Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc

--- Bài mới hơn ---

  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ
  • Ca Dao Xuân, Tục Ngữ Tết
  • Ca dao tục ngữ Việt Nam toàn tập

    21. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    22. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    23. Cậu cai nón dấu lông gà

    Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai

    Ba năm được một chuyến sai

    Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê

    Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi bán kẻo mà chợ trưa

    24. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây

    25. Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    26. Cây khô không dễ mọc chồi

    Mẹ già không thể sống đời với con

    27. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    28. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Đến đây trời khiến đem lòng thương em

    29. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    30. Cây xanh lá đỏ hoa vàng

    Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi

    (đố là gì? Cây rau sam)

    31. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây đức lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Đời cha vinh hiển đời con sang giàu

    32. Cậu cai buông áo em ra

    Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    33. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    34. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    35. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    36. Cháu ơi cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bòn mặc ai

    37. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    38. Chàng về để áo lại đây

    Để khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    39. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    40. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Đố là con gì? Con sam)

    41. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    42. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Đi buôn cho đáng đi buôn

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    44. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    45. Chê đắng chê hôi

    Đã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọ

    46. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành , lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    47. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    48. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    49. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    50. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    Đ

    1. Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    2. Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    3. Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    4. Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    5. Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    6. Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    7. Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    8. Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    9. Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    10. Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    11. Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    12. Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    13. Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    14. Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    15. Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    16. Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    17. Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    18. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    19. Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    20. Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    21. Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    22. Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    23. Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    24. Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    25. Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    26. Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    27. Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    28. Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    29. Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    30. Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    31. Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    32. Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    33. Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    34. Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    35. Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    36. Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    37. Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    38. Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    39. Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    40. Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    41. Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    42. Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    43. Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    44. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    45. Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    46. Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    47. Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    48. Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    49. Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    50. Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    51. Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    52. Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    53. Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Danh Ngon Noi Ve Cha Me

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Mùa Xuân Ngọt Ngào Say Đắm Bạn Nên Biết
  • Danh Ngôn Về Ma Túy
  • Bác Sĩ Bạch, Đã Lâu Không Gặp!
  • Châm Ngôn Về Việc Học
  • Châm Ngôn Bạn Bè Xấu
  • 4. ABBE’ PRE’VOST* *Một đứa con ngũ ngon, yên giấc không đâu bằng trong phòng của cha nó.

    5. Mẹ là đề tài mà chúng ta thường hay nhắc đến nhiều nhất hiện nay trong cuộc sống, những câu nói về mẹ khá ý nghĩa và cảm động nếu ai là người suy nghĩ sâu xa ….

    6. Rơi bao hạt mồ hôi, đều chỉ vì mong chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    13. Căn hộ Lời chúc 20/10 lời tỏ tình lời tỏ tình lãng mạn lời tỏ tình ngọt ngào nha ong dep nhung cau noi hay ve tinh yeu nhung cau noi hay ve tinh yeu dau tien nhung cau noi hay ve tinh yeu tuoi hoc tro nhung cau noi y nghia ve tinh yeu dau tien nhà ống nhà ống 2 tầng Những bức ảnh hoa hồng đẹp nhất.

    15. Tổng hợp danh ngôn mẹ hay nhất, những quan điểm của những người nổi tiếng về mẹ, những câu nói về mẹ hay nhất.

    16. – Cha mẹ giống như Chúa trời bởi bạn luôn muốn biết họ ở đâu, muốn họ lúc nào cũng nghĩ cho mình, nhưng bạn lại chỉ thực sự nhớ tới cha mẹ khi cần thứ gì đó – Chuck Palahniuk.

    17. Không có ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, bạn sẽ không có mặt trên cõi đời này và không được trưởng thành như ngày hôm nay.

    19. Căn hộ Lời chúc 20/10 lời tỏ tình lời tỏ tình lãng mạn lời tỏ tình ngọt ngào nha ong dep nhung cau noi hay ve tinh yeu nhung cau noi hay ve tinh yeu dau tien nhung cau noi hay ve tinh yeu tuoi hoc tro nhung cau noi y nghia ve tinh yeu dau tien nhà ống nhà ống 2 tầng Những bức ảnh hoa hồng đẹp nhất.

    22. 100 câu nói hay về công cha nghĩa mẹ mà con cái phải khắc cốt ghi tâm, hiểu về đức hi sinh cao cả của bậc sinh thành không gì có thể diễn tả hết thành lời.

    23. Một số người cha vắng mặt hoặc không đóng vai trò tích cực trong gia đình – nhưng thiết kế ban đầu của Chúa là người cha là người lãnh đạo của gia đình.

    29. Những câu nói hay về cha mẹ, về gia đình nổi tiếng nhất, danh ngôn hay và sâu sắc về tình cảm cha mẹ dành cho con, về công lao trời biển của cha mẹ.

    30. Lời hay ý đẹp xin gửi tới các bạn tổng hợp những câu nói hay nhất về cha mẹ Những bài thơ và cao dao, tục ngữ hay – Giới thiệu tin bài Tổng hợp những câu nói hay nhất về cha mẹ hay nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Châm Ngôn Về Nỗi Buồn
  • Chùm Thơ Tình Lãng Mạn Về Biển Cùng Tình Yêu Em & Anh
  • Top Những Câu Nói An Ủi Người Đang Buồn, Bế Tắc Trong Cuộc Sống Hay
  • Những Câu Nói An Ủi, Động Viên Tinh Thần Bạn Bè Để Vượt Qua Khó Khăn
  • Những Câu Nói An Ủi Động Viên Hay Nhất
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Quảng Nam Qua Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Câu Ca Dao Quảng Ngãi (Sưu Tầm)
  • Văn Học Dân Gian Quảng Trị
  • Dân Ca Dân Nhạc Vn – Hát Ru Con Miền Nam
  • Đô Thị Cổ Hội An
  • Đi Tìm Giá Trị Và Ý Nghĩa Lời Ru
  • QUẢNG NAM QUA CA DAO

                                      

    Nguyễn Quý Ðại Munich

    “ Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm

    Rượu Hồng Ðào chưa uống đã say

    Bạn về đừng ngủ gác tay

    Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo”.

    Nói đến Quảng Nam người ta thường nghĩ đến vùng đất mở đầu cho cuộc Nam tiến từ đó làm bàn đạp tiến đến đồng bằng sông Cửu Long.

    Ðịa Linh Nhân Kiệt

    ” “

    Ngũ

    Phụng Tề

    Phi

    ”, góp

    phần vào xây dựng đất nước, đem lại điểm son lịch sử nước nhà, và cũng là

    vùng đất của thi ca, đóng góp vào lâu đài Văn Hóa Dân Tộc.

    Quảng Nam có các nhà cách mạng, khoa bảng gọi là đất “” “”, góp phần vào xây dựng đất nước, đem lại điểm son lịch sử nước nhà, và cũng là vùng đất của thi ca, đóng góp vào lâu đài Văn Hóa Dân Tộc.

    Trong nhân gian ca dao truyền tụng qua câu hò giọng hát, phong phú và lãng mạn. Câu chuyện cô gái hái dâu tại Ðịên Bàn nhờ tâm hồn văn nghệ lời ca trữ tình, giúp cho nàng bước lên đỉnh cao của danh vọng.

    Theo Ðại Nam

    Liệt truyện Tiền Biên, nhân chuyến công du của Sãi vương vào thăm Quảng Nam,

    xem xét công việc của Trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ, có Nguyễn Phúc Lan con thứ

    của Sãi Vương sinh 13.8.1601 là cháu ngoại của Mạc kính Điển. Đi du thuyền

    trên sông trong đêm gió mát trăng thanh, dừng thuyền bên gành Ðiện Châu

    thuộc quận Ðiện Bàn ngày nay.

    Thế Tử Lan thấy trăng đẹp bèn xuống một chiếc thuyền con sai tuỳ tùng chèo đi vừa câu cá vừa ngắm trăng. Thuyền Thế Tử đang lững lờ trôi giữa dòng bỗng nghe tiếng hát cất lên từ ven sông: Trong đêm vắng nghe giọng ca từ xa vọng lại.

    Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng

    Thiếp thương phận thiếp mà hồng nắng mưa

    Thuyền rồng Chúa ngự đi đâu

    Thiếp thương phận Thiếp hái dâu một mình

             Tiếng

    hát trong trẻo của người con gái giữa một đêm trăng gợi trí tò mò của thế

    tử. Thế Tử Lan cho thuyền cập vào bờ nơi có tiếng hát.

    Đó là một bãi đất trồng dâu ở ven sông. Khi lên bờ, Thế Tử Lan bắt gặp một thiếu nữ thật đẹp đang ngồi ngắm trăng. Nguyễn Phúc Lan tìm đến với nàng, như hai siêu tần số tâm hồn gặp nhau, tình yêu đến thật tình cờ không hẹn ước, phải chăng đó là duyên nợ định mệnh an bài. Sãi vương cho phép Nguyễn Phúc Lan làm lễ thành hôn với nàng “hái dâu” là Ðoàn Thị Ngọc con gái thứ 3 của quận công Ðoàn Công Nhạn quê Ðiện Bàn

            Thế Tử xin Chúa cho phép nàng được vào hầu trong phủ. Kể từ đó, bà

    trở thành phu nhân thế tử. Khi thế tử nối ngôi Chúa năm 1635-1648 Nguyễn

    Phúc Lan lên ngôi là Công-Thượng-Vương, bà Ðoàn Thị Ngọc được Sãi vương sủng

    ái đưa lên chánh phi, phong Hiếu-Chiêu Hoàng-Hậu. Bà trở thành Chính Phu

    Nhân. Bà là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn nên rất được Chúa sủng ái

    cũng như được mọi người trong phủ kính yêu. Bà mất năm Tân Sửu (166, lăng

    bà tại Gò Cốc Hùng, núi Chiêm Sơn, Quảng Nam

    Thế Tử xin Chúa cho phép nàng được vào hầu trong phủ. Kể từ đó, bà trở thành phu nhân thế tử. Khi thế tử nối ngôi Chúa năm 1635-1648 Nguyễn Phúc Lan lên ngôi là Công-Thượng-Vương, bà Ðoàn Thị Ngọc được Sãi vương sủng ái đưa lên chánh phi, phong Hiếu-Chiêu Hoàng-Hậu. Bà trở thành Chính Phu Nhân. Bà là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn nên rất được Chúa sủng ái cũng như được mọi người trong phủ kính yêu. Bà mất năm Tân Sửu (166, lăng bà tại Gò Cốc Hùng, núi Chiêm Sơn, Quảng Nam

    Ca dao là di sản văn hóa, văn chương bác học của dân tộc Việt Nam là những câu hát bình dân, thông thường trong sinh hoạt xã hội .Ðược truyền tụng từ đời nầy sang đời khác, ca dao mang mọi hình thái khác nhau theo thời gian, nói lên tình yêu của tuổi xuân nam nữ, trên cánh đồng lúa với trưa hè trong tiếng ve sầu bên cây phượng vĩ, hay nỗi buồn chia tay của tuổi học trò, diễn tả mọi sinh hoạt đời sống, với thiết tha hay tiếng thở dài vì tuyệt vọng, nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cảnh tan thương bất mãn hay lòng hào hùng trong đấu tranh dành lại độc lập…Mỗi địa phương có những câu ca dao khác nhau,

               

    Người Quảng Nam tiếp xúc văn minh ngoại quốc, từ thế kỷ thứ 17.Trung Hoa có nền văn hóa lâu đời, ngược lại Tây Phương có tài về khoa học kỷ nghệ, bởi thế không có gì tuyệt đối với việc tiếp xúc học hỏi của người dân Quảng Nam, Tổ tiên khi xưa đặt chân đến nhận vùng đất Chiêm Thành với bản tính can đảm lúc đến lập nghiệp trong vùng đất mới khai phá. Thích canh tân tiến bộ trong tình thần dân chủ, cởi mở thích phát biểu ý kiến và phải có lý luận rõ ràng. Ai nói điều gì mơ hồ không có dẫn chứng đúng thường bị cãi lại ngay. Cãi trở nên truyền thống của người Quảng Nam, bởi thế ca dao có nói về cá tính trong sinh hoạt xã hội

    Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngải hay lo

    Bình Ðịnh nằm co, Thưà Thiên ăn hết

    Ðời sống gia đình, tình yêu mộc mạc của vợ hiền đảm đang việc nhà, dành thì giờ cho chồng yên chí học hành đỗ đạt ra giúp đời, hay hai người chỉ mới yêu nhau nhưng chờ ngày bái tổ vinh qui .

    Ngày xưa các thì sinh Quảng Nam, phải vượt đèo Ải Vân ra Huế thi trong các kỳ thi do triều đình tổ chức, vác lều chỏng ứng thí nhà giàu đi ngựa, nghèo thì đi bộ có người gánh phụ hành trang đường xa cách trở

    Các chàng trai xứ Quảng ra Huế thi, thấy nàng gái Huế mặc áo dài, mái tóc thề tung bay trong gió nhẹ của sông Hương, đi qua cầu Trường Tiền sáu vày mười hai nhịp. khác với hình ảnh người yêu hay vợ hiền ở Quê nhà có thể với cái nhìn ngẩn ngơ

                                        

    Học trò trong Quảng ra thi

    Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

    thấy

    “ ra  chữ  ”

    mấy”

    Sau nầy trai Quảng Nam ra Huế học Ðại học không còn ngẩn ngơ, đến nổi đi không đành..như các cụ ngày xưa, học xong Ðại học đi làm việc khắp nơi, không giới hạn làm quan ở triều đình Huế. Những thành phố Hội An, Ðà Nẳng,Tam Kỳ trở nên sầm uất, các nàng gái xứ Quảng cũng xinh đẹp, văn minh dịu dàng.. nên các chàng sưả lại chữ ““ ra chữ ”

    Tình yêu lòng thủy chung thường nhắc đến, dù học hành đỗ đạt làm quan, đừng quên tình yêu thuở ban đầu lưu luyến ấy.

    Sáng trăng trải chiếu hai hàng

    Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ

    Quay tơ vẫn giữ mối tơ,

    Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh.

                                                         

    **

    Non non, nước khơi chừng

    Ái ân đôi chữ xin đừng quên nhau

    Tình sâu mong trả nghĩa đền

    Ðừng vui chốn khác mà quên chốn nầy

    Vợ chồng quê ngày ngày bận rộn việc ruộng đồng, ban đêm còn tranh thủ thời gian làm thêm việc nhà, không mong ước gì cao xa ngoài lòng chung thủy

    Ðêm hè gió mát, trăng thanh

    Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp chừng

    Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt

    Duyên đôi ta đã trót cùng nhau

    Trăm năm thề những bạc đầu

    Chớ ham phú quí đi cầu trăng hoa.

    Tình yêu khép kín trong lễ giáo gia đình „tình trong như đã, mặt ngoài còn e” nhưng tình yêu của phố Hội An cũng lãng mạn dành cho thi nhân và khách vãng lai

                                      

    Ai đi phố Hội, Chùa Cầu

    Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai,

    Ðể sầu cho khách vãng lai,

    Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

                                      

    Trưa hè Chuà Cầu

    Hội An nơi hẹn hò của các cặp nhân tình trong các mùa làm việc chung với nhau

    Thương nhau chớ quá e dè,

    Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be.

    Thiếp nói thì chàng phải nghe

    Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu

    Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo

    Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,

    Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,

    Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau

    Lạy trời, mưa xuống cho mau

    Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp nhau

    Tình yêu có thể vượt không gian và thời gian không còn ngăn sông cách núi dù ở đâu cũng có thể tìm đến, ngày xưa thiếu phương tiện giao thông, phải vượt núi đèo tìm đến với người yêu trong đời sống mộc mạc của hoa đồng cỏ nội, hay trên đồi sim tím

    Ðói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người yêu (thương)

    hay

    Thương nhau , mấy núi cũng trèo

    Mấy sông cũng lội , mấy đèo cũng qua

    Khoảng cách không thể so sánh với tình yêu, đường xa cách trở có thể thâu gần lại

    Rằng xa: cửa ngõ cũng xa

    Rằng gần : Vĩnh-Ðiện, La-Qua cũng gần

    Thân phận con gái đi lấy chồng, nhưng hình ảnh sinh hoạt trong gia đình không thể quên dù được sống hạnh phúc bên chồng, nhưng đôi lúc chạnh lòng nhớ thương cha mẹ

    Chiều chiều ra đúng ngỏ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Chiều chiều mây phủ ải vân

    Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

    Hay

    Chiều chiều mây phủ Sơn trà

    Lòng ta thương bạn, nước mắt và lộn cơm

    Người Quảng Nam tính tình cương trực, nói thẳng, không giấu diếm nỗi lòng, trong tình yêu gia đình, xã hội đạo làm người luôn được tuyệt đối tôn trọng

    Ðối với ai ơn trọng , nghĩa dày

    Một hột cơm cũng nhớ

    Một gáo nước đầy vẫn chưa quên

    Người chồng vì bổn phận đi xa, vợ hiền lo gánh vác việc nhà nuôi con phụng dưỡng mẹ già, giữ lòng thủy chung, mong ước ngày đoàn tụ dưới mái ấn gia đình để con có mẹ có cha, Truyền thống đàn bà Việt Nam hy sinh giúp chồng mong làm nên sự nghiệp, vợ khôn ngoan làm quan cho chồng tiễn đưa chồng ra đi không phải là những nụ hôn nồng nàn, nhưng là lời nhắc nhủ

    Anh đi em ở lại nhà

                                      

    Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ

                                      

    Lầm than bao quản muối dưa

                                       Anh đi ! anh liệu

    chen chân với đời

    Hoặc

    Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông

    Thấy nước xanh như tàu lá,

    Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn

    Thấy phố xá nghinh ngang

    Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,

    Ðào sông cù nhĩ , tìm vàng Bông miêu.

    Dặn tấm lòng , ai dỗ cũng đừng xiêu,

    Ở nuôi Thầy Mẹ, sớm chiều cũng có anh

    Các địa danh Tý Sé Hòn Kẻm, Ðá Dừng nhưng chúng ta chưa một lần bước chân đến đó. Xem lại bản đồ Quảng Nam địa danh trên nằm trên sông Thu bồn phát xuất từ trên nguồn chảy qua giữa quận Quế Sơn và Ðại Lộc, nhưng thưở xa xư a có thể người ta đến đó làm việc, trên sông dưới nước với cảnh khỉ ho cò gáy, nhớ về Mẹ là nhớ về cuội nguồn dân tộc

    Ngó lên Hòn-Kẻm, Ðá-Dừng ,

    Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

               

    Công ơn sinh thành của cha mẹ cao như trời, rộng như biển, con cái có lòng

    hiếu thảo đó là nguồn an ủi đối với cha-mẹ lúc tuổi già.

    Nhắc lại tình mẫu tử cao qúy, qua kinh nghiệm cuộc sống nhắn gởi ai còn cha mẹ nên giử lòng hiếu thảo.

                                      

    Lên non mới biết non cao

    Nuôi con mới biết công lao Mẫu từ

    Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Người mẹ hiền thường răng dạy con gái qua ca dao như thứ luân lý thực hành

                                      

    Mình là con gái trong nhà

    Hình dung yểu điệu nết na dịu dàng

    Khi ăn khi nói chững chàng

                                       Khi ngồi khi đứng bỉ bàng dung nghi

    Sống với quê nhà bên lũy tre xanh, trên con đường làng bé nhỏ, hay phải đi xa một phương trời nào, khó có thể quên được quê hương xứ Quảng, kỷ niệm gắn bó cuộc đời, sau năm 1975 làng sóng bỏ nước ra đi tìm tự do, được định cư khắp nơi trên Thế giới, hội nhập vào văn minh xứ người, nhưng nỗi lòng người ra đi viễn xứ vẫn canh cánh bên lòng nhớ thương về quê Mẹ, mỗi địa phương mang một đặc thù riêng

    Ai đi cách trở sơn khê

    Nhớ tô Mì Quảng, tình quê mặn mồng

    Hội An đất hẹp, người đông

    Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

    Hội An bán gấm, bán điều

    Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

    Chiêm Sơn,, là lụa mỹ miều

    Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

    Chồng em là lái buôn tiêu

    Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng

    Cây đa chợ Hội An

     

    Dãy trường sơn chạy dọc theo bờ bể từ Nam Ô cho tới Chu Lai phần lớn dân số sống về nông nghiệp và ngư phủ cùng nhau phát triển kinh tế. Các quận trên nguồn như Tiên Phước, Quế Sơn…muốn ăn cá phải mua cá hấp chín, bán vào các buổi chợ sớm, các loại mắn người miền biển gánh lên nguồn đổi lấy ngũ cốc, tùy theo các mùa, nhưng loại cá chuồn, người ta thường làm thính hay hấp, cá chuồn nấu với mít non một món ăn ngon tuyệt vời

    Ai về nhắn với ngọn nguồn

    Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên

     

                           

    Cây mít

    Trái bòn bon bé nhỏ nhưng có hương vị ngọt, ngày xưa khi vua Gia Long hái ăn khi vượt núi băng ngàn để chống lại nhà Tây Sơn. Thống nhất Sơn Hà 1802, đặt tên trái bòn bon là “Nam-Trân”, trái măng cụt tại miền Nam tên là “Giáng-Châu”, để nhớ lại lúc thiếu lương thực nhà vua và quân lính thường hái các trái cây trên

                                      

    Trái bòn bon trong tròn ngoài méo

    Trái thầu dầu trong héo ngoài tươi

    Em thương anh ít nói ít cười

    Ôm duyên ngồi đợi chím mười con trăng

    Vùng biển cát

    trắng Nam Ô nằm dưới chân đèo Ải Vân, sản xuất nước mắn ngon không thua gì

    Phú-Quốc hay Phan-Thiết.

    Chúng ta ít nhất một lần ăn với dưa cải muối với nước mắn Nam Ô

    Nói cho lắm cũng nước mắn dưa cải

    Nói cho phải cũng dưa cải nước mắn

    Tường Linh có những vần thơ đi vào văn học

    Ðêm Ðà Nẵng vọng về cơn gió biển

    Bún chợ Chùa thương nước mắn Nam Ô

    Quận Hòa Vang gíap Ðà Nẳng có bến xe Ðò Xu, ngả ba Hòa Cầm quận lỵ tại Cẩm Lệ nơi sản xuất nem, tôi không hút thuốc nhưng nghe người ta thường nói nơi nầy nổi tiếng một vùng trồng thuốc thơm ngon, gọi là thuốc lá Cẩm Lệ các vùng Thanh Qúit cũng trồng cau, thuốc lá được các ghe thương gia tới mua bán

    Tơ cau thuốc lá đầy ghe

                                       Hội An buôn bán

    tiếng nghe xa gần.

    Hội An làm bánh tổ một đặc sản, vùng Tiên Ðỏa từ Hương An trở vào cho đến quận Thăng Bình vùng cát trắng phau thích hợp cho việc trồng khoai lan .

                                      

    Nem chả Hòa Vang

                                      

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lan Tiên Ðỏa

    Thơm rượu Tam Kỳ

    Quận Trà My tại Quảng Nam trồng Quế vỏ nhiều dầu, phẩm chất cao đặc sản nơi nổi tiếng các nơi khác trồng nhưng có thể xa khí hậu phong thổ chất lượng kém, bởi vậy khó nơi nào sánh bằng,

                                      

    Quế Trà My thứ cay thứ ngọt

    Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh

    Phàn du, bạch chỉ rành rành

    Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

    Quế sản phẩn giá trị như Yến ở cù Lao Chàm nổi tiếng thơm ngon và đắc tiền

    Ðầy hàng tháng 8 ngát mùi hương

                                       Sửa quế người xem khá rộng ràng

    Số chở hàng năm khôn kể xiết,

    Bán xong lại đến lấy thêm hàng..

    Lời ru ngọt ngào của mẹ hiền, tiếng ru à ời ngọt ngào âm thanh kéo dài, trong những trưa hè nắng gắt, đem lại cho con giấc ngủ bình yên, liên khúc ca dao trữ tình như lời nhắn nhủ, lớn lên phải khôn ngoan vào đời. Nhờ truyền khẩu nên các bà thuộc lòng các câu ca dao kết hợp lại thành liên khúc ru con

    Ru con con thét cho muồi

    Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

    Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

    Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh

                                        

    ( Tùy theo mổi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )

    Công cha nghĩa mẹ chớ quên

    Ơn vua lộc nước mong đền con ơi

    Như vầy mới gọi rằng trai

    Trên lo nghĩa Chúa, dưới mài Thảo thân.

    Con mèo trèo lên cây cau

    Hỏi thăm chú chuộc đi đâu vắng nhà

    Chú chuộc đi chợ đường xa

    Mua mắn mua muối giổ cha chú mèo

    cha

    mẹ đặt đâu con ngồi đó

    ” nhưng có câu “

    ép dầu ép mở ai nở ép duyên”.

    Các nàng được ví von như tấm lụa đào đẹp, như những giọt mưa sa trong mỗi dạo xuân về, con gái dịu dàng tha thước, nhưng thân phận so sánh như 12 bến nước trong nhờ đục chịu, tình yêu duyên nợ cột vào với nhau, tình yêu chỉ là giấc mơ cho phương trời viễn mộng? Ngày xưa chịu ảnh hưởng gia đình “” nhưng có câu “

                                      

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ?

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt sa bãi cát, hạt vào vườn hoa

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đồng nội, hạt sa vũng lầy.

    Quảng Nam có những trang sử oai hùng và bi đát, qua các cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp.Tình thần yêu nước hy sinh của sĩ phu và những người dân quê, họ sống trên cánh đồng lúa bờ dâu, hiền từ chất phát không hận thù. Dưới thời Pháp thuộc bị bóc lột đến tận xương tủy, nên mọi người cùng nắm tay nhau lên đường đấu tranh. Phong trào đấu tranh xin xâu giảm thuế phát xuất tại Quảng Nam đánh dấu một kỷ nguyên mới dưới thời nô lệ.

    Ðất Quảng Nam từ năm bính ngọ (1906)

    Xâu ngũ nhật, công sưu công ích, đường trường làm tột núi cao

    Thuế bách phân gia ngũ gia tam,đủ ngón vét từng xu nhỏ

    Mãi tới xuân nầy (1908) cực đà hết chỗ,

    Ra tết trời làm tai biến, hạn hán tiêu khô

    Nhiều nơi đất bỏ hoang dân tình đói khổ..

    Làng sóng đấu tranh nổi lên toàn tỉnh Quảng Nam sau đó kéo dài các tỉnh miền Trung

    Ðời ông cho tới đời cha

    Ðời nào cực khổ như ta đời nầy

    Ngoài đồng cắm cọc giăng giây

    Vườn nhà đóng thuế, vợ gầy con khô.

    Ðời xưa thuế một quan năm

    Ðời nay thuế lại hai đồng bốn giác

    Con tay bồng tay dắt

    Vợ tay đỡ tay mang

    Vui chi mà hát mà mừng

    Mua ngày mà ở cầm chừng với Tây

    Từ ngày Tây chiếm Ðế đô

    Xâu cao thuế nặng , biết chừng mô hởi trời !

    Còn lo một nỗi khổ đời

    Quan trên ỷ thế nặng lời hiếp dân.

    ***

    Kể từ Ðồn Nhất kể vô

    Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn

    Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang

    Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra

    Ngó lên chợ Tổng bao xa

    Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu

    Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu

    Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp năm

    Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm,

    Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

    Thời tiết các năm ấy hạn

    hán bị mất mùa, thu hoạch ngũ cốc chưa đủ sống, nhưng bọn sai nha thâu thuế

    lấy xâu không nương tay, chỉ muốn thu tiền cho đầy túi dâng cho bọn thực dân

    hưởng thụ, bắt dân phu đi làm đường đào mỏ..

    sống chết mặc bay. Người dân Quảng Nam không chịu đựng cảnh người bóc lột người của thời nô lệ, từ đó họ đã biến đau thương thành hành động

    Tháng giêng cho chí tháng hai

    Con dân áo rách quần xài đi ra

    Mười lăm cho đến ông già

    Cơm đùm, ruột tượng, xuống tòa lãnh ban

    Làm đơn kêu gọi các làng xin xâu

    ***

    Kể từ cầu Ông Bộ kể ra

    Cây Trâm, Trà Lý, bước qua Bàu Bàu

    Tam Kỳ, chợ Vạn bao lâu,

    Ngó qua đường cái, thấy lầu ông tây

    Chiên Ðàn, Chợ mới là đây,

    Kế Xuyên mua bán, đông tây rộn ràng

    Hàlam gần sát Phù Ðàng,

    Phía ngoài bãi cát, Hương an nằm dài,

    Cầu cho gái sắc, trai tài.

    Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng

    Thực dân Pháp và tay sai đàn áp các cuộc biểu tình xin xâu kháng thuế, nhiều người bị kết án tử hình, trong đó Ông ích Ðường cháu nội Ông ích Kiêm bị bắt tử hình ở Túy loan. Ông trùm Thuyết bị chém vì hô những tiếng lớn lên án Trần Tuệ chuyên ăn hối lộ làm cho đề đốc Trần Tuệ là tay sai đắc lực với Pháp sợ qúa hộc máu mà chết .

    Tiếng hô uất hận của dân tộc lầm than, đói khổ bị đè nén lâu ngày,tiếng hét được mọi người hưởng ứng để đánh đổ bạo quyền và tay sai. Nên ca dao và vè đấu tranh lưu truyền mãi mãi.

    Cậu Ðường mười tám tuổi đầu

    Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa

    Bắt anh trùm Thuyết dẫn ra,

    Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về

    Chém anh trùm Thuyết gớm ghê

    Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa

    Các Phong trào chống thực dân dù bị đánh dẹp, không tránh khỏi cảnh bất công trả thù gông xuyền tù đày bắt bớ, chém đầu, máu của dân tộc Việt Nam đổ ra khá nhiều, nói riêng tại Quảng Nam Phong trào trên làm cho chính sách của bọn thực dân phải chùn bước. Phan Châu Trinh (1872 -1925) Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Nguyễn Thành (1863-191 đều bị bắt cùng nhiều người khác đày ra Côn đảo. Trần Quý Cáp(1870-1908)

    Ca dao mang chúng ta trở về nơi xa mù quá khứ, hoài nhớ lại kỷ niệm của tuổi thơ được nghe tiếng hát mẹ hiền..Kỷ niệm như đang len lỏi vào hồn, như khởi dậy nỗi niềm xa xứ , nhắc nhở chúng ta đừng quên cội nguồn. đừng quên bổn phận với Quê hương bên kia bờ Ðại dương

                                                                          

    Nguyễn Quý Ðại

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Giáo Việt Nam Qua Phong Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao, Đồng Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Vn Mang Màu Sắc Phật Giáo
  • Ca Dao Miền Biển Phú Yên
  • Văn Nghệ (Bậc Hướng Thiện): Ca Dao, Tục Ngữ Về Hiếu Nghĩa, Đạo Pháp, Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Tư Tưởng Phật Giáo Trong Ca Dao Việt Nam
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
    Nội dung
    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Phân loại

    Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa đứt cương

    Ba vương ngũ đế

    Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Đem về trồng bí trồng bầu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi

    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

    Khi đi nhớ cậu cùng cô

    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

    Trên đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình.

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Tục ngữ Việt Nam

    Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

    Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

    Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

    Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Thành Ngữ Việt Nam Và Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Hóa Học Của Ca Dao Tục Ngữ
  • Hơn 999+ Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Và Cuộc Sống Hài Cười Vỡ Bụng
  • Bài Thơ_Tổng Hợp Thơ, Ca Dao Tục Ngữ Chế Cực Hài
  • ? Stt Người Lính, Cap Hay Về Bộ Đội, Quân Sự Chất
  • CA DAO VIỆT-NAM

    Nói đến ca dao là nói đến niềm tự hào của dân tộc mình. Ca dao là văn chương dân gian dã dạng trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến ngày nay. Ít có người biết đến được chính xác các tác giả, dù vậy ca dao đã là vũ khí chống lại những xăm nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Ca dao Việt là thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Những câu ca dao tục ngữ, lời hò, hát dặm, bài vè thường đề cặp đến nhiều khía cạnh khác nhau như xả hội, gia đình, tính ngưỡng, tình yêu, thiên nhiên .v..v . . . Ca dao Việt là một kho tàng vô giá, làm giàu thêm tiếng Mẹ Đẻ, chúng ta nên cố gắng và trang trọng gìn giữ.

    Là một người phụ nữ Việt , tôi luôn cố gắng để làm trọn bốn đức tính ‘Công Dung Ngôn Hạnh’ của một người con gái Việt Bởi vậy, tôi đã xem việc nội trợ rất cần thiết, tôi rất ưa thích học hỏi nấu nướng những món ăn, thực đơn lạ. Ca dao Việt đã chứa đựng rất nhiều thú vị trong việc nội trợ qua các thực đơn mỗi miền.

    Bắt đầu từ miền Bắc, tha thiết với món thịt nấu đông cho ba ngày Tết, cũng như những món ăn mà ca dao diễn tả như sau:

    Và rồi mỗi vùng đều có các món riêng cố hữu:

    Tôi biết chắc rằng kho tàng ca dao Việt rất bao la cũng như các món ăn, làm sao kể cho hết . . . thôi thì ăn ít mình sẽ thèm muốn thêm hoài hoài vậy. .

    Bước vào miền Trung cổ kính, ca dao Việt sẽ giúp chúng ta thưởng thức những món ăn của xứ Cố Đô:

    Những ân tình hình như bị bỏ quên mỗi khi nhắc đến món rượu dâu rừng có vị chua chua, ngọt ngọt của miền Trung. Biết bao chàng trai đắm say men rượu thay men tình:

    Xứ Huế, đất Đế Đô, đất Thần Kinh không làm sao bỏ quên những câu ca dao bất hủ của các món như:

    Các món ăn theo ca dao cùng nhau vượt núi, vượt đèo Hải Vân:

    Ca dao ngọt ngào hương vị khi về tới xứ Quảng, Qui Nhơn:

    Ca dao qua các món sơn hào, hải vị khi bước vào Khánh Hòa:

    Ca dao không những qua thực đơn mà còn có những điệu hò ru con của các bà mẹ:

    Ca dao còn giúp những món rau cải được tăng thêm sư thèm muốn cho người dùng:

    Cũng như các ông thường thèm chút rượu đi đôi với:

    Món cá kho tiêu của miền mà tôi học được, rất bình dân cũng lại là món mà tôi thích nhất. Cứ mỗi lần nấu món này, tôi vẫn thường sợ hàng xóm ngửi mùi. (cái mùi rất đặc biệt đối với dân Việt mình nhưng không mấy thân thiện cho người Mỹ!!):

    Sự dồi dào, phong phú của ca dao Việt các thực đơn đã giúp cho việc nội trợ của tôi thêm phần thích thú mỗi khi vô bếp. Hy vọng rằng đã đem lại chút ít hứng thú cho người đọc và mong được bạn đọc chia xẻ những gì thiếu sót, cũng như ca dao Việt qua những khía cạnh khác như đời sống, gia đình, tình yêu, thiên nhiên v… v

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Hội Truyền Thống Qua Ca Dao Hà Nội
  • Ca Dao Mùa Xuân Qua Những Miền Lễ Hội
  • Những Vần Thơ Ca Ngợi Đảng
  • Giới Thiệu Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam
  • Ca Dao,tục Ngữ Về Quảng Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè
  • 77 Bài Hát (Ca Dao) Ru Con, Ru Bé Ngủ Rất Hay
  • Người Tày Giáo Dục Con Cháu Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Giáo Dục Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thay Đổi, Cố Gắng, Nỗ Lực, Quyết Tâm, Rèn Luyện Thân Thể
  • CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

    1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công,

    Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Câu Tục Ngữ Và Thành Ngữ Việt Nam Hay Nhất
  • Cao Dao Quảng Ninh: Đậm Nét Trữ Tình Văn Hoá Dân Gian
  • Phương Ngôn, Thành Ngữ, Tục Ngữ Quảng Ninh
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Quảng Ninh
  • Top Những Câu Tục Ngữ Ca Dao Về Quê Hương Đất Nước Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu
  • Cùng Lắng Nghe Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Và Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Những Stt Hay Khi Đăng Ảnh Câu Like Được Yêu Thích 2022
  • Khái Quát Chung Về Định Danh Ngôn Ngữ
  • LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

    Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

    Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

    Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

    Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

    Chữ tác đánh chữ tộ

    Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

    Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

    Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

    “Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

    Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

    Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

    “Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

    Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

    Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

    Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

    Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

    Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

    Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

    Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

    “Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

    Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

    Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

    Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

    Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

    Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

    Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

    Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

    Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

    Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

    Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

    Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

    Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

    Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

    Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

    Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

    Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

    Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

    Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

    Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

    Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

    Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

    Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

    Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

    Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

    Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

    Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

    Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

    Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

    Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

    Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

    Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

    Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

    Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

    Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

    “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

    “Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

    “Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

    “Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

    “Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

    “Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

    “Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

    “Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

    “Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ , ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

    Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

    “Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

    “Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

    Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

    Râu ông nọ cắm cằm bà kia

    Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

    Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

    Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

    Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

    Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

    Chẻ một câu tục ngữ làm hai

    Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

    Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

    – Muốn sang thì bắc cầu kiều,

    – Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

    – Một cây làm chẳng nên non,

    – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

    – Người khôn con mắt đen sì,

    – Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

    – Nói lời thì giữ lấy lời,

    – Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

    – Vàng thì thử lửa thử than,

    – Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

    – Thứ nhất thì tu tại gia,

    – Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

    – Khúc sông bên lở bên bồi,

    – Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

    – Sự đời nghĩ cũng nực cười,

    – Ai ơi đã quyết thì hành.

    – Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

    Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

    Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

    Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

    Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

    Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

    Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

    Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

    Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

    Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

    Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

    Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

    Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Đầy Phong Phú Và Sinh Động
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Cách Ứng Xử, Giao Tiếp, Kinh Nghiệp Số
  • Những Dòng Stt Tâm Trạng Buồn Chán, Cô Đơn
  • 99 + Stt Hay Về Tình Bạn Thân Đầy Up Những Ý Nghĩa Về Tình Bạn Đẹp
  • Tải Bài Hát Dòng Status Buồn
  • Ca Dao Việt Nam Về Tình Yêu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Về Mẹ Hay ❤️ Những Câu Tục Ngữ Về Mẹ Ý Nghĩa
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất Về Mẹ
  • 775 Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Việt Nam Quý Giá Dạy Bạn Điều Hay, Lẽ Phải Trong Cuộc Sống
  • Ca Dao Thả Thính Chế Bằng Thơ Hài ❤️ 1001 Câu Tục Ngữ
  • Tục Ngữ Ca Dao Chế, Vui
  • Để cho con sáo sổ lồng nó bay.
      Bắc thang lên hỏi trăng già,
    Phải chăng phận gái mưa sa giữa trời.

    May ra gặp được giếng khơi
    Vừa trong vừa mát lại nơi thanh nhàn.

    Chẳng may số phận gian nan,
    Lầm than phải chịu phàn nàn cùng ai
      Bước xuống ruộng sâu lỡ sầu tấc dạ,
    Tay ôm bó mạ nước mắt hai hàng.

    Ai làm lỡ chuyến đò ngang,
    Cho sông cạn nước hai hàng biệt ly.
    Cất tiếng than hai hàng lụy nhỏ,
    Anh nói thương em rồi lại bỏ em đây.
      Bao giờ cây chuối có cành,
    cho sung có nụ, cho hành có hoa.

    Bao giờ chạch đẻ ngọn đa,
    Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.

    Bao giờ cây cải làm đình,
    Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
      Bắc thang lên đến tận trời,
    Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay

    Em về giục mẹ cùng thầy,
    Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong?

    Cổ yếm em thõng thòng thòng,
    Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

    Em khoe em đẹp em giòn,
    Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

    Chữ được viết xuống dưới== D – Đ ==

    Nhớ chàng quân tử thở than mấy lời.

    Mong chàng chẳng thấy chàng ôi,
    Thiếp tôi trằn trọc vội rời chân ra.

    Nhác trông lên đã xế tà
    Đêm khuya khoắt con gà gáy sang canh.

    Mong anh mà chẳng thấy anh,
    Thiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn.
    Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.
    Như chuông mới đúc, như chùa mới xây.
    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
    Nước chảy mặc nước, ta dìu lấy nhau.
    Cách bờ ở giữa làm sao cho liền?
    Đồng sấp, đồng ngửa, đồng nghiêng, đồng nằm.
    Khi xa ngàn dặm, khi gần bên đôi.
    Đang say ngây ngất, ai dèm chớ xa.
    Trông cho mau sáng ra đường gặp em.
    Người thương có nghĩa trăm năm cũng về.
    Anh đi qua cửa em nằm không yên.

    Mê anh chẳng phải mê tiền,
    Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng.

    Thấy anh em những mơ màng,
    Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.

    Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,
    Ai ngờ anh đã vội dời gót loan.

    Thiếp tôi mê mẩn canh tàn,
    Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên.

    Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên,
    Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày.

    Nghĩ rằng duyên nợ từ đây,
    Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào.

    Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao!
      Hôm qua tát nước đầu đình,
    Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.

    Em được thì cho anh xin,
    Hay là em để làm tin trong nhà.

    Áo anh sứt chỉ đường tà,
    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

    Áo anh sứt chỉ đã lâu,
    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

    Khâu rồi anh sẽ trả công,
    Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho.

    Giúp em một thúng xôi vò,
    Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

    Giúp em đôi chiếu em nằm,
    Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo.

    Giúp em quan tám tiền cheo,
    Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Ba thương má lúm đồng tiền,
    Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.

    Năm thương cổ yếm đeo bùa,
    Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.

    Bảy thương nết ở khôn ngoan,
    Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.

    Chín thương cô ở một mình,
    Mười thương con mắt có tình với ai.
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

    Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
    Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.

    Ba đồng một mớ trầu cay,
    Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không.

    Bây giờ em đã có chồng,
    Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
    Chim vào lồng biết thuở nào ra.
    Tình em như chiếc lá khoai
    Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Bạn Hay Nhất ❤️ 1001 Câu Ý Nghĩa
  • Thành Ngữ Về Cha Mẹ Hay ❤️sự Hiếu Thảo, Dạy Dỗ Con Cái
  • Những Câu Ca Dao Về Cha Mẹ, Tục Ngữ Về Cha Mẹ
  • 67 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Mẹ Cha Thức Tỉnh Đạo Làm Con Trong Mỗi Chúng Ta
  • Tổng Hợp Những Câu Trích Dẫn Hay Trong Tiểu Thuyết Và Phim (Phần 1)
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

    Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

    Lệ Như Thích Trung Hậu

    ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

    Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

    Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

    Phật lịch 2545

    Tân Tỵ 2001

    Gs. Cao Huy Thuần.

    (Paris)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100