câu 2:

    Một trong những truyền thống tốt đẹp mà ông bà ta để lại là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung kiên, dũng cảm, cần cù, siêng năng,… Câu tục ngữ trên thể hiện truyền thống tốt đẹp của ông bà ta là phẩm chất lòng tự trong. Câu tục ngữ có ý nghĩa rằng dù cuộc sống có khó khăn gian khổ, thiếu thốn về vật chất thì con người không đánh mất lòng tự trọng hay danh dự của mình.

    Câu 3:

      Cây có cội, nước có nguồn.

    Truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay là truyền thống thờ cúng và nhớ về công ơn ông bà ta. Câu tục ngữ đã thể hiện rõ truyền thống tốt đẹp ấy và nhân dân ta đã kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp ấy đã được phát huy.

    • Chim có tổ, người có tông.
    • Một người làm nên cả họ được nhờ- Một người làm bậy cả họ xấu lây.
    • Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
    • Khôn từ trong trứng khôn ra.
    • Bà con vì tổ vì tiên, không phải vì tiền vì gạo.Con hơn cha là nhà có phúc
    • Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
    • Anh em như thể tay chân
    • Lành thì huynh đệ rách thì chém nhau
    • Ăn vóc học hay
    • Nhất tự vi sư bán tự vi sư
    • Tiên học lễ hậu học văn
    • Nói gần nói xa chẳng qua nói thật

    Những câu ca dao tục ngữ về về kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc:

    Câu 1:

    • Con người có cố có ông
    • Như cây có cội như sông có nguồn.

    Truyền thống tốt đẹp của ông bà ta xưa để lại là nhớ ơn tổ tiên, yêu thương cha mẹ. truyền thống tốt đẹp này đã được chúng ta ngày nay kế thừa và phát huy một cách hiệu quả. Sự kế thừa và phát huy này thể hiện tinh thần nhớ ơn tổ tiên, yêu thương ông bà và cha mẹ.

    Câu 2:

    • Đói lòng ăn đọt chà là,
    • Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

    Tình cảm yêu thương đối với ông bà cha mẹ, tình yêu thương ấy được ông bà ta dạy qua bao thế hệ. yêu thương ông bà cha mẹ để thể hiện lòng hiếu thảo, lòng yêu thương đối với ông bà. Chúng ta hãy tiếp thu và phát huy truyền thống này của dân tộc.

      Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

    Năm cánh chầy thức đủ năm canh.

      Đĩa nghiêng đựng nước sao đầy

    Lòng thương người nghĩa, cha mẹ rầy cũng thương.

      Nhìn lên nuột lạt mái nhà

    Nhà bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu

      Khôn ngoan đối (đá) đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chới hoài đá nhau.

      Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Thương cha nhớ me quá chừng bạn ơi

    Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần

    Sớm thăm tối viến mới đành dạ con

    Bao nhiêu nuột lạc nhớ ông bà bấy nhiêu

      Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu

      Qua đình ngã nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu

      Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

    Gắng công ăn học có ngày thành danh

      Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

      Ăn trông nồi ngồi trông hướng

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Con sãi ở chùa thì quét lá đa

    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư

      Cười người chớ vội cười lâu

    Cười người hôm trước hôm sau người cười

    Chữ tài liền với chữ tai một vần

    Tay không làm nổi cơ đồ mới ngoan

      Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

    Chín phương chìa một phương

    Rau răm ở lại chịu đời đắng cay

      Hoa thơm ai chẳng muốn đeo

    Người khôn ai nỡ cứ theo nặng lời

      Hoa thơm ai chẳng nâng niu

    Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề

    Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha

      Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

      Mười năm lưu lạc giang hồ

    Một ngày tu tỉnh, cơ đồ lại nên

      Mấy đời bánh đúc có xương

    Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng

      Mình về mình nhớ ta chăng

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

    Trăm năm biết có duyên gì hay không

      Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

      Muốn sang thi bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

      Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín kẻ cười người chê

    Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

    Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng

    Ở rộng người cười, ở hẹp người chê

      Phượng hoàng ở chốn cheo leo

    Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà

      Bao giờ gió thuận mưa hòa

    Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng

      Phù thủy, thầy bói, lái trâu

    nghe ba người ấy đầu lâu không còn.

      Rồng thiêng uống nước ao tù

    Người khôn nói với người ngu bực mình

      Rượu lạt uống lắm cũng say

    Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm

    Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu

    Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn,

      Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,

    Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

      Số giàu đem đến dửng dưng

    Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu

      Số giàu tay trắng cũng giàu

    Số nghèo chín đụm mười trân cũng nghèo

    Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.

      Thuyền ai lơ lửng bên sông

    Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền.

    Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

    Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người.

      Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

      Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

      Trứng rồng lại nở ra rồng

    Liu điu lại nở ra giòng liu điu

      Tay bưng dĩa muối chấm gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ em

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

    Ruột trong thì trắng vo

    Ai ơi nếm thử mà xem

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi

      Thân em như miếng cau khô

    Kẻ thanh chuộng mỏng, kẻ thô chuộng dày

      Thân em như cây quế giữa rừng

    Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay

    Phòng khi mưa gió đi về chùi chân

    Chùi rồi lại vứt ra sân

    Gọi người hàng xóm có chân thì chùi

      Thôi thà đừng biết cho xong

    Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

      Thuyền ơi có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

      Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục, lại vần than rơm

    Lấy nhau không đặng thương hoài ngàn năm.

      Trồng trầu thì phải khai mương

    Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.

      Trách ai tính chuyện đa đoan

    Đã hái được mận lại toan bẻ đào

      Trách người quân tử vô danh

    Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao

      Trúc xinh trúc mọc đầu đình

    Em xinh em đứng một mình cũng xinh

      Thân tui thui thủi một mình

    Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang

      Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng

    Tôi xin được dạo cung đàn tình chung

    Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng

    Tay kia bắt cá, tay này bắt chim.

    Một tay cấy lúa, tay tìm hái rau

    Một tay ôm ấp con đau

    Một tay vo gạo, tay cầu cúng ma

    Một tay vung vãi đằng xa

    Một tay bếp núc cửa nhà nắng mưa

    Một tay quơ củi, muối dưa

    Một tay để vâng lệnh, để bầm thưa, đỡ đần

    Tay này mẹ giữ lấy con

    Tay nào lau nước mắt… mẹ còn thiếu tay!

    Nét truyền thống của mỗi dân tộc có thể rất khác nhau nhưng đa số đều hướng tới cái hoàn thiện cái hay cái đẹp sống tốt đời đẹp đạo. Hy vọng qua những câu ca dao tục ngữ trên thì các bạn hiểu hơn về văn hóa của nước ta và chung tay vào góp sức cho những nét văn hóa truyền thống đó ngày càng phát triển và đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Hà Nội Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hà Nội ❤️️ Những Câu Nói Hay Nhất
  • Lễ Hội Truyền Thống Qua Ca Dao Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam
  • Tổng Hợp Những Câu Thành Ngữ Việt Nam Và Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Hóa Học Của Ca Dao Tục Ngữ
  • Hơn 999+ Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Và Cuộc Sống Hài Cười Vỡ Bụng
  • Bài Thơ_Tổng Hợp Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Chế Cực Hài
  • Câu ca dao trên đã nói lên một nét đẹp đặc trưng, tinh tế và đó là niềm tự hào của mỗi công dân đã và đang sống trên mảnh đất Thăng Long từ xa xưa cho đến bây giờ. Câu ca dao cũng gián tiếp nhắc nhở những con người của “Hà Nội ngàn năm văn hiến” cần phải có ý thức, bổn phận về việc trau dồi phẩm chất, sao cho xứng đáng với truyền thống đã có và đang có, với niềm tin yêu, kì vọng của mọi người. Người Tràng An có nếp sống văn hóa phong phú, đa dạng, thanh lịch và tinh tế. Vùng đất ấy là nơi hội tụ của nhiều lễ hội truyền thống, và người dân nơi đây không ít lần trong một năm tham gia các lễ hội này.

    Khi nói về những lễ hội truyền thống của mình, người dân Hà Nội cũng thể hiện trong những câu ca dao, được truyền từ đời này qua đời khác và nó có giá trị lớn trong việc truyền tải thông tin: ca dao mang ý nghĩa nhắc nhở mọi người về ngày tháng tổ chức lễ hội, ca dao diễn tả không khí của lễ hội, ca dao miêu tả cảnh đẹp của khu di tích mà lễ hội đang diễn ra…

    Một trong những lễ hội gắn bó lâu đời với người dân Thăng Long – Hà Nội là hội Gióng bởi thế ca dao, cũng nhắc nhở và giục giã:

    Lễ hội tưởng nhớ vị Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương một trong bốn vị thánh bất tử trong tâm tưởng người Việt thường được gọi là hội Gióng hay hội làng Phù Đổng là một trong những lễ hội lớn nhất ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ được nhân dân khắp nơi tìm về và tham gia trẩy hội.

    Khi nhắc nhau về hội chùa Tây Phương một ngôi chùa nổi tiếng với kiến trúc và nghệ thuật tạc tượng nằm ở huyện Thạch Thất thì dân gian có câu:

    Để nói về lễ hội chùa Thầy và chùa Láng, hai ngôi chùa cũng có lịch sử lâu đời ở vùng đất Thăng Long. Chùa Thầy tức Thiên Phúc Tự nằm trên núi Thầy – là ngôi chùa chính trong vùng có nhiều di tích kiến trúc Phật Giáo nổi tiếng. Hàng năm chùa Thầy tổ chức hội Xuân từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng Ba. Ngày mồng 7 tháng Ba được xem là ngày Thiền Sư Từ Đạo Hạnh sau khi tu hành đắc đạo đã “hóa” trong một hang động mà về sau dân gian đã gọi là hang Thánh Hóa.

    Còn hội Láng được tổ chức ở ngôi chùa làng Láng nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long. Chùa Láng cũng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh và cũng khai hội vào ngày mồng 7 tháng Ba.

    Bên cạnh những câu ca dao nhắc nhở về thời gian tổ chức lễ hội, thì cao dao còn thể hiện sự đông vui, tụ hội và vẻ đẹp của các lễ hội bằng cách so sánh ngầm như:

    Làng Đăm vốn có tục lệ bơi chải tron ngày hội tế thần vào ngày mồng chín tháng ba âm lịch. Còn tục rước Giá chính là lễ rước Lý Phục Man là của hai làng Yên Sở và Đắc Sở ở huyện Quốc Oai. Theo dân gian, ba ngày hội đó rất vui song cũng không bằng buổi rã đám kết thúc hội làng La Khê.

    Khi nói về lễ hội Triều Khúc dân gian đã miêu tả:

    Qua bốn câu ca dao, lễ hội làng Triều Khúc hiện lên với nhiều hoạt động dân gian đặc trưng của mình đã làm nao lòng người tham gia trẩy hội.

    Khi so sánh về vẻ đẹp của các di tích trong mùa lễ hội, ca dao Hà Nội có câu:

    Chùa Hương là một cụm di tích gồm có sông, núi, chùa…. Lễ hội chính thức là vào ngày Rằm tháng Hai, nhưng theo tục lệ, ngày từ ngày 6 tháng Giêng người ta đã làm lễ mở cửa rừng cho dân chúng vào làm ăn và khách thập phương ngoạn cảnh chùa vào những ngày đầu năm. Hội Chùa Hương thu hút khá đông khách thập phương trước là để lễ Phật, sau là để thưởng ngoạn cảnh.

    Con nữa, còn rất nhiều những câu ca dao phán ảnh những lễ hội thu hút sự hưởng ứng của nhiều vùng rộng lớn, ghi lại những sinh hoạt văn hóa văn nghệ của nhân dân. Dưới góc nhìn của các tác giả dân gian lễ hội truyền thống có sức sống và ý nghĩa văn hóa tinh thần đối với đời sống đương đại của người Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Mùa Xuân Qua Những Miền Lễ Hội
  • Những Vần Thơ Ca Ngợi Đảng
  • Giới Thiệu Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Phong Cảnh Việt Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Thơ Ca
  • Ý Nghĩa Hóa Học Của Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hơn 999+ Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Và Cuộc Sống Hài Cười Vỡ Bụng
  • Bài Thơ_Tổng Hợp Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Chế Cực Hài
  • ? Stt Người Lính, Cap Hay Về Bộ Đội, Quân Sự Chất
  • Stt Người Lính Hay Chất ❤️ 1001 Status Hay Về Người Lính
  • Stt Yêu Anh Hay Nhất ❤️ Những Status Yêu Anh Nhiều Lắm
  • 2.

    Giải thích:

    Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali. Ở dạng tinh thể ngậm 24 phân tử H2O vì vậy có công thức hoá học là K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O

    Phèn chua còn được gọi là phèn nhôm, người ta biết phèn nhôm còn trước cả kim loại nhôm. Phèn nhôm được sản xuất từ các nguyên liệu là đất sét (có thành phần chính là Al2O3), axit sunfuric và K2SO4.

    Phèn chua có vị chát chua không độc, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước.

    Al2(SO4)3 2 Al3+ + 3 SO42-

    Al3+ + H2O ⇄ AlOH2+ + H+

    AlOH2+ + H2O ⇄ Al(OH)2+ + H+

    Al(OH)2+ + H2O ⇄ Al(OH)3 ↓ + H+

    Al2(SO4)3 + 3H2O ⇄ 2Al(OH)3 ↓ + 3H2SO4

    Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lửng này đã kết dính các hạt bụi bẩn các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng chìm xuống. Vì vậy mà nước trở nên trong hơn.

    3. Cha truyền, con nối

    Thợ nguội dạy con

    Muốn lửa đỏ hơn

    Ta nên rảy nước.

    Câu này mang hàm ý khoa học hóa học như thế nào?

    Giải thích:

    Các ông thợ rèn, theo kinh nghiệm, thường để một cái chổi bằng giẻ tẩm ướt hoặc có chậu nước bên cạnh khi rèn cuốc xẻn dao rựa…. Đó cũng là nguyên nhân người ta gọi ông là thợ nguội đấy.

    Thợ nguội đưa thanh sắt vào bếp than hồng để nung nóng đỏ cho sắt mềm mới rèn được. Thỉnh thoảng trong lúc tôi dao, rựa… thợ rèn nhấp chổi ướt nước lên bếp than hồng. Bạn sẽ thấy lửa đỏ hơn khi chưa nhấp nước đấy! Bác thợ rèn tuy không hiểu được hiện tượng hóa học xảy ra nhưng biết tác dụng thực tế của nó.

    Còn tác dụng hóa học là việc của chúng ta:

    – Rảy nước làm lửa đỏ hơn là do trên bếp than đang nhiệt độ khá cao, than hồng sẽ khử nước tạo hỗn hợp khí than ướt theo phương trình:

    C + H2O CO + H2

    Hỗn hợp khí này cháy nhanh, tạo ngọn lửa màu xanh, tỏa nhiều nhiệt làm cho nhiệt độ bếp cao hơn, rèn nhanh hơn.

    – Mặt khác, CO sinh ra từ phản ứng còn khử các oxit bám trên bề mặt thanh sắt làm thanh sắt mềm hơn và tăng lượng sắt nguyên chất vốn có.

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Thành Ngữ Việt Nam Và Ý Nghĩa
  • Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam
  • Lễ Hội Truyền Thống Qua Ca Dao Hà Nội
  • Ca Dao Mùa Xuân Qua Những Miền Lễ Hội
  • Những Vần Thơ Ca Ngợi Đảng
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Học Tập Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27.2 Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • 99+ Stt Vui Nhộn, Hài Hước Chém Gió Mỏi Tay Trên Facebook
  • Những Câu Danh Ngôn Hay Về Sách
  • Những Câu Nói Về Tình Bạn Đểu Thâm Thúy Nghe Mà Thấm
  • Status Hay Về Tình Yêu Cuộc Sống Ý Nghĩa Facebook
  • Học tập là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi con người. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta đã mang một bài học bên mình đó là học ăn- học nói- học gói- học mở. Đến khi lớn lên ta tiếp tục bước vào ngôi trường tìm kiếm tri thức, học ở trường học ở mọi người xung quanh,… Chung quy là nâng cao trình độ hiểu biết, có vốn kiến thức đa dạng khi bước vào xã hội. Học là một quá trình dài cần nhất sự kiên nhẫn, quyết tâm cao độ mới mang lại hiệu quả.

    Những câu tục ngữ về học tập

    Tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng lại mang ý nghĩa sâu xa giúp cho chúng ta giữ vững ý chí, nghị lực để học tập. Đó là trách nhiệm cũng như quyền lợi mà tri thức mang đến cho ta, không phải nhỏ mới học mà lớn lên, ra đời vẫn phải trau dồi thêm kiến thức từ mọi người mới mong hoàn thiện được chính mình.

    1. Luyện mãi thành tài, miệt mài tất giỏi.

    2. Học ăn học nói, học gói học mở.

    3. Học hay cày biết.

    4. Học một biết mười.

    5. Học thầy chẳng tầy học bạn.

    6. Học thầy học bạn, vô vạn phong lưu.

    7. Ăn vóc học hay.

    8. Bảy mươi còn học bảy mươi mốt.

    9. Có cày có thóc, có học có chữ.

    10. Có học, có khôn.

    11. Dao có mài mới sắc, người có học mới nên.

    12. Dẫu rằng thông hoạt, chẳng học cũng hư đời, tài chí bằng trời, chẳng học cũng là phải khổ.

    13. Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

    14. Dốt đến đâu học lâu cũng biết.

    15. Có công mài sắt có ngày nên kim.

    16. Hay học thì sang, hay làm thì có.

    17. Học để làm người.

    18. Học hành vất vả kết quả ngọt bùi.

    19. Học khôn đến chết, học nết đến già.

    20. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

    21. Học thầy, học bạn, vô vạn phong lưu.

    22. Học đi đôi với hành.

    23. Học sư bất như học hữu.

    24. Đi một buổi chợ học được mớ khôn.

    25. Có học mới biết, có đi mới đến.

    Những câu ca dao về học tập

    Trong kho tàng văn học Việt Nam, những câu ca dao về học tập như lời khuyến khích động viên sự nỗ lực của mỗi người chúng ta. Chỉ khi ta quyết tâm học tập nghiêm túc thì cơ hội thành công trong cuộc sống mới đến gần. Có tri thức con người ta trở nên sáng suốt, biết lý lẽ, từ đó hình thành nhân cách con người đúng mực.

    1. Học là học biết giữ giàng

    Biết điều nhân nghĩa biết đàng hiếu trung.

    3. Học là học để làm người

    Biết điều hơn thiệt biết lời thị phi.

    4. Học trò học hiếu học trung

    Học cho đến mực anh hùng mới thôi.

    5. Học là học để mà hành

    Vừa hành vừa học mới thành người khôn.

    6. Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài

    Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.

    7. Làm trai cố chí học hành

    Lập nên công nghiệp để dành mai sau.

    9. Ở đây gần bạn gần thầy

    Có công mài sắt có ngày nên kim.

    10. Con ơi ham học chớ đùa

    Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.

    11. Con hơn cha là nhà có phúc

    Trò hơn thầy là đất nước yên vui.

    12. Chữ thầy trong cõi người ta

    Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.

    15. Cơm cha áo mẹ chữ thầy

    Gắng công mà học có ngày thành danh.

    16. Khôn thì trong trí lượng ra

    Dại thì học lóm người ta bề ngoài.

    18. Kìa ai học sách thánh hiền

    Lắng tai nghe lấy cho chuyên ân cần.

    21. Nhân bất học bất tri lý

    Ngọc bất trác bất thành khí.

    22. Rủ nhau đi học i o

    Mỗi ngày một chữ, con bò cũng thông.

    Khi đã xem qua những câu ca dao tục ngữ về học tập mà Wiki Cách Làm đã sưu tầm được thì bạn tâm đắc nhất câu nào trong những dòng trên. Vì tương lai tươi sáng, được mọi người kính phục và nể trọng hãy nghiêm túc học tập bắt đầu từ ngày hôm nay đi nhé. Chúc các bạn thành công trên con đường mình đã chọn và luôn luôn giữ “lửa” nhiệt huyết trong cuộc hành trình truy tìm kiến thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Chúc Valentine Cho Người Yêu Ở Xa Cảm Động Ý Nghĩa
  • 15 Cách Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh
  • 1000 Câu Thành Ngữ Tục Ngữ Tiếng Trung Thông Dụng Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • 15 Lời Chúc Sinh Nhật Bố Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Loạt Stt Hay Về Tình Yêu Vk Ck Ngọt Ngào Lãng Mạn Được Update Hôm Nay 19/6/2020
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu

    --- Bài mới hơn ---

  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Địa Danh
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • TRIỀU ĐÌNH NGUYÊN Trong những dịp cúng lễ, lễ lạt, hiếu hỉ, và đặc biệt là vào dịp Tết, rượu thường được nhắc đến, và có khi trở thành quan trọng hàng đầu: “Vô tửu bất thành lễ”.

    Rượu lại thường được cho là thứ không thể thiếu với giới tao nhân mặc khách. “Cầm kì thi tửu”, “bầu rượu túi thơ”, Lưu Linh viết “Tửu đức tụng” (tán tụng công đức của làng rượu), Lí Bạch không chỉ là “thi tiên” mà còn được gọi là “tửu tiên”, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Ba Quát… đều sành rượu và có thơ ca ngợi rượu, là vài minh chứng.

    Trong kho tàng ca dao, người viết bước đầu đã trích ra được 42 bài có đề cập đến rượu. Nội dung của những bài ca dao này hoặc nhìn nhận về đặc tính của rượu, hoặc gắn rượu với lễ, với cuộc sống lạc thú, hoặc rượu được ví với sắc đẹp của người phụ nữ, và cuối cùng, là sự cảnh cáo về những tác hại của rượu.

    1. Đặc tính của rượu

    Rượu sở dĩ ngon là nhờ tửu tinh (alcool), được gọi là men:

    Rượu ngon bởi vì men nồng

    Người khôn bởi vị giống dòng mới khôn.

    Chất men của rượu được so sánh với các gen của dòng giống, là một cách nhìn nhận đi thẳng vào bản chất sự vật.

    Chất men ấy, nếu được cất giữ kĩ, thì bền vững với thời gian:

    Rượu ngon chắt để bàn thờ

    Ba bốn năm không lạt (nhạt), sao giờ lạt đi?

    và không phụ thuộc vào vật chứa:

    Rượu ngon bất luận be sành,

    Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

    2. Rượu gắn với lễ

    Nghi lễ mà ca dao thường nêu hơn cả là cưới hỏi. Rượu (cùng với cau trầu) là lễ vật bắt buộc khi cưới hỏi. Thử đọc lời đối đáp sau của một đôi trai gái:

    – Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy,

    Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây,

    Chàng đứng đó, thiếp đứng đây,

    Lẽ mô thầy với mẹ lại không kết nghĩa sum vầy cho con?

    – Tay anh ôm hũ rượu, buồng cau,

    Đi ngả đường sau, thầy mẹ chê khó, đi ngả cửa ngõ, chú bác chê nghèo,

    Nhắm chừng duyên nợ cheo leo,

    Sóng to, thuyền nặng không biết chống chèo có đặng (được) không.

    Cô gái tưởng tượng nêu một viễn cảnh êm thấm, thuận chiều, trong lúc chàng trai tỏ ra thực tế hơn trước trở lực, do cái nghèo tạo ra.

    Giả như cô gái thơ ngây và có tình cảm trong sáng kia thuyết phục được bố mẹ mình chấp thuận cuộc hôn nhân do cô chủ động, thì việc tiếp theo sẽ là:

    Rượu lưu li chân quỳ tay rót,

    Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.

    Đôi vợ chồng mới, hoặc trai gái đã đính hôn, cũng dùng miệng trầu, chén rượu khi trao lời hẹn ước thủy chung:

    Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn,

    Uống một chén rượu, năm bảy lời giao,

    Anh chớ nghe ai sóng bổ ba đào,

    Em đây quyết giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn.

    Rượu kim lan ve vàng chước tửu,

    Em mở miệng chào bạn hữu tương tri

    Bá Nha vắng mặt Tử Kỳ

    Ôm đờn luống chịu sầu bi một mình.

    3. Rượu gắn với lạc thú

    Trước hết, rượu (ở đây, hiểu theo “người uống rượu”) thể hiện cuộc sống sung túc, an nhàn, biết làm chủ đời người:

    Lật đật thì đất cũng đè,

    Những người thong thả, rượu chè quanh năm

    hay:

    Rượu cúc sánh với trà lan,

    Khi xem hoa nở, khi than Thúy Kiều.

    và:

    Rượu nằm trong nhạo chờ nem

    Anh nằm phòng vắng chờ em lâu về.

    Chính vì sự thể hiện ấy mà giới phụ nữ (vốn ít người biết uống rượu) đã ít nhiều đồng tình chuyện “nam vô tửu như kì vô phong” (đàn ông không uống rượu như cờ không có gió). Cho nên có người đã:

    Đốt than nướng cá cho vàng,

    Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

    có người còn “rộng lòng” hơn:

    Khuyên anh cờ bạc thời chừa,

    Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng.

    Kế đến, giới mày râu thì xem mình độc quyền về rượu, và không chút ngần ngại khi nói ra điều này:

    Còn trời, còn nước còn non.

    Còn có bạn rượu, anh còn say sưa.

    hay:

    Con tằm bối rối vì tơ;

    Anh say sưa vì rượu, em ngẩn ngơ vì tình.

    Thậm chí, có anh còn móc tiền vợ để uống:

    Rượu chè, cờ bạc lu bù,

    Hết tiền đã có mẹ cu bán hàng.

    Sau cùng, lạc thú với rượu không riêng bậc văn nhân tài tử mà cả hạng “tửu nang phạn đại” (đãy rượu túi cơm) và những người cùng uống, gọi là bạn rượu để thêm vui, theo luật “trà tam, tửu tứ” (uống trà, uống rượu thì thường ba, bốn người cùng uống mới thú). Có lúc không phải “tửu tứ” mà “tửu đảng”, “tửu đồ” (những tên bợm nhậu):

    Có chồng say như trong chay ngoài bội,

    Ngó vô nhà như hội Tần Vương!

    4. Rượu và người đẹp đều gây say

    Hán Việt có từ “tửu sắc” nói lên mối quan hệ tuy hai mà một giữa rượu và gái, đứng đầu trong thú ăn chơi (của người đàn ông), tiếng Việt thuần túy không có một từ như vậy. Trong ca dao, lối nói phổ biến là so sánh điểm gây say giống nhau giữa rượu và người phụ nữ:

    Rượu ngon chưa uống đã say,

    Lựu, lan chưa bẻ đã bay mùi nồng.

    và:

    Đèo bồng mang tiếng thị phi

    Bầu không có rượu lấy gì mà say?

    hoặc:

    Rượu ngon cái cặn cũng ngon,

    Thương em chẳng luận chồng con mấy đời.

    hoặc nữa:

    Rượu từ trong hũ rót ra,

    Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.

    Cả chuyện “say ngầm”, “say ngấm” của rượu cũng được vận dụng để ví với nét hạnh của nữ giới (trong việc chinh phục đàn ông):

    Rượu say vì bởi men nồng,

    Vợ mà biết ở, ắt chồng phải theo.

    hay:

    Rượu sen càng nhắp càng say,

    Càng yêu vì nết, càng say vì tình

    Đầy vơi chúc một chén quỳnh

    Vì duyên nên uống, vì tình nên say…

    5. Đề phòng những tác hại của rượu

    Không thể có chuyện uống quá tửu lượng cho phép (đối với mỗi người) mà vẫn không say, dù đó là rượu nhạt:

    Rượu nhạt uống lắm cũng say,

    Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.

    hay rượu dở:

    Rượu không ngon uống lắm cũng say,

    Áo rách có chỉ vá may lại lành.

    Mỗi khi đã bị say thì không đủ sáng suốt để nhận rõ cái lộn xộn ở bàn tiệc:

    Rượu không say, sao chén ngã xe lăn,

    Không thương người đó, sao năng tới nhà?

    ở lập luận:

    Rượu nào rượu lại say người,

    Bớ người say rượu, chớ cười rượu say.

    Điều thường gặp là “rượu vào, lời ra”, nói nhiều, nói dài nhưng không ý thức hết điều đã nói, gây chuyện “đa ngon đa quá” (nhiều lời thì càng nhiều lầm lỗi), lắm lúc tạo nên hậu quả nghiêm trọng. Chí ít, cũng phiền nhiễu đến người xung quanh:

    ở đời chẳng biết sợ ai,

    Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày.

    Và không mấy ai tin lời người say, cho dù có nói hay như thế này:

    Say thời, say ngãi say tình,

    Say chi chén rượu mà mình nói say!

    Ngoài cái hại của việc say đã nói, người đắm đuối vì rượu mà bỏ bê làm ăn, sẽ dễ lâm vào cảnh nghèo khổ:

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa,

    Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày.

    Những trình bày trên cho thấy, ca dao đã đề cập khá đầy đủ về rượu. Khi gắn với nghi lễ, rượu tượng trưng cho việc chuẩn thuận, thề nguyền; khi gắn với lạc thú, rượu như một vị chủ không thể thiếu; khi xét đến người đẹp, chỉ có rượu mới tương xứng để đối sánh. Nhưng tác hại của rượu cũng không nhỏ nếu người uống không biết dừng lại ở mức cần dừng.

    Dhtn rất hân hạnh phục vụ quý khách – hàng ship tận nơi mới nhận tiền Bạn là ai không quan trọng, quan trọng là ai ở bên cạnh bạn?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100