Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • Tổng Hợp Tục Ngữ, Thành Ngữ Tiếng Nhật Đặc Biệt Nhất
  • Tổng Hợp 101 Câu Thành Ngữ Tiếng Nhật Hay Thông Dụng Trong Cuộc Sống
  • Giao Tiếp Thành Thần Nhờ 26 Câu Thành Ngữ Tiếng Anh Thông Dụng
  • Ca dao tục ngữ về quê hương, đất nước

    Cho em xin một số câu Ca dao tục ngữ về quê hương, đất nước được không ạ.

    2. Đền Sòng linh nhất xứ Thanh

    Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây.

    3. Đồn rằng kẻ Lạng vui thay

    Đi ba bốn ngày đã kể lắm công

    Bên dưới có sông bên trên có chợ

    Anh lấy em về làm vợ nên chăng?

    4. Đường lên Xứ Lạng bao xa,

    Cách một trái núi với ba quãng đồng

    Ai ơi đứng mà lại trông,

    Kìa núi thành Lạng kìa sông Tam Cờ

    5.Sông Thao nước đục người đen

    Ai lên phố Ẻn cũng quên đường về

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba bể có nàng áo xanh

    Xứ Nam nhất chợ Bằng Vồi

    Xứ Bắc: Vân Khám, xứ Đoài: Hương Canh

    Dù ai xấu xí như ma

    Tắm nước Đồng Lãm cũng ra con người

    Nhất cao là núi Tản Viên

    Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vừng

    Ớt cay là ớt Định Công

    Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang

    chúng tôi mươi sáu phố phường hà nội

    Rủ nhau chơi khắp Long thành,

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:

    Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

    Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,

    Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,

    Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,

    Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,

    Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,

    Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,

    Hàng Hòm,hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,

    Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,

    Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,

    Quanh đi đến phố hàng Da,

    Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.

    Phồn hoa thứ nhất Long Thành,

    Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.

    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

    Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

    Mặc lụa chợ Hạ , uống chè hương sen.

    Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng.

    Thanh Trì cảnh đẹp người đông.

    Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh

    Đường lên xứ Lạng bao xa ?

    Cách một trái núi với ba quãng đồng.

    Ai ơi , đứng lại mà trông.

    Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ.

    Quảng Nam có núi Ngũ Hành.

    Có sông chợ Củi, có thành Đồng Dương.

    Bình Định có núi Vọng Phu.

    Có đầm Thị Nại , có cù lao xanh.

    Em về Bình Định cùng anh.

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương.

    Cổ Loa hình ốc khác thường.

    Trãi qua năm tháng , nẻo đường còn đây

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh.

    Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm.

    Thuyền ngược hay là thuyền xuôi

    Thuyền về Nam Định cho tôi về nhờ

    Con gái chỉ nói ỡm ờ

    Thuyền anh chật chội còn nhờ làm sao!

    Miệng anh nói, tay anh bẻ lái vào

    Rửa chân cho sạch bước vào trong khoang

    Thuyền dọc anh trải chiếu ngang

    Anh thì nằm giữa hai nàng nằm bên

    Em là con gái Phù Long

    Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu

    Dù đi buôn đâu bán đâu

    Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm

    Nước sông tô vừa trong vừa mát

    Anh ghé thuyền anh cho sát thuyền em

    Dừng chèo muốn ngỏ đôi tình

    Sông bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

    TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG XỨ LẠNG

    1. Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

    Ai lên Xứ Lạng cùng anh

    Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.

    Tay cầm bầu ruợu nắm nem

    Mải vui quên hết lời em dặn dò

    2. Đền Sòng linh nhất xứ Thanh

    Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây.

    3. Đồn rằng kẻ Lạng vui thay

    Đi ba bốn ngày đã kể lắm công

    Bên dưới có sông bên trên có chợ

    Anh lấy em về làm vợ nên chăng?

    4. Đường lên Xứ Lạng bao xa,

    Cách một trái núi với ba quãng đồng

    Ai ơi đứng mà lại trông,

    Kìa núi thành Lạng kìa sông Tam Cờ

    Mảnh đất Tiền Giang:

    An Bình đất mẹ cù lao,

    Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long.

    Khách về nhớ mãi trong lòng,

    Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang’

    Quảng Nam quê ta:

    Quảng Nam có lụa Phú Bông

    Có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn

    Quảng Nam nổi tiếng boòng boong

    Chà viên Bình định vừa ngon vừa lành

    Chín muồi da vẫn còn xanh

    Mùi thơm cơm nếp vị thanh đường phèn

    Em là con gái Phù Long

    Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu

    Dù đi buôn đâu bán đâu

    Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm

    Các câu ca dao, tục ngữ về quê hương, đất nước

    Thuyền ngược hay là thuyền xuôi

    Thuyền về Nam Định cho tôi về nhờ

    Con gái chỉ nói ỡm ờ

    Thuyền anh chật chội còn nhờ làm sao!

    Miệng anh nói, tay anh bẻ lái vào

    Rửa chân cho sạch bước vào trong khoang

    Thuyền dọc anh trải chiếu ngang

    Anh thì nằm giữa hai nàng nằm bên

    Nước sông tô vừa trong vừa mát

    Anh ghé thuyền anh cho sát thuyền em

    Dừng chèo muốn ngỏ đôi tình

    Sông bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

    TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG XỨ LẠNG

    1. Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

    Ai lên Xứ Lạng cùng anh

    Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.

    Tay cầm bầu ruợu nắm nem

    Mải vui quên hết lời em dặn dò

    2. Đền Sòng linh nhất xứ Thanh

    Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây.

    3. Đồn rằng kẻ Lạng vui thay

    Đi ba bốn ngày đã kể lắm công

    Bên dưới có sông bên trên có chợ

    Anh lấy em về làm vợ nên chăng?

    4. Đường lên Xứ Lạng bao xa,

    Cách một trái núi với ba quãng đồng

    Ai ơi đứng mà lại trông,

    Kìa núi thành Lạng kìa sông Tam Cờ

    An Bình đất mẹ cù lao,

    Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long.

    Khách về nhớ mãi trong lòng,

    Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang’

    Quảng Nam quê ta:

    Quảng Nam có lụa Phú Bông

    Có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn

    Quảng Nam nổi tiếng boòng boong

    Chà viên Bình định vừa ngon vừa lành

    Chín muồi da vẫn còn xanh

    Mùi thơm cơm nếp vị thanh đường phèn

    Xứ Huế mộng mơ

    “Núi Ngự Bình trước tròn sau méo

    Sông An Cựu nắng đục mưa trong

    Dẫu ai ăn ở hai lòng

    Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng”

    Hãy Cùng pety xây dựng box Vật Lý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
    Nội dung
    Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
    Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
    Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Phân loại

    Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    Chi chi chành chành

    Cái đanh thổi lửa

    Con ngựa đứt cương

    Ba vương ngũ đế

    Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Đem về trồng bí trồng bầu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.

    Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    Dập dìu cánh hạc chơi vơi

    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

    Khi đi nhớ cậu cùng cô

    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường

    Ca dao trào phúng, bông đùa

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm nằm thì ngáy o o

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

    Trên đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

    Ca dao trữ tình.

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

    Tục ngữ Việt Nam

    Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

    Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

    Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

    Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.

    Đầu tiên là các bản ghi chép tục ngữ bằng chữ Nôm vào thế kỷ 19 như Nam phong ngữ ngạn thi của Đình Thái, Đại Nam Quốc Túy của Ngô Giáp Đậu…

    Bản ghi tục ngữ bằng chữ quốc ngữ có Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (1897), Tục ngữ cách ngôn của Hàn Thái Dương (1920)…

    Một số bản sưu tập, chú thích nghĩa và dịch tục ngữ Việt Nam sang tiếng Pháp như Tục ngữ An Nam dịch sang tiếng Tây của V. Barbier (Triệu Hoàng Hòa), Đông Tây ngạn ngữ cách ngôn của H. Délétie và Nguyễn Xán (1931)…

    Một số bản khác như Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc (1942), [Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa]] của Minh Hiệu sưu tầm (1970), Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương sưu tầm và biên soạn (1971), Tục ngữ Thái (1978), Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (1956), Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Chi (1975)…

    (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Duyên Nợ Và Lời Phật Dạy Trong Tình Yêu
  • Cùng Lắng Nghe Lời Phật Dạy Về Duyên Nợ Và Tình Yêu Đáng Suy Ngẫm
  • Những Stt Hay Khi Đăng Ảnh Câu Like Được Yêu Thích 2022
  • Khái Quát Chung Về Định Danh Ngôn Ngữ
  • LTS: Chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách Ca dao tục ngữ Việt Nam do Phương Thu sưu tầm và biên soạn được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2004, tác giả Trần Sơn đã có bài viết chia sẻ.

    Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Ở bài viết này, người viết xin được chỉ ra các sai sót chủ yếu trong phần Tục ngữ của cuốn sách.

    Trong phần này, do sơ suất từ khâu biên soạn, biên tập và in ấn đã có hàng chục câu tục ngữ sai với các kiểu sai khác nhau đã làm cho các câu tục ngữ này bị biến dạng, nhiều khi rất vô nghĩa và hài hước.

    Nhầm thơ trong Truyện Kiều thành tục ngữ

    Có một số câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà soạn giả Phương Thu lại nhầm thành tục ngữ.

    Đó là câu “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” (trang 40), đây vốn là câu thứ 3095 trong Truyện Kiều; còn câu “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” (trang 86) là câu thứ 1306 của Truyện Kiều.

    Chữ tác đánh chữ tộ

    Tất nhiên mỗi câu tục ngữ cũng như các thể loại văn học dân gian khác có thể có nhiều dị bản, nhưng trong cuốn sách này rất nhiều câu tục ngữ bị viết sai chứ đó không phải là các dị bản của câu tục ngữ đó.

    Đây là kiểu sai sót phổ biến trong cuốn sách này, không biết là do khâu biên soạn, biên tập hay lỗi đánh máy mà rất nhiều câu trong đó chữ “tác” đánh chữ “tộ” làm cho nhiều câu tục ngữ bị sai nghĩa, thậm chí vô nghĩa.

    Câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền” bị biến thành câu “Ăn lấy chắc, mặc lấy tiền” (trang 4).

    “Mặc lấy bền” mới có ý nghĩa và tương thích với vế trước của nó là “Ăn lấy chắc”, chứ “mặc lấy tiền” thì có ý nghĩa gì?

    Câu “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng húp” được những người làm sách chép thành “Xấu mặt xin tương, cả phường cùng úp” (trang 6). Xin tương là để cùng húp chứ xin tương để cùng úp thì có nghĩa gì?

    Câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp” bị biến thành “Giàu chủ kho, no nhà bếp” (trang 7).

    “Chủ kho” thì giàu là tất nhiên rồi, sao cần phải nói nữa; thực ra, từ đúng trong câu tục ngữ này phải là “thủ kho” (người giữ kho). Đây chắc nhìn chữ nọ sọ chữ kia nên hóa sai.

    Câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” được cuốn sách viết thành “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ” (trang 15) đã làm cho câu tục ngũ bị sai nghĩa hoàn toàn vì “tay quay” cũng có nghĩa là “tay làm” (quay có nghĩa là hoạt động).

    Vậy “tay làm” mà “miệng trễ” thì mâu thuẫn quá, không hợp với lôgíc trong câu tục ngữ này.

    Câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan” bị biến thành câu “Ăn cơm lừa thóc, ăn cỏ bỏ gan” (trang 20).

    Cỏ làm sao có ganmà bỏ? Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là quá xem thường độc giả.

    Câu “Ghen vợ, ghen chồng chẳng nồng bằng ghen ăn” được soạn giả chép thành “Ghen vợ, ghen tuồng không nồng bằng miếng ăn” (trang 20).

    Đang nói về “ghen vợ” sao không ghép với “ghen chồng” lại ghép “ghen tuồng”? Đây cũng là kiểu chép nhầm “tác” thành “tộ”.

    Câu “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống” được cuốn sách viết thành “Tiền vào nhà khó như gió từ nhà trống”.

    “Từ” với “vào” nghĩa khác nhau, vế trước dùng từ “vào” thì vế sau cũng phải dùng từ “vào” mới hợp lôgíc và cấu trúc của câu tục ngữ này.

    Câu “Của chẳng ngon, nhà đông con cũng hết” bị viết sai thành câu “Của chẳng ngon, nhà nhiều con chẳng hết” (trang 42).

    Nghĩa của câu tục ngữ sai này rất không ổn vì nó phi lôgic. Câu tục ngữ này nghĩa hai vế là đối lập nhau, “của chẳng ngon” nhưng “nhà đông con cũng hết” mới hợp lý chứ “của chẳng ngon” nhưng “nhà nhiều con chẳng hết” thì chẳng có ý nghĩa gì.

    Câu “Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con” bị viết sai thành “Hùm chẳng ăn thịt con” (trang 43).

    Đọc câu tục ngữ sai này nghe như là đang nói về một loài thực vật nào đó chứ không phải nói về con vật.

    Trang 46 có câu “Áo năng may năng nói, người năng tới năng thân”. Áo mà lại biết nói ư? Hay là tác giả đã nhân hóa?

    Hóa ra là lỗi nhầm từ do trông gà hóa cuốc, từ “mới” lại đánh thành từ “nói”, vì câu tục ngữ đó đúng phải là “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân”.

    Vẫn ở trang này, lại có câu “Thua trời một bạn, không bằng thua bạn một ly”. Đọc lên thấy rất lạ, từ xưa nay lấy “bạn” làm đơn vị số lượng để so sánh bao giờ và “bạn” thì làm sao đối được với “ly”.

    Hóa ra, cụm từ “một vạn” được những người làm sách đánh nhầm thành “một bạn”.

    Thực ra câu tục ngữ này còn có một dị bản nữa là “Thua thầy một vạn, không bằng thua bạn một ly”.

    Trang 48 có 2 câu tục ngữ được viết sai: “Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng ” và “Mồng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu”. Thì ra, chữ “tác” đánh chữ “tộ” nên “Bân” viết thành “Bần” , “vào” viết thành “vàng”.

    Trang 49 của cuốn sách lại có câu tục ngữ rất lạ “Sao thì , sao thì ” mặc dù ngay dưới câu này là câu “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”.

    Vậy là hai câu tục ngữ này “cãi nhau”: một câu nói xuôi, một câu nói ngược. Thực ra, chỉ có câu sau là đúng, câu trước là sai. Đây là lỗi của soạn giả và cả người biên tập.

    Trang 55 có câu “Làm tùy phủ, ngủ tùy chồng”. Đang nói về nơi chốn sao lại nói người, “phủ” thì phải đi với “nhà” chứ, sao lại đi với “chồng”.

    Thực ra, câu tục ngữ đúng là “Ăn tùy chủ, ngủ tùy chồng”. Hóa ra, do nghe từ được, từ mất mà những người làm sách đã nhầm “chủ” thành “phủ”.

    Thực ra, chỉ có câu tục ngữ “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, vì chỉ có “quai” đi với “giỏ” mới hợp.

    Và, có như vậy mới đảm bảo ý nghĩa và vần của câu tục ngữ chứ không có câu tục ngữ sai như sách đã viết.

    Trang 60 có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi”.

    Trẻ mới có chín tháng thì làm sao mà “chạy đi” được, mà mới “lò dò” thì làm sao mà “chạy đi” được?

    Đây là lỗi kiến thức của soạn giả. Thực ra, phải thay “chạy đi” bằng “biết đi” mới đúng.

    Trang 63 có câu “Để đau chạy thuốc, chẳng tành giải trước thì hơn”. Đọc câu này, độc giả chẳng hiểu “chẳng tành” có nghĩa là gì.

    Hóa ra, những người làm sách nhầm chữ nọ sang chữ kia, “chẳng thà” hóa “chẳng tành”. Đúng là một kiểu làm sách quá ẩu!

    Trang 56 cũng có lỗi tương tự khi sách viết nhầm “hỏng” thành “lỏng” trong câu “Kén quá hóa lỏng“. Đọc câu tục ngữ sai này độc giả không hiểu vì sao “kén quá” lại “hóa lỏng”.

    Câu tục ngữ “Gieo gió gặt bão” bị viết sai thành “gieo gió gặp bão” (trang 113). Đây là câu tục ngữ chỉ quan hệ nhân quả nên “gieo” phải đi với “gặt” mới phù hợp, chứ không thể đi với “gặp”.

    Trang 115 có cuốn sách có câu tục ngữ rất buồn cười ” ăn thì no, co thì ấm”.

    Phải chăng những người làm sách này hiểu câu tục ngữ trên là “kéo nhau đi ăn thì sẽ no và mùa rét năng kéo co thì sẽ ấm”?

    Thực ra, đây là câu tục ngữ rất quen thuộc “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”.

    Làm sách tục ngữ kiểu này đúng là làm hỏng ngôn ngữ, tục ngữ thành “ngữ tục”!

    Câu “Con bò cạp có nọc đằng đuôi” bị chép sai thành “Con bò cọp có nọc ở đuôi” (trang 25).

    Bò là bò, cọp là cọp làm gì có con bò cọp. Hóa ra là lỗi biên tập, lỗi đánh máy ẩu nên “con bò cạp” thành “con bò cọp”.

    Tương tự như trên câu “Trưởng giả còn thiếu trã nấu ăn” bị viết sai thành ” giả còn thiếu nấu ăn”.

    Vì lỗi đánh máy, lỗi chính tả mà câu tục ngữ này thật tối nghĩa, không hiểu nổi.

    Trong phần Tục ngữ, lỗi đánh máy chữ nọ sọ chữ kia, sai chính tả trong cuốn sách còn xuất hiện ở rất nhiều câu tục ngữ nữa như:

    Câu “Vắng trăng có sao, vắng đào có lý” thành “Vầng trăng có sao, vắng đào có lý” (trang 39);

    Câu “Ở góa ba năm lấy chồng buồn ngủ” thành “Ở hóa ba năm lấy chồng buồn ngủ” (trang 37);

    “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” thành “Một tiếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp” (trang 34);

    “Lẽ” thành “lẻ” trong câu “Gái phải làm lẻ thà rằng chết trẻ còn hơn” (trang 35);

    “Nhỡ” thành “nhở” trong câu “Đừng tham da trắng tóc dài, đến khi nhở bữa chẳng mài mà ăn” (trang 35);

    “Mặt” thành “mặc” trong câu “Đánh chuông ra mặc, đánh giặc ra tay” (trang 33);

    “Lắt léo” thành “lắc léo” trong câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo” (trang 32);

    “Đau” thành “đâu” trong câu “Miếng ngon nhớ lâu, lời đâu nhớ đời”;

    “Phường” thành “phương” trong câu “Buôn có bạn, bán có phương” (trang 18);

    “Trỏ: thành “trò” trong câu “Cho nhau vàng, không bằng trò đàng đi buôn” (trang 18);

    “Xơ” thành “sơ” trong câu “Ăn mít bỏ , ăn cá bỏ lờ” (trang 10).

    Ngoài ra, còn rất nhiều câu khác trong phần Tục ngữ cũng bị in sai như:

    “Hết cơn cực, đến hồi thái lai” (trang 116); “Tắt đèn, ngói cũng như nhà tranh” (trang 116); “Non cao ai đắp mà ” (trang 113); “Con giun lắm cũng ” (trang 109); “Văn , vợ người” (trang 109); “Đi một ngày đàng, học một khôn” (trang 106);

    “Những người mắt nhọ nhem, bởi chưng kiếp trước đĩa đèn không lau” (trang 94); “Đất cứng trồng cây ngả ” (trang 74); “Nhất chơi tiền, nhì tiền” (trang 64); “Ba năm ở với người /Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn” (trang 105).

    Phải chăng vì cuốn sách này không có người sửa bản in (không thấy đề ở cuối sách) nên sách này có rất nhiều lỗi đánh máy và người đánh máy lại là một người nghiệp dư và làm ẩu?

    Râu ông nọ cắm cằm bà kia

    Đây là kiểu sai sót mà soạn giả lấy nửa câu tục ngữ nọ ghép mới nửa câu tục ngữ kia để làm ra câu mới một cách khiên cưỡng, không hợp cả về vần và về nghĩa.

    Câu ” Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại biết đâu mà dò ” (trang 71) lấy phần đầu của câu “Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 72) và phần cuối của câu “Người khôn rào trước đón sau, để cho người dại nửa mừng nửa lo” (trang 71) rồi ghép một cách cơ học lại với nhau.

    Câu “Mực mài tròn, mài son đánh giặc” (trang 24) cũng được lắp ghép theo cách tương tự như trên.

    Phần đầu “Mực mài tròn” lấy ở câu “Mực mài tròn, son mài dài”; phần sau “mài son đánh giặc” lấy ở câu “Mài mực ru con, mài son đánh giặc”.

    Đây đúng là cách sáng tác tục ngữ theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” điển hình của soạn giả.

    Chẻ một câu tục ngữ làm hai

    Đây có lẽ là lỗi trình bày. Một câu tục ngữ dạng thơ lục bát được trình bày thành 2 dòng nhưng đầu mỗi dòng đều có dấu gạch ngang nên người đọc nhầm tưởng là 2 câu tục ngữ.

    Có hàng chục câu tục ngữ mắc lỗi như vậy kéo dài suốt từ trang 105 đến trang 115.

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người (trang 105).

    – Muốn sang thì bắc cầu kiều,

    – Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy (trang 106).

    – Một cây làm chẳng nên non,

    – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao (trang 107).

    – Người khôn con mắt đen sì,

    – Người dại con mắt nửa chì nửa thau (trang 108).

    – Nói lời thì giữ lấy lời,

    – Đừng như con bướm đầu rồi lại bay (trang 109).

    – Vàng thì thử lửa thử than,

    – Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời (trang 110).

    – Thứ nhất thì tu tại gia,

    – Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa (trang 112).

    – Khúc sông bên lở bên bồi,

    – Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm (trang 113).

    – Sự đời nghĩ cũng nực cười,

    – Ai ơi đã quyết thì hành.

    – Đã đan thì lận tròn vành mới thôi (trang 115).

    Nhầm thành ngữ, tục ngữ thành ca dao

    Trong phần cuối của cuốn sách (phần Ca dao), trong mục 14. Ca dao đối với giai cấp phong kiến, soạn giả đã đưa hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ vào mục này.

    Vậy là soạn giả không phân biệt rõ được đâu là ca dao, đâu là tục ngữ, thành ngữ.

    Đầu tắt, mặt tối; Thắt lưng, buộc bụng; Cái khó bó cái khôn; Tham buổi giỗ, lỗ buổi cày; Một năm làm nhà, ba năm hết gạo; Ruộng sâu, trâu nái; Hết nạc vạc đến xương;

    Giàu bán chó, khó bán con; Bút sa, gà chết; Miệng quan, trôn trẻ; Được làm vua, thua làm giặc; Nén bạc đâm toạc tờ giấy; Khó giữ đầu, giàu giữ của ;…

    Cuốn sách ca dao tục ngữ Việt Nam có nhiều sai sót này, năm 2010, lại được Nhà xuất bản Thời Đại liên kết với Nhà sách Minh Thắng xuất bản vẫn giữ nguyên mẫu bìa cả trước, cả sau.

    Tuy nhiên, trong cuốn sách mới này vẫn còn hàng câu tục ngữ sai vẫn chưa được sửa chữa như:

    Ăn cơm lừa thóc, ăn bỏ gan; Ở ba năm, lấy chồng buồn ngủ; Giàu kho, no nhà bếp; Mực mài tròn, mài son đánh giặc; Làm tùy , ngủ tùy chồng;

    Áo năng may năng , người năng tới năng thân; Ghen vợ, ghen không nồng bằng miếng ăn; Đánh chuông ra , đánh giặc ra tay; Kén quá hóa ; Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò đi; Để đau chạy thuốc, chẳng giải trước thì hơn…

    Hiện nay trên mạng, một số nhà sách và Facebook vẫn đang rao bán cuốn sách này.

    Để góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đề nghị các cơ quan chức năng cho kiểm tra và có biện pháp xử lí thích hợp với các đơn vị xuất bản và phát hành.

    Đặc biệt là độc giả cần lựa chọn những cuốn sách được làm một cách nghiêm túc, được ấn hành bởi các nhà xuất bản uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Quyển Sách Hay Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Đầy Phong Phú Và Sinh Động
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống, Cách Ứng Xử, Giao Tiếp, Kinh Nghiệp Số
  • Những Dòng Stt Tâm Trạng Buồn Chán, Cô Đơn
  • 99 + Stt Hay Về Tình Bạn Thân Đầy Up Những Ý Nghĩa Về Tình Bạn Đẹp
  • Tải Bài Hát Dòng Status Buồn
  • Nguồn Gốc Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Viết Báo Tường Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • 317. Ca Dao, Tục Ngữ Và Lịch Sử Việt
  • Nét Đẹp Văn Hóa Từ Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ở Phú Xuyên
  • Tìm Hiểu Về Tết Việt Nam Qua Ca Dao,tục Ngữ
  • Trong cuộc sống, bất cứ điều gì cũng mang thông điệp muốn truyền tải cả. Đối với sinh vật bậc cao như con người, ngôn ngữ được sinh ra bởi nhu cầu trao đổi thông tin và giao tiếp. Một số cảm xúc như yêu, ghét, giận, hờn có thể được hoa mỹ thông qua một số cách thức sử dụng từ ngữ rất đặc biệt. Trong tiếng Việt, hình ảnh những câu ca dao, tục ngữ đã trở nên quá quen thuộc. Chúng chứa đựng dòng chảy của lịch sử qua từng câu từng chữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết được ca dao, tục ngữ xuất phát từ đâu trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam.

    Ca dao, tục ngữ là ra đời để người xưa lưu giữ những bài học kinh nghiệm sống của mình cho con cháu. Ca dao, tục ngữ là những câu nói truyền miệng ngắn gọn, có vần điệu và rất dễ nhớ. Ngoài những bài học răn dạy, đôi lúc, ca dao, tục ngữ còn là nơi gửi gắm tình cảm, bày tỏ quan điểm của tầng lớp nhân dân, sĩ phu trước hiện thực xã hội. Đó là lý do lí giải cho việc ca dao, tục ngữ mang dòng chảy lịch sử.

    Thời điểm mà truyền thông chưa phát triển trong xã hội như bây giờ thì ca dao, tục ngữ là một trong những hình thức để truyền thông tin được áp dụng rất rộng rãi. Không phải tất cả các câu tục ngữ, ca dao đều do tầng lớp nhân dân sáng tác mà trong đó có thể do tầng lớn tri thức, cụ thể là những người học Nho nhưng thi cử không đậu đạt để được làm quan. Họ trở thành thầy đồ, thầy thuốc, thầy bói… sống hoà vào cuộc sống của giới bình dân. Vì vậy, một số câu ca dao, tục ngữ cũng mang nét Nho giáo khá đậm đặc như:

    – Thương người như thể thương thân (Gia Huấn Ca của cụ Nguyễn Trãi).

    – Đồ sở khanh (nhân vật trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du).

    – Máu Hoạn Thư (Truyện Kiều).

    – Cô kia tát nước bên đàng, / Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi ? (Từ bài thơ Tiếng Hát Trong Trăng trong tập thơ “Tiếng thông reo” của thi sĩ Bàng bá Lân xuất bản năm 1935).

    Một số câu nói truyền lại kinh nghiệm sống, để răn dạy như:

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn .

    – Ăn đi trước, lội nước đi sau .

    – Cày sâu tốt lúa.

    – Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim .

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Chọn Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Thơ Ca Về Biển Đảo: Sẵn Sàng Khi Tổ Quốc Gọi Tên!
  • Biển Đảo Trong Tục Ngữ, Ca Dao Ở Hội An
  • Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Về Ngày 20/11 Đầy Đủ Và Ý Nghĩa
  • Danh Sách Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Chế
  • T rải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.

    Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001

    Lệ Như Thích Trung Hậu

    ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU

    Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.

    Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể. Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón? Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công. Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung? Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia? Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc. Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ. Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền. Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay. Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy. Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió? Chú tiểu thông thái quá, nhưng những bậc thông thái. Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.” Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?” Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra. Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?

    Phật lịch 2545

    Tân Tỵ 2001

    Gs. Cao Huy Thuần.

    (Paris)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam Chọn Lọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lời Chúc Hay Và Ngọt Ngào Nhất Trong Ngày Lễ Tình Nhân 14/2
  • Những Câu Nói Về Bản Thân Mình Hay Nhất
  • 16 Danh Ngôn Hay Về Nghệ Thuật
  • Lời Chúc Sinh Em Bé Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Những Lời Trích Dẫn Từ Các Cuốn Sách Hay Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1)
  • Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

    Ca dao, tục ngữ là sự kết tinh, lắng đọng vốn sống và những kinh nghiệm quý báu trong dân gian. Đây là loại hình văn nghệ truyền miệng từ đời này qua đời khác. Trải qua bao biến thiên cuộc sống, trong thời đại ngày nay, ca dao, tục ngữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị răn dạy con người về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.

    Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc” là công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu, khoa học, tập hợp khá nhiều tinh hoa của tục ngữ, ca dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm cung cấp một nguồn “sử liệu” về văn học dân gian cho độc giả.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cuốn sách tập hợp những câu ca dao tục ngữ muôn đời của dân tộc ta được đúc kết lại.

    Cuốn sách văn học- tiểu thuyết có các phần như:

    Phần I. Tình cảm, tình yêu đôi lứa

    -Hôn nhân và tình cảm gia đình

    – Tục ngữ, ca dao về lao động nghề nghiệp

    – Tục ngữ ca dao ca ngợi Bác Hồ…

    Nó không dừng lại ở những trang giấy thông thường mà đó là nguồn tư liệu quý giá giúp cho người đọc với nhiều đối tượng khác nhau có được cái nhìn sâu rộng hơn về loại hình văn hóa dân gian của Việt Nam bao đời nay.

    Ca dao, tục ngữ có những lối giáo dục chân thực, hóm hỉnh tạo nên đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Trong đời sống hàng ngày, câu ca dao, tục ngữ vẫn được ông bà, cha mẹ truyền tụng khuyên răn con cháu. Loại hình văn hóa truyền miệng này như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ hôm nay và mai sau.

    Đấy là một cuốn sách có giá trị về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể Người – Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.

    Tục ngữ ca dao Việt Nam chọn lọc cần thiết và hữu ích, nhất là cho lớp người trẻ tuổi, những người sẽ quyết định vận mệnh tương lai của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Ngày 8/3 Ý Nghĩa, Hài Hước Nhất
  • Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
  • 115 Dòng Danh Ngôn & Stt Ý Nghĩa Về Sự Thay Đổi Trong Cuộc Sống
  • Đập Vào Mặt Bạn Đểu, Bọn Khốn Nạn Những Câu Nói Khinh Bỉ Hay Nhất
  • Top 100 Stt Bựa Về Cuộc Sống Đăng Facebook Câu Được “ngàn Like”
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Lời Chúc Giáng Sinh Cho Khách Hàng Bằng Tiếng Anh
  • Tuyển Tập Stt Hay Xứng Đáng Trở Thành Châm Ngôn Sống Của Phụ Nữ
  • 18 Bài Thơ Thay Lời Chúc Giáng Sinh Noel Hay, Ý Nghĩa Và Hài Hước Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tôn Trọng Người Khác
  • Châm Ngôn Về Kẻ Tiểu Nhân
  • --- Bài cũ hơn ---

  • 100+ Danh Ngôn Cuộc Sống Cực Ý Nghĩa Mà Bạn Nên Đọc
  • Những Câu Thơ Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Hùng Dân Tộc, Anh Bộ Đội
  • Những Stt Hay Ngắn Gọn Hài Hước Và Độc Đáo Nhất Trên Mạng Xã Hội Facebook
  • Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Lòng Hiểu Thảo, Trung Hậu, Nhân Ái
  • Stt Con Gái, 69+ Status Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ! Cố Lên Nào Cô Gái Ơi
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Nói Hay Nhất Về Tình Bạn, Tình Yêu, Cuộc Sống Trong Anime
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Lits 100 Những Câu Nói Hay Về Triết Lý Sống Nên Đọc
  • Stt Thả Thính Trai Gái Hay Kèm Hình Ảnh Typo Chữ Đẹp Nhất 2022 * Du Lịch Số
  • Những Châm Ngôn Du Lịch Đáng Suy Ngẫm
  • Những âu ca dao tục ngữ về con trâu Việt Nam

    Ca dao tục ngữ về con trâu Việt Nam

    Những câu ca dao tục ngữ vè con trâu Việt Nam hay nhất

    TỤC NGỮ

    1.

    Con trâu là đầu cơ nghiệp

    Câu tục ngữ gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam đã có từ xa xưa nhưng bây giờ hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau được xem là hình ảnh biểu hiện của một nền nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam.

    2.

    Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

    3.

    Tha cày cuốc góc, nghỉ nhọc chăn trâu.

    4.

    Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà.

    Câu nói trên có ý nghĩa là đủ 3 điều ấy mới là “đàn ông”, đầu tiên là phải tậu trâu vì con trâu nó làm ra tiền ra bạc, còn vợ thì hay mua sắm tốn kém cho nên phải sắm trâu để làm lụng trước.

    5.

    Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

    6.

    Muốn giàu nuôi trâu lái, muốn lụn bại nuôi bồ câu.

    Câu tục ngữ muốn nhắn nhủ chúng ta muốn làm giàu thì nuôi trâu, “trâu lái” là trâu nái do dân địa phương người ta phát âm chữ “L” thành “N”

    7.

    Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.

    Muốn nói rằng chúng ta nếu muốn mua trâu thì nên mua trâu nái tức “xem vó”, còn lấy vợ thì chọn con nhà có dòng dõi, có sức khỏe tốt, có khả năng sinh sản và không có di truyền bệnh tật, …

    8.

    Hai câu thơ tỏ vẻ biết ơn đến 2 con vật có công rất lớn trong sản xuất nông nghiệp.

    9.

    Mua trâu xem sừng, mua chó xem chân.

    10.

    Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc.

    Ý muốn nói không có trâu thì người dân sẽ gặp muôn vàng khó khăn trong sản xuất, qua đó phải biết quý trọng con trâu và xem nó như là bạn.

    CA DAO

    1.

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

    Hai câu ca dao trên ví von sự chăm chỉ của đôi vợ chồng nhà nông, nếu phân tích rỏ hành động thì từ chồng cày thì phải có trâu, trâu đi bừa thì phải có người. suy luận cách đó thì phải thêm 1 con trâu và 1 người nữa

    2.

    Ai nói chăn trâu là khổ??

    Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

    Ý muốn châm biếm những cô gái có lối sống xa hoa vật chất, và so sánh với hình ảnh con trâu chỉ ăn cỏ để sống qua ngày.

    3.

    Đêm qua kẻ trộm vào nhà,

    Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.

    Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,

    Thức mà giữ lấy con trâu con bò.

    Nằm đây nào đã ngủ cho,

    Thức mà giữ lấy con bò con trâu.

    Muốn nói là giấc ngủ chẳng quan trọng bằng con trâu, nhỡ khi chợp mắt mất trâu rồi lấy gì đi cày mà kiếm sống.

    4.

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.

    Ở đời khôn khéo chi đâu,

    Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

    Bốn câu ca dao trên muốn diễn đạt hình ảnh chăm sóc cho trâu khỏe mạnh để có thể cày sâu giúp ta kiếm sống.

    5.

    Tháng giêng là tháng ăn chơi,

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng ba thì đậu đã già

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô

    Tháng tư đi tậu trâu bò

    Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm…

    “Tháng tư đi tậu trâu bò” lột tả hình ảnh con trâu quan trọng như thế nào trong ngành sản xuất, tậu trâu để tháng 5 bắt đầu cày bừa.

    6.

    Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

    Cấy cày giữ nghiệp nông gia.

    Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!

    Bao giờ cây lúa còn bông,

    thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.

    Ý ở đây nói là nông nghiệp còn phụ thuộc vào cây lúa nước thì vẫn còn cần đến trâu nên mới cho trâu ăn cỏ để có sức khỏe giúp nhà nông.

    7.

    Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

    Bò năm sáu tuổi đã tranh về già,

    Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

    Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!

    Bài thơ cho thấy được sức khỏe của con trâu tốt hơn bò rất nhiều, do vậy mà từ bao đời nay chỉ có hình ảnh con trâu đi cày chứ không có con bò nào đi cày cả.

    8.

    Trâu buộc thì ghét trâu ăn,

    Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

    Hai câu ca dao trên có hàm ý là lấy hai con trâu ở hai tình thế khác nhau để so sánh, để phê phán thói hư, tật xấu của con người: hậm hực, ghen ghét những người hơn mình.

    9.

    Dù ai buôn bán nơi đâu

    Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

    Nhắn nhủ những người xa quê hương nên nhớ “mồng mười tháng tám” hãy về quê để tham gia lễ hội chọi trâu. Thật sự thì để mồng mười nghe cho nó vần chứ thật sự thì lễ chọi trâu Đồ Sơn diễn ra vào ngày 9 tháng 8 hàng năm.

    10.

    Trời mưa trời gió đùng đùng

    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu

    Gánh về trồng bí trồng bàu

    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.

    4 câu thơ cho ta thấy được hình ảnh con trâu không chỉ có sức khỏe mà “phân trâu” còn giúp ích rất nhiều trong việc trồng trọt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Status Buồn Về Cuộc Sống Gia Đình Khó Khăn Thử Thách Đáng Để Suy Ngẫm
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Đoàn Kết Tương Trợ
  • Kho Tàng Stt Tiếng Anh Ngắn Hay Về Tình Yêu Ngọt Ngào, Sâu Lắng
  • 10 Câu Thoại Kinh Điển Mọi Thời Đại Của Joker: ‘nếu Bạn Giỏi Thứ Gì Đó Đừng Bao Giờ Làm Nó Miễn Phí’ Trở Thành Tuyên Ngôn Giới Trẻ
  • Những Khẩu Hiệu An Toàn Giao Thông Hay
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam 10 Pdf

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Stt Tổng Hợp Những Câu Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương, Đất Nước
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

    T

    1. Ta về ta tắm ao ta

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

    2. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá

    Em băng đồng chi sá, đi bẻ nạm lá về xông

    Ở làm sao đây cho trọn nghĩa vợ chồng

    Ðổ mồ hôi em chặm, ngọn gió lồng em che

    3. Tam sao thất bản

    4. Tấn thối lưỡng nan, cực khổ trăm bề

    Ở đây khó ở, ra về khó ra!

    5. Tập tàng đem nấu với suông

    Lấy chàng, thiếp quyết đổi buồn làm vui

    6. Tập tầm vông

    Chị lấy chồng, em ở giá

    Chị ăn cá, em mút xương

    Chị nằm giường, em nằm đất

    Chị hút mật, em liếm ve

    Chị ăn chè, em liếm bát

    Chị coi hát, em vỗ tay

    Chị ăn mày, em xách bị

    Chị làm đĩ, em xỏ tiền

    Chị đi thuyền, em đi bộ

    Chị kéo gỗ, em lợp nhà

    Chị trồng cà, em trồng bí

    Chị tuổi tí, em tuổi thân

    Chị tuổi Dần em tuổi Mẹo

    Chị ăn kẹo, em mút câỵ

    7. Tàu súp lê một còn trông còn đợi

    Tàu súp lê hai còn đợi còn chờ

    Tàu súp lê ba, tàu ra biển Bắc

    Hai tay tôi vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng

    Miệng kêu bớ chú tài cồng khoan khoan, chậm chậm

    Vợ chồng tôi thôi đành ngàn dặm cách phân

    8. Tay bưng dĩa muối chấm gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ em

    9. Tay mang khăn gói sang sông

    Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng cứ đi

    10. Tay mang túi bạc kè kè

    Nói bậy nói bạ thiên hạ nghe rầm rầm

    11. Tay tiên rót chén rượu đào

    Ðổ đi thời tiếc, uống vào thời say

    12. Thà rằng chẳng biết cho xong

    Biết ra như xúc, như đong lấy sầu

    13. Thà rằng ăn nửa quả hồng

    Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè

    14. Thà thua xuống láng, xuống bưng

    Bỏ ra đầu giặc, lỗi chưn quân thần

    15. Tham thì thâm

    16. Than rằng gối gấm không êm

    Gối lụa không mềm bằng gối tay em

    17. Thân em như giếng giữa đường

    Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân

    18. Thân em như hạt mưa sa

    Hạt rơi xuống giếng, hạt sa cánh đồng

    19. Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

    20. Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    21. Thân em như thể trái chanh

    Lắt lẻo trên cành nhiều kẻ ước mơ

    22. Thân tui thui thủi một mình

    Ðêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang

    Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng

    Tôi xin được dạo cung đàn tình chung

    23. Tháng Ba cơm gói ra hòn

    Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai (Hang Khỉ)

    24. Tháng Giêng là tháng ăn chơi

    Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    Tháng Ba thì đậu đã già

    Ta đi, ta hái về nhà phơi khô

    Tháng Tư đi tậu trâu bò

    Ðể cho ta lại làm mùa tháng Năm

    Sớm ngày đem lúc ra ngâm

    Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra

    Gánh đi ta ném ruộng ta

    Ðến khi lên mạ, thì ta nhổ về

    Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê

    Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi

    Cỏ lúa dọn đã sạch rồi

    Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai

    Ruộng thấp đóng một gầu giai

    Ruộng cao thì phải đóng hai gầu sòng

    Chờ cho lúa trổ đòng đòng

    Bấy giờ ta sẽ trả công cho người

    Bao giờ cho đến tháng mười

    Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta

    Gặt hái ta đem về nhà

    Phơi khô, quạt sạch ấy là xong công

    25. Tháng Tám có lệnh vua ra

    Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng

    Không đi thì chợ không đông

    Mà đi thì lấy quần chồng sao đang

    26. Thằng Bờm có cái quạt mo

    Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu

    Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu

    Phú ông xin đổi ao sâu cá mè

    Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè

    Phú ông xin đổi một bè gỗ lim

    Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim

    Phú ông xin đổi con chim đồi mồi

    Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

    Phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười

    Cười lên ba tiếng Bờm ơi

    Cười lên ba tiếng cho đời đắng cay

    27. Thành thị chỗ nào cũng xí xô xí xào khách trú

    Em ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi

    Bán buôn một vốn ba bốn tiền lời

    Chê anh dân ruộng, chơn mốc cời quanh năm

    28. Thất là mất

    Tồn là còn

    Tử là con

    Tôn là cháu

    Lục là sáu

    Tam là ba

    Gia là nhà

    Quốc là nước

    Tiền là trước

    Hậu là sau

    Ngưu là trâu

    Mã là ngựa

    29. Thấy bạn mà chẳng thấy chàng

    Bâng khuâng như mất lạng vàng trong tay

    30. Thấy mặt đặt tên

    31. Thật thà là cha ăn cướp

    32. Thẩn thơ tựa gốc mai già

    Hỏi thăm bà Nguyệt có nhà hay không

    33. Thế gian chuộng của, chuộng công

    Nào ai có chuộng người không bao giờ

    34. Thế gian được vợ, mất chồng

    Ðâu phải như rồng mà được cả đôi

    35. Thói thường gần mực thì đen

    Anh em bạn hữu phải nên chọn người

    36. Thò tay mà ngắt cọng ngò

    Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ

    37. Thôi em xanh mắt bồ câu

    Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau

    38. Thôi thà đừng biết cho xong

    Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

    39. Thứ nhứt Thế Ðức gan gà

    Thứ hai Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần

    40. Thứ nhứt đom đóm vô nhà

    Thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn

    41. Thứ nhứt là tu tạ.i gia

    Thứ nhì ở chợ, thứ ba tại chùa

    42. Thứ nhứt rượu đã ngà ngà

    Thứ nhì chàng ở phương xa mới về

    43. Thua trời một vạn không bằng thua bạn một ly

    44. Thuận vợ, thuận chồng tát biển Ðông cũng cạn

    45. Thuốc đắng giã tật, lời thật mất lòng

    46. Thương ai ví bằng thương chồng

    Vì chồng cờ bạc nên lòng chẳng thương

    47. Thương cho roi, cho vọt

    Ghét cho ngọt, cho bùi

    48. Thương em anh biết để đâu

    Ðể vào tay áo, lâu lâu lại dòm

    49. Thương em anh để trong lòng

    Việc quan anh cứ phép công anh làm

    50. Thương em không dám vô nhà

    Ði qua đi lại hỏi có gà bán không?

    51. Thương em thương cái hang dài

    Súng anh chực sẵn tối nay lảy còi

    52. Thương người như thể thương thân

    Nhường cơm sẻ áo lòng nhân mới là

    53. Thương nhau, cau sáu bổ ba

    Ghét nhau, cau sáu bổ ra làm mười

    54. Thương nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    Thương nhau cởi nhẫn cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi

    55. Thương nhau đứng đợi ngồi trông

    Ðêm khuya hiu quạnh loan phòng thì thôi

    Mình nay đã có vợ rồi

    Còn theo đón hỏi chi tôi thế nàỷ

    56. Thương nhau mấy núi cũng trèo

    Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

    57. Thương nhau nên phải đi tìm

    Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn

    58. Thương nhau, thương cả tông chi

    Ghét nhau, ghét cả đường đi lối về

    59. Thương nhau trái ấu cũng tròn

    Ghét nhau trái bồ hòn cũng méo

    60. Thương sao thương quá bất nhơn

    Bữa nay gặp mặt, thương hơn bữa nào

    61. Thương thì quả ấu cũng tròn

    Không thương thì quả bồ hòn cũng méo!

    62. Thượng điền tích thủy, hạ điền khan

    Ruộng trên đầy nước, ruộng dưới khô khan

    63. Thực lộc chi thê, là con cá trê ăn cứt

    Tề Thiên Ðại Thánh

    Ðánh với Hồng Hải

    Ðại chiến cả ngày

    Bất phân thắng bại

    Là con số 7

    Tào thua Xích Bích

    Tào đương bôn tẩu

    Gặp Quan Công Hầu

    Tào lại kể ơn

    Con 60 trơn

    Dẹp tan gian tặc

    Non nước thái bình

    Bổng lộc thân vinh

    Ðịch gia đoàn tụ

    Thoại Ba Công Chúa

    Liền được rước về

    Má dựa vai kề

    Muôn dân cung kính

    Là con 89

    Bon bon nước chảy bon bon

    Con vượn bồng con

    Lên non hái trái

    Tôi cảm thương nàng

    Phận gái mồ côi

    Là con số 1 ôi!

    Nhắm tây Liêu Quốc

    Ðình Quí dẫn đường

    Ðến Hỏa Xa Cang

    Thầy trò đi lạc

    Lộn qua Ðông Bắc

    Tới trước Thôn Trào

    Gặp thời Thiên Long

    Là quan giữ đi

    Là con số 7 chi

    Ra quân chống lại

    Ngũ tướng ra oai

    Một phen trổ tài

    Thiên Long khiếp đảm

    Là con số 8

    Tài hèn sức kém

    Long bị chặt đầu

    Tin đến Thôn Trào

    Chúa tôi bàn tính

    Là con số 9

    64. Thuyền đây nhớ bến vô cùng

    Ngặt vì đồn bót ngại ngùng khó qua

    65. Thuyền đây ý cũng muốn qua

    Thuế má đóng đủ, gãy chạ cái cột buồm

    66. Thuyền ơi có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền

    67. Thuyền phải theo lái, gái phải theo chồng

    Chồng đi hang rắn hang rồng vợ cũng phải theo

    68. Thuyền tôm kia nói có

    Ghe cá nọ nói không

    Phải chi miễu ở gần sông

    Em chỉ tay thề lại kẻo lòng anh nghi

    69. Tiên học lễ, hậu học văn

    70. Tiếc công xúc tép nuôi cò

    Cò ăn, cò béo, cò dò lên cây

    71. Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Ðã vo nước đục, lại vần than rơm

    72. Tiếc thay cây quế giữa rừng

    Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

    73. Tiếng chào cao hơn cỗ

    74. Tiền trao cháo múc

    Không tiền cháo trút trở ra

    75. Tin nhau buôn bán cùng nhau

    Thiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lời

    Thay gì lừa đảo kiếm lời

    Một nhà ăn uống, tội trời riêng mang

    Theo chi những thói gian tham

    Pha phôi thực giả tìm đường dối nhau

    Của phi nghĩa có giàu đâu

    Ở cho ngay thật giàu sau mới bền

    76. Tính rằng đêm bảy ngày ba

    Mỗi đêm có sáu, gà đà sang canh

    Chém cha con gà trống nó đậu trên cành

    Giá biết như vậy bà đã làm gỏi, nấu canh ăn rồi

    77. Tìm em như thể tìm chim

    Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Nam

    78. Tình cờ bắt gặp nàng đây

    Hỏi rằng duyên ấy tình này ra sao

    Cái gì là mận, là đào

    Cái gì là ngãi tương giao với nàng

    79. Tình ta như quế với gừng

    Mai kia cách trở, xin đừng quên nhau

    80. Tóc em dài em cài hoa thiên lý

    Miệng em cười có ý anh thương

    81. Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

    82. Tóc quăn chải lược đồi mồi

    Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn

    83. Tốt gỗ hơn tốt nước son

    Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người

    84. Tới đây dầu đói giả no

    Dầu khôn giả dại đặng dò ý em

    85. Tới đây không hát thì hò

    Không hò không hát chớ mò tới đây

    86. Tới đây mướp lại gặp dưa

    Bầu kia gặp bí sao chưa chung giàn?

    87. Tới đây thì ở lại đây

    Chừng nào bén rễ quen cây hãy về

    88. Tờ thơ đo đỏ

    Anh dán con cò đen

    Gởi về thăm bạn có tên em trong nầy

    89. Trai anh hùng năm thê bảy thiếp

    Gái trung trinh trăm tuổi một chồng

    90. Trai ba mươi tuổi còn xinh

    Gái ba mươi tuổi như bình mắm nêm

    91. Trai ba mươi tuổi còn xoan

    Gái ba mươi tuổi đã toan về chiều

    92. Trai khôn tìm vợ chợ đông

    Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân

    93. Trai lỡ thời như trái chín cây

    Trái chín cây người ta làm mứt

    Gái lỡ thời như cứt trôi sông

    Cứt trôi sông không ai thèm ngó

    94. Trai tân, gái góa thì chơi

    Ðừng chơi có vợ, đừng chơi có chồng

    95. Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con

    96. Trai thời năm thê, bảy thiếp

    Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng

    97. Trai thì cày ruộng khiển trâu

    Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

    98. Trai tơ lấy gái góa chồng

    Như mua nồi đồng đem nấu cám heo

    99. Trai tơ lấy gái góa chồng

    Như vũng nước trong, quậy bùn nổi đục

    100. Trách ai chẳng khéo lường cân

    Ðào tiên không bẻ, bẻ trái bần làm chi

    101. Trách ai đào mận luông tuồng

    Khi vui giỡn sóng, khi buồn giỡn trăng

    102. Trách ai rẽ khế, chia chanh

    Cãi nhau mấy tiếng giận anh sao đành

    103. Trách ai tham đó bỏ đăng

    Bần khinh phú trọng nên chăng bạn tình

    104. Trách ai tham giấy bỏ bìa

    Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa

    105. Trách ai tính chuyện đa đoan

    Ðã hái được mận lại toan bẻ đào

    106. Trách cha, trách mẹ nhà chàng

    Cầm cân chẳng biết rằng vàng hay thau

    Thực vàng chẳng phải thau đâu

    Ðừng đem thử lửa mà đau lòng nàng

    107. Trách người quân tử vô danh

    Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao

    108. Trai, cò mổ nhau,

    Ngư ông đắc lợi

    109. Trái cau lửa, sao mà anh gọi là cau không nóng

    Tóc dợn sóng, sao mà sóng không trào

    Trai nam nhi mà đối đặng gái má đào xin theo

    110. Trái gần anh hái, chẳng hái trái xa

    Dễ kiếm thịt gà tìm đâu ra thịt phụng

    111. Trăm bề ruột nọ quặn đau

    Nhơn sâm sắc uống mấy tàu cho nguôi

    112. Trăm năm bia đá còn mòn

    Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ

    113. Trăm năm còn có gì đâu

    Miếng trầu liền với con trâu một vần

    114. Trăm năm lòng gắn dạ ghi

    Nào ai thay nút, đổi khuy cũng đừng

    115. Trăm năm se sợi chỉ hồng

    Bắt người tài sắc buộc trong khuôn trời

    Bao giờ tài sắc có lời

    Thì ta lại cởi khuôn trời cho ra

    116. Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

    Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non

    Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn

    Núi bao nhiêu tuổi núi còn trơ trơ

    117. Trăng khuyết rồi trăng lại tròn

    Mẹ già kén rể con còn góa lâu

    118. Trâu bò được ngày phá đỗ

    Con cháu được ngày giỗ ông

    119. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

    120. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta

    Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

    121. Trâu kia kén cỏ bờ ao

    Anh kia không vợ đời nào có con

    Người ta con trước, con sau

    Thân anh không vợ như cau không buồng

    Cau không buồng như tuồng cau đực

    Trai không vợ cực lắm anh ơi

    Người ta đi đón, về đôi

    Thân anh đi lẻ, về loi một mình

    122. Trầu Bà Ðiểm xé ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    123. Trầu không ăn sao ngon, sao béo

    Nghĩa nhơn cho khéo để kẻo lòng phiền

    Chờ chàng bóng ngả trăng nghiêng

    Nỗi vui có bạn, ưu phiền riêng em

    124. Trầu này trầu nghĩa trầu tình

    Trầu nhơn trầu ngãi trầu mình với ta

    125. Trầu vàng nhá lẫn cau xanh

    Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

    126. Trèo lên cây bưởi hái hoa

    Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân

    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

    Em lấy chồng, anh tiếc lắm thay

    Ba đồng một mớ trầu cay

    Sao anh không hỏi từ ngày còn không

    Bây giờ em đã có chồng

    Như chim vào lồng, như cá cắn câu

    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

    Chim vào lồng biết thuở nào ra

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mưa Nắng Bão Lụt, Thời Tiết, Dự Báo Thời Tiết
  • 35 Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước Bình Định Câu Hỏi 194294
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hạnh Phúc, Bất Hạnh, Hiếu Thảo, Có Hiếu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100