Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân ❤️ Thành Ngữ Mùa Xuân Hay

--- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Ngày Tết Hay Nhất
  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 5 ❤️️ Ca Dao Tục Ngữ Hay Nhất
  • Tổng Hợp Thơ, Danhh Ngôn, Tục Ngữ Hài Hước Vô Đối
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Tổng Hợp Những Câu Tục Ngữ Hay Trong Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Xuân

    ⚡️ Chia sẽ bạn ❤️ Thơ Về Mùa Xuân ❤️ Hay Nhất

    Thành Ngữ Về Mùa Xuân Hay

    Những Câu Thành Ngữ Về Mùa Xuân Hay Nhất

    Dửng dưng như bánh chưng ngày Tết.

    Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.

    Đi cày ba vụ

    Không đủ ăn ba ngày tết.

    Đi đâu mặc kệ đi đâu

    Đến ngày giỗ chạp phải mau mà về.

    ⚡️ Chia sẽ bạn ❤️ HÌNH ẢNH MÙA XUÂN ❤️ Đẹp Nhất

    Đói muốn chết ba ngày Tết vẫn no.

    Tặng bạn chùm ❤️️ Thơ Tình Mùa Xuân ❤️️ Hay Nhất

    Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Mùa Xuân

    SCR.VN chia sẽ bạn các câu ca dao tục ngữ hay về mùa xuân sau:

    Dù ai buôn bán nơi đâu

    Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.

    *

    Anh Hai anh tính đi mô

    Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều.

    *

    Con ơi! ham học chớ đùa

    Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.

    *

    Cú kêu ba tiếng cứ kêu

    Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè

    Dựng nêu thì dựng đầu hè

    Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung.

    Dầu bông bưởi dầu bông lài

    Xức vô tới Tết còn hoài mùi thơm.

    *

    Hễ ai mà nói dối ai

    Thì mồng một Tết Ba Giai đến nhà.

    Tới đây viếng cảnh, thăm hoa

    Trước mừng các cố, sau là mừng dân.

    Sau nữa mừng cả làng tuần

    Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy

    Một mai đàn có bén dây

    Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!

    Gia Lạc chỉ mở ngày Xuân

    Quanh năm, suốt tháng khó lần tìm ra.

    *

    Mồng một chơi cửa, chơi nhà

    Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình.

    Mông bốn chơi chợ Quả linh

    Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi.

    Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi

    Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng.

    *

    Thừa con gả cho hàng tờ

    Đến ba mươi tết phất phơ ngoài đường.

    *

    Tháng giêng ăn tết ở nhà

    Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm.

    Chia sẽ bạn chùm 😂 Thơ Chế Tết 😂 Vui Nhất

    Những câu ca dao tục ngữ về lễ hội mùa xuân

    Ba ngày Tết, bảy ngày xuân.

    Ba mươi chưa phải là Tết

    Bỏ con bỏ cháu

    Không ai bỏ mười sáu chợ Yên

    Bỏ tổ bỏ tiên

    Không ai bỏ chợ Viềng mùng tám.

    (hai phiên chợ Tết của Nam Định)

    Trọn bộ 🌸 THƠ TẾT 🌸 Hay Nhất

    Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Mùa Xuân

    SCR.VN chia sẽ thêm những câu ca dao tục ngữ nói về mùa xuân hay nhất

    TẶNG BẠN CHÙM 😂 Ảnh Chế Tết 😂 Vui Nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Kế Thừa Và Phát Huy Truyền Thống Tốt Đẹp Của Dân Tộc
  • Giáo Dục Đạo Đức Qua Tục Ngữ, Thành Ngữ…
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giàu Nghèo, Đồng Tiền, Sức Mạnh Đồng Tiền Hay Nhất
  • Con Heo Trong Ca Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Sưu Tầm Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Hà Nội Hay
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Cây Lúa Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Rượu
  • Mái Đình Làng Trong Văn Hóa Việt
  • Mùa xuân là mùa của đâm chồi sinh sôi nảy nở, mùa hè thì thời tiết nóng nực với hoa phượng và chú ve kêu, mùa thu của sự lãng mạn những con đường dầy lá rụng những cành cây trụi lá và khi gió mùa đến mùa đông chính thức bắt đầu với thời tiết xe xe lạnh cảm nhận không khí và ddaaats trời có những nét rất đặc biệt. Đó là nhưng đặc trưng cơ bản và những điểm khác biệt của 4 mùa khá rõ rệt ở miền Bắc Việt Nam. Và mỗi nét riêng đó đều được nhắc tới nhiều trong các câu thơ, ca dao tục ngữ và các bài hát . Những câu ca dao tục ngữ về mùa hè, mùa xuân, mùa thu, mùa đông hay và ý nghĩa nhất

    Mỗi năm có 4 mùa, mùa xuân, mùa thu, mua hè và mùa đông. Mỗi mùa có mọt đặc điểm thời tiết và dặc trưng riêng của nó. Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm với bao nhiêu sự nảy nở, được xem là khởi dầu cho một năm đầy hạnh phúc và tươi vui. Mùa hè là mùa tiếp theo của mùa xuân, khi dến mùa hè mọi học sinh sẽ được nghỉ học để tận hưởng những kì nghỉ bổ ích, thời tiết đặc trưng của mùa hè là thời tiết oa bức và nóng nực. tiếp đến của mùa hè là mùa thu, mùa thu được xem là mùa lãng mạn nhất trong năm, đối với mùa này cây lá thay một màu áo mới. mùa đông là mùa cuối cùng, có sự lãnh lẽo nhất trong năm.

    Đối với mỗi mùa trong năm thì mỗi mùa có một đặc trưng, một đặc điểm riêng biệt nhau. Chính bởi sự riêng biệt ấy mà mỗi người có những sở thích của mình, những tình cảm của mình dành cho mỗi mùa khác nhau. Có người thích mùa xuân cây lá đâm chồi, có người thích mùa đông lanh lẽo, có người thích mùa hè nóng bức nhưng đầy kỉ niệm, có người thích mùa thu lãng mạn. những câu thơ, những bai thơ, những tình cảm của con ngwufoi dành cho mùa xuân hạ thu đông rất nhiều. để hiểu rõ hơn về mùa hè, xuân, thu đông chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngữ về mùa hè, mùa xuân, mùa thu, mùa đông.

    Ca dao tục ngữ về mùa hè:

    Câu 1:

      Bán quạt mùa đông mua bông mùa hè.

    Bò đẻ tháng năm nỏ bằm thì thui.

    Mùa không chỉ nói về đặc sinh đâm chồi nảy lộc của cây cối, của con người mà nó còn nói lên đặc điểm sinh sản của con vật. như câu tục ngữ trên nói đến tập tục sinh sản của con bò.

    Câu 2:

      Chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè.

    Đối với mùa, thì mỗi mùa sẽ có những thức ăn phù hợp với mỗi loại chim khác nhau. Câu tục ngữ trên nói về đặc tính của mỗi loại chim khi mùa thu và mùa hè, mùa thu thì chim ngói, mùa hè thì chim cu.

      Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    • Đông chết se, hè chết lụt.
    • Học như quốc kêu mùa hè.
    • Hữu bì hữu cốt vô thân nhục

    Nghi xuân nghi hạ, bất nghi đông.

      Có da có xương, không có thịt

    Chỉ mùa xuân, mùa hạ được nhắc đến, mùa đông thì không

    • Lo trẻ mùa hè không bằng lo bò què tháng sáu.
    • Mùa đông mưa dầm gió bấc,

    Mùa hè mưa to gió lớn,

    Mùa thu sương sa nắng gắt.

    • Mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển.
    • Mùa hè cá sông mùa đông cá ao
    • Mùa hè đang nắng cỏ gà mọc trắng trời mưa.
    • Mùa hè đóng bè làm phúc.
    • Mùa hè buôn bông, mùa đông buôn quạt.
    • Sim, nang, sang, sú.
    • Thơm tho chi mít mùa đông,

    Khôn ngoan chi gái lộn chồng mà khen.

    • Thà liếm môi liếm mép còn hơn ăn chép mùa hè.
    • Tiếc thay hoa hỡi là hoa

    Mùa xuân chẳng nở nở ra mùa hè.

    • Trẻ con mùa hè, trâu què mùa đông.
    • Trẻ mùa hè như bò què tháng sáu.
    • Tháng chín nhịn ăn rau muống.
    • Tháng giêng trồng đậu

    Tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng.

    Ca dao tục ngữ về mùa xuân:

    Câu 1:

      Bánh chưng xanh thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ .

    Nhắc đến mùa xuân ta sẽ nghĩ đến tết, những con mưa phùn, nhwunxg đặc điểm mà mùa xuân thường có. Câu tục ngữ trên đã nêu lên những đặc điểm nổi bật của mùa xuân là bánh chưng xanh và câu đối đỏ.

    Câu 2:

    • Có nam có nữ mới nên xuân
    • Có xôi có thịt mới nên phần

    Mùa xuân là mua mà cây côi đâm chồi nảy lộc, cây đơm hoa kết trái. Nhắc đến mùa xuân chúng ta có một tinh thần phấn khởi, một niềm vui khôn xiết khi đây là mùa tụ họp, mùa yêu thương,… được gắn kết gai đình.

    • Một năm khởi đầu bằng mùa xuân,ngày mới khởi đầu vào buổi sáng
    • Xuân về hoa cúc nở hoa

    trên cành chim sáo hát ca rộn ràng

    Chào anh anh giải phóng quân

    anh đem nắng ấm mùa xuân đến nhà.

    Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng

    Vì cam cho quýt đèo bòng

    Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương

    Mỗi năm được mấy mùa xuân,

    Mỗi ngày được mấy giờ Dần hỡi anh ?

    Một năm là mấy mùa xuân

    Gái kia hồ dễ mấy lần đưa dâu

      Trăm hoa đua nở tháng Giêng,

    Có bông hoa cải nở riêng tháng mười

    Trăm cánh hoa cười,

    Trăm nụ hoa nở mùa xuân sang.

    Đàn con yến trắng, dập dìu đàn ong, (2)

    Con chim kia sao khéo não nùng!

    Cuốc kêu gióng giả như nung dạ sầu.

    Gió nam hây hẩy ban chiều

    Một đàn bướm trắng dập dìu trên non,

    Đêm đông trường, nghe vượn ru con

    Vượn hát ru con, cá khe lẩn bóng, chim buồn cõi câ

    Kìa quân tử trúc, dạ này bâng khuang…^

    Em như hoa thơm mà mọc góc rừng

    Ca dao tục ngữ về mùa thu:

    Câu 1:

    • Trăm hoa đua nở mùa xuân
    • Cớ sao hoa cúc lại muộn tuần thu sang?

    Câu ca ao trên nói về đâm chồi nảy lộc của cây cối, theo quy luật tự nhiên thì mọi cây cối đều đâm chồi nảy lộc vào màu xuân, nhưng cây hoa cúc lại nở hoa vào mùa thu, một cách nở hoa ngược tự nhiên.

    Câu 2:

    • Thu đi để lại lá vàng
    • Anh đi để lại cho nàng thằng cu
    • Mùa thu tiếp nối mùa thu
    • Thằng cu tiếp nối thằng cu ra đời

    Đây là một bài ca dao vui nói về đặc điểm của mùa thu, mùa thu là mùa thay lá. Mỗi mùa thu sang thì cây cối lại thay lá mới và có những đặc điểm nổi bật của mùa thu.

    Cho nên hoa phải muộn màng tiết thu

      Ao thu nước gợn trong vời

    Gió thu khêu dục gợi người tình chung

    Buồn tênh cái tiếng thu chung

    Đêm thu ta biết vui cùng với ai

    Thờ ơ trúc muốn ghẹo mai

    Vô tình nên phải miệt mài đêm thu

      Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

    Năm canh chầy thức đủ vừa năm

    Ca dao tục ngữ về mùa đông:

    Câu 1:

    • Dời mả tránh ngày trùng tang
    • Trồng khoai lang tránh ngày gió bấc.

    Đặc điểm của màu đông là có những cơn gió bấc, những cơn gió là mất mùa đối với những người nông dân. Chính vì thế mà câu ca dao trên nói về kinh nghiệm trồng trọt mùa đông. Khi trồng khoai lang chúng ta nên tránh ngày có gió bất.

    Câu 2:

    • Dù ai buôn bán trăm nghề
    • Ba mươi tháng chạp nhớ về vớt rươi.

    Mỗi mùa sẽ có những đặc điểm, những đặc tính khác nhau, chính vì thế mà câu ca dao trên nói về việc tháng chạp có đặc điểm là có nhiều rươi nên tháng chạp phải về vớt rươi.

    • Bán quạt mùa đông mua bông mùa hè.
    • Bốc mả kiêng ngày trùng tang

    Trồng khoai lang kiêng ngày gió bấc.

      Đồng chiêm xin chớ nuôi bò

    Mùa đông tháng giá bò dò làm sao.

    • Đầu năm sương muối cuối năm gió bấc.
    • Gió đông là chồng lúa Chiêm

    Gió may, gió bấc là duyên lúa mùa.

    • Gió Bấc thì hanh, gió nồm thì ấm.
    • Gió bấc hiu hiu sếu kêu thì rét

    Gió lâm râm không mưa dầm cũng bão.

    Mùa đông rét mướt ai cho mượn chồng.

      Măng tháng chín nhịn cho chồng,

    Chuối mùa đông thì quăng cho lợn.

    • Mưa phùn gió bấc.
    • Mùa hạ cá sông,

    Mùa đông cá ao.

    Mùa đông ăn cá bể.

    Hành khất đói meo.

      Một chạp là tiết mùa đông

    Mưa phùn đêm vắng trong lòng lạnh thay.

    • Trồng khoai lang kiêng ngày gió bấc.
    • Thơm tho chi mít mùa đông

    Khôn ngoan chi gái lộn chồng mà khen

      Tối như ba mươi tháng chạp

    Sáng nào bằng trăng hôm rằm.

      Tháng mười sấm rạp tháng chạp sấm ran.

    Mỗi mùa trong năm đều có những nét đặc trưng rất riêng được đúc kết cả những kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống, các câu ca dao không chỉ để biết đặc trưng các mùa mà trong đso bạn cũng có thể học hỏi được rất nhiều những kinh nghiệm sống. Mùa xuân ở VIệt Nam thường vào sau tết lúc đó muôn hoa sẽ đua sắc nở, cây cối đâm chồi sau 1 mùa đông lạnh giá. Mùa xuân cũng thường gắn liền với tết và tháng Giêng là tháng ăn chơi mọi người đi vãn chùa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Ca Dao Xuân, Tục Ngữ Tết

    --- Bài mới hơn ---

  • ‘sốc’ Với Ca Dao, Tục Ngữ Tự Chế Của Giới Trẻ
  • Những Câu Ca Dao, Dân Ca Việt Nam (Vần B)
  • Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Hay Và Ý Nghĩa
  • Danh Ngôn Về Âm Nhạc
  • Danh Ngôn Về Lòng Vị Tha
  • Theo sách “Le Khmer”, trước kia dân Việt ăn Tết theo Trung Quốc, nhưng cũng có thời gian dân Việt ăn Tết theo Chiêm Thành. Tết này bắt đầu vào tháng Hai âm lịch, có đủ lễ lạc, vui chơi, hát xướng, rượu chè,… trong ba ngày liên tiếp, nhưng người ta cũng đi thăm viếng nhau, và cũng có nhiều điều kiêng cữ. Trong mấy ngày ấy, dù gặp kẻ thù thì người ta cũng chào và chúc mừng nhau. Theo tục lệ người Chiêm, ngày ấy là ngày “xóa bỏ hờn giận”. Ý nghĩa Tết như vậy rất nhân bản, tốt lành và cao thượng.

    Trẻ em còn vô tư nên háo hức mong Tết mau đến. Người lớn có những người cũng mong Tết, nhưng sự mong chờ của họ mang “ý nghĩa” khác hẳn so với trẻ em, thậm chí có người thực dụng, họ mong Tết để có lợi về vật chất.

    Tuy nhiên, có những người không hề mong Tết, họ nghèo khổ quá nên họ sợ Tết, nếu có thể thì họ chỉ mong “đừng có Tết”. Buồn lắm thôi! Nhưng thời gian cứ luân phiên, tứ thời bát tiết tuần tự theo quy luật tự nhiên của đất trời. Cứ đến cuối năm thì những người nghèo lại “giật mình” như điện giật, như chớp bể mưa nguồn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”. Cái lo ngày thường đã khiến họ rối trí rồi, cái lo ngày Tết làm họ càng nhức đầu hơn. Nỗi niềm không biết tỏ cùng ai. Nỗi khổ cứ chồng chất, làm sao vui được!

    Cả năm đầu tắt mặt tối, bán lưng cho trời bán mặt cho đất, từ sớm tới khuya không ngơi tay, thế mà vẫn chẳng thấy chút niềm vui: “Đi cày ba vụ, không đủ ăn ba ngày Tết”. Nghe người ta chúc giàu sang phú quý mà thêm mủi lòng, cũng đành cười gượng để gọi là Xuân. Người nghèo đáng thương biết bao!

    Ngày Tết là dịp vui Xuân, bù đắp những ngày tháng cực nhọc vất vả suốt năm, có lợi cho cả tinh thần và thể lý. Nhưng thương thay, có những người “gọi là” nghỉ ngơi ăn Tết mà lòng vẫn lo ngay ngáy:

    Bây giờ tư Tết đến nơi

    Tiền thì không có sao nguôi tấm lòng

    Nghĩ mình vất vả long đong

    Xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi

    Về nhà công nợ nó đòi

    Mà lòng bối rối đứng ngồi không yên.

    Khổ quá! Bình thường thì chẳng ai biết ai thế nào, nhìn thấy họ vất vả nhưng chưa chắc khổ, hoặc nhìn thấy họ nhàn hạ nhưng chưa chắc sướng. Có “cháy nhà mới lòi mặt chuột”. Kinh nghiệm dân gian cũng cho biết: “Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có Ba mươi Tết mới hay”. Hoặc như ca dao phân tích:

    Có, không: đến mùa Đông mới biết

    Giàu, nghèo: ba mươi Tết mới hay.

    Chuyện giàu – nghèo đã vậy, như một quy luật muôn thuở, như “phần cứng” đã được “cài đặt” mặc định rồi, chẳng ai dám nhận mình hiểu hết ngọn nguồn.

    Chuyện tình cảm đôi lứa cũng rắc rối, phiền toái. Bảo là yêu nhau nhưng hành động lại không thể hiện tình yêu đó. Cô nàng trách anh chàng: “Chiều Ba mươi anh không đi Tết, rạng ngày Mồng Một anh không đi lạy bàn thờ, hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công”. Và rồi anh chàng cố gắng phân bua, biện minh cho sự “lỡ hẹn” của mình, mong cô nàng cảm thông: “Hôm Ba mươi anh mắc lo việc họ, sáng mồng Một anh bận việc làng, ông bà bên anh cũng bỏ huống chi bên nàng, nàng ơi!”. Nhiêu khê quá! Ai bày Tết nhất làm chi không biết!

    Tết là thế đó. Tết vừa minh nhiên vừa mặc nhiên. Tết cũng có biết bao phong tục, nghi thức, lễ nghĩa,… mà người ta phải thực hiện – dù muốn hay không. Một trong các nghi thức chứng tỏ lễ nghĩa là nhớ ơn người khác: “Mồng một tết Cha, mồng hai tết Chú, mồng ba tết Thầy”. Đó là “công thức” chung. Riêng nam giới hoặc quý ông đã có vợ thì có “kiểu” lễ nghĩa khác một chút, nhưng cũng không ngoài chuyện nhớ ơn. Ca dao nói:

    Mồng một thì ở nhà cha

    Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy.

    Tết còn là dịp nhắc nhở người ta phải sống chân thật, không được lọc lừa, giả dối, ăn không nói có,…

    Hễ ai mà nói dối ai

    Thì mồng một Tết, Ba Giai đến nhà.

    Đó là câu ca thể lục bát đã có từ khi Ba Giai và Tú Xuất còn sinh thời. Ba Giai là một biệt danh của một danh sĩ Việt Nam nổi tiếng hồi cuối thế kỷ XIX. Ông được biết nhiều bởi tài làm thơ châm biếm, với “đối tượng” chính là các quan lại tham nhũng, các trọc phú. Trong giai thoại dân gian, ông được biết đến là người trong cặp bài trùng với Tú Xuất. Tuy nhiên, theo lời truyền tụng trong dân gian và ý kiến của một số nhà nghiên cứu, Ba Giai còn có thể là tác giả của một thi phẩm chính luận “Hà Thành Chính Khí Ca”, gồm 140 câu thơ lục bát, được cho là sáng tác ngay sau khi Hà Nội bị quân Pháp xâm chiếm ngày 25-4-1882.

    Ba Giai có tên thật là Nguyễn Văn Giai, không rõ năm sinh và năm mất. Có thể ông sống vào khoảng thời gian triều đại các vua Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883), người làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận (nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP Hà Nội). Ông là con thứ ba trong gia đình nên người ta gọi là Ba Giai. Gia cảnh nghèo khó, cha mẹ mất sớm, ông đi làm thuê để có tiền ăn học. Ông học giỏi, nhưng gặp lúc nước nhà lâm cảnh loạn lạc, nên ông không được đi thi. Không rõ Ba Giai gặp và kết bạn với Tú Xuất thế nào và lúc nào, có thể hai ông thường gặp nhau vào thời gian giữa hai lần quân Pháp đánh chiếm Hà Nội (1872 và 1882). Có lẽ cùng từ quan hệ học hành thi cử mà hai ông kết thân với nhau.

    Tục ngữ có câu: “Mồng chín vía Trời, mồng mười vía Đất”. Có những thứ con người muốn mà không làm già được, thế nên người ta vẫn tin vào thần linh vô hình. Ngoài ra người ta còn có nhiều kiểu vui chơi trong mùa Xuân. Riêng vùng đất Nam Định có những câu ca dao giới thiệu những phiên chợ của họ một cách thú vị:

    Mồng một chơi cửa, chơi nhà

    Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình

    Mông bốn chơi chợ Quả linh

    Mồng năm chợ Trình, mồng sáu non Côi

    Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi

    Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng

    Chợ Viềng một năm mới có một phiên

    Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

    Ngày xưa, dân chúng chủ yếu là nông dân, công việc đồng áng theo mùa, có lúc vất vả nhưng có lúc lại nông nhàn. Vì thế, người ta ăn Tết không chỉ mấy ngày đầu Xuân mà người ta vui vẻ suốt tháng Giêng, rồi còn “lai rai” cả những tháng ngày kế tiếp:

    Tháng Giêng là tháng ăn chơi

    Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba rượu chè.

    Ca dao và tục ngữ là kho tàng văn chương quý giá, tuy bình dân nhưng vẫn sâu sắc và chứa nhiều bài học sống giá trị. Ngày Xuân có dịp đọc lại và ngẫm nghĩ về ca dao và tục ngữ thì thật là thú vị.

    Không hiểu vì sao người ta lại nói là “tết nhất”. Có thể do “vui nhất” – bởi vì người ta nói “vui như Tết” mà. Cũng có thể do “thảnh thơi nhất” và “ăn chơi nhiều nhất”. Dù sao thì Tết vẫn là nhất, nhưng cũng có cái mệt, có cái mệt nhưng lại cũng có cái “khác thường”. Xuân thật lạ, và đúng là “Tết nhất” thật!

    Thế nên, dù mệt thì cũng đáng để mệt trong niềm vui ngày Tết. Cũng vì thế, nhân dịp Xuân Mậu Tuất, xin tản mạn đôi dòng để “tám chuyện” về Con Chó.

    Chúng ta biết rằng Dụ Ngôn cũng được gọi là Ngụ Ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng có nghĩa khác nhau.

    – Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, “bịa” ra kiểu chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục để răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là con người hoặc thần linh.

    – Dụ ngôn (parable, parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu thường sử dụng thể loại này, tức là Ngài dùng “dụ ngôn” chứ không dùng “ngụ ngôn”.

    Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh thực tế trên thế gian nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài thích sử dụng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo, như Kinh Thánh đã xác nhận: “Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:34; Mc 4:34). Có khoảng 35 dụ ngôn trong các Phúc Âm nhất lãm.

    Có câu chuyện ngụ ngôn “Con Chó và Con Lừa” kể rằng…

    Ngày xưa, có một người đàn ông sống trong một ngôi nhà nhỏ ở nông trại. Ngôi nhà của ông có rất nhiều bàn ghế đẹp còn nông trại thì trồng rất nhiều loại rau củ ngon. Ông rất tự hào về ngôi nhà và nông trại của mình.

    Ông có nuôi một con lừa và một con chó nhỏ. Cả hai con đều được chủ chăm lo theo cách riêng khác nhau.

    Hàng ngày, con lừa làm việc ở nông trại. Nó làm việc rất siêng năng. Nó được chủ xây cho một cái chuồng để ở vào ban đêm. Đó là một cái chuồng ấm áp và rất thoải mái. Thế nhưng, con lừa lại không bằng lòng với điều đó. Nó luôn nghĩ về con chó nhỏ: “Mình phải kẻo xe và chở hàng cả ngày dài, còn con chó nhỏ ngu ngốc đó chỉ việc chơi đùa mà lại được mọi người quan tâm!”.

    Mà quả thật, con chó nhỏ suốt ngày chơi đùa ở nhà. Nó rất thích chơi đùa và chơi đùa rất khéo. Chính vì thế, mọi người trong nhà đều thích nựng nó.

    Sau một ngày nô đùa, tối đến, con chó nhỏ lại được ngủ trong căn phòng ấm áp ngay bên cạnh chủ nhân. Trong bữa ăn, con chó nhỏ thường làm những trò mà nó giỏi nhất. Nó ngồi trong lòng ông bà chủ và ăn những thức ăn thật ngon. Nó thật là một con chó may mắn!

    Con lừa nhìn qua cửa sổ và cảm thấy rất ganh tỵ. Nó nghĩ: “Con chó đó phải rất khôn ngoan đế được ông bà chủ chú ý, cưng chiều và được ăn ngon mà chẳng phải làm gì cả như thế”. Nó thầm nghĩ: “Ước gì mình có thể giống con chó đó. Ông bà chủ sẽ cưng chiều mình và mình chẳng cần phải làm gì ngoài việc chơi đùa cả”.

    Rồi một ngày nọ, nó chạy vào trong nhà và bắt đầu nô đùa giống như con chó nhỏ. Nó nhảy chồm khắp phòng. Nhưng vì quá to lớn và vụng về nên nó liên tục va vào đồ đạc, khiến căn phòng trở nên bề bộn vô cùng. Nó nghĩ “Không sao” và cố sủa giống như con chó nhỏ. Thế nhưng tất cả những gì nó phát ra được chỉ là tiếng “be be” mà thôi.

    Khi nhìn thấy những thức ăn thơm ngon trên bàn, nó bèn nhảy chồm lên lòng ông chủ giống như con chó nhỏ kia. Nó thầm nghĩ: “Đây có thể là bí quyết”. Giờ thì ông chủ sẽ đế ý đến mình, cưng chiều mình và cho mình ăn những thức ăn ngon giống như con chó nhỏ ranh mãnh kia”.

    Thế nhưng người chủ lại tỏ ra rất tức giận. Ông nhảy lên và hét lớn: “Đồ con vật vụng về! Mày nghĩ mày đang làm gì hả? Mày là con lừa chứ không phải con chó nhỏ đâu!”. Nói rồi ông vớ lấy cây chổi và đuổi con lừa trở về chuồng. Bà vợ chạy sau, tay cầm cái chày cán bột còn con chó nhỏ chạy sau cùng!

    Con lừa vừa kêu vừa chạy về chuồng của mình: “Be be… Be be…”. Nó tự nguyền rủa mình thật ngu ngốc khi giả bộ làm con chó nhỏ. Tốt hơn nhất cứ là con lừa, làm những việc mà một con lừa nên làm, ăn thức ăn dành cho lừa và ngủ trong cái chuồng của lừa.

    Con lừa tự nhủ: “Mình không giỏi làm con chó nhỏ, từ nay mình sẽ chỉ là lừa thôi”. Kể từ đó, nó chỉ làm những việc của một con lừa.

    Tục ngữ Việt Nam có câu: “Chó đen giữ mực”. Ý nói về tính bảo thủ, cố chấp, không phục thiện. Người ta cũng có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Đó là nói về bản chất cố hữu của con người, không dễ gì thay đổi. Tự nhiên, khó thay đổi chứ không phải là không thể thay đổi, khó mà có thể thay đổi thì chắc chắn nên thánh.

    Người này không thể là người khác. Chó đen không thể là chó trắng, chó vàng hoặc chó đốm. Chắc chắn như vậy. Nhưng người ta có thể “trở nên giống như người khác” bằng cách noi gương tốt của người khác. Ví dụ: Noi gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thánh,…

    Mỗi người đều có một hoặc hai tặng phẩm. Không ai không có. Không ai bất tài, vô dụng. Thiên Chúa tạo dựng mỗi người đều có mục đích theo sự quan phòng và tiền định của Ngài. Chúng ta không thể kiêu hãnh về ơn riêng của mình mà chê trách người khác!

    Ngày xưa, Thiên Chúa xác định với vua Ky-rô: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta” (Is 45:4). Và đó cũng là lời nhắn nhủ mà Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta vậy. Và hãy nghe lời Thiên Chúa giáo huấn chúng ta qua Kinh Thánh:

    a. “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho MỖI NGƯỜI. Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ thì phải phục vụ. Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát thì phải chân thành. Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12:6-8).

    b. “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, MỖI NGƯỜI trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4:10).

    Làm được bất cứ điều gì cũng là nhờ Hồng Ân của Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu đã minh định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5b). Thế thì có lý do gì để mà vênh vang tự đắc? Kiêu ngạo là ngu xuẩn và điên rồ. Tất cả đều nhờ bởi ơn Chúa. Thánh Vịnh gia đã cảm nhận và xác nhận: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 139:13-16).

    Con người dễ ảo tưởng nên dễ kiêu ngạo, thế nên Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho” (Rm 12:3). Mỗi người một việc, không việc nào hơn việc nào, không nghề nào trọng hơn nghề nào. Răng không thể chê môi yếu vì cứ phải dựa vào nó, nướu không thể ỷ lại mà chê răng không thể tự mình đứng vũng, lưỡi cũng không thể so bì với răng. Tất cả đều liên kết với nhau để thành cái miệng. Viên gạch nhỏ bé, nhưng mỗi viên gạch đều có công dụng để làm nên tòa nhà.

    Con Lừa ảo tưởng nên sinh lòng ghen tỵ với con Chó, đến khi nó thử thể hiện vai trò của con Chó thì không thể. Chê và trách luôn đi đôi với nhau. Vì không vừa ý mình nên mới “chê” người khác, vì “chê” nên buông lời “trách” đủ thứ. Đó là lỗi đức ái.

    Chính Thánh Phaolô cũng đã từng bị người ta trách là “đầy tham vọng”, và ông nói với họ: “Chúng tôi đâu dám cho mình ngang hàng hay so sánh mình với những kẻ tự cao tự đại kia. Nhưng khi họ lấy mình làm tiêu chuẩn để tự đánh giá và so sánh thì họ không được khôn” (2 Cr 10:12).

    TRẦM THIÊN THU Xuân Mậu Tuất – 2022

    Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

    Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

    Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Và Thâ
  • Xem Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Tự Trọng
  • 28 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái Dạy Chúng Ta Sống Ở Đời Phải Biết ‘nhường Cơm Sẻ Áo’
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập Ca Dao Tuc Ngu Viet Nam Toan Tap Doc
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Ngôn Về Pháp Luật – Công Lý – Luật Sư
  • Những Địa Danh Sài Gòn (2)
  • Kho Tàng Danh Ngôn Về Sách
  • Danh Sách Những Câu Tục Ngữ Hay Và Ý Nghĩa Trong Tiếng Nhật
  • Tuyển Tập Các Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Nhật
  • Mùa Xuân Đất Việt Qua Ca Dao Và Tục Ngữ (Trường Thy)

     TRƯỜNG THY

    Trong kho tàng Văn Chương Bình Dân, nói khác đi là Văn Chương Truyền Khẩu gồm nhiều thể loại, song thông thường, dễ nhớ và thường nghe nhắc nhở nhiều, đó chính là Tục Ngữ và Ca Dao.

    Trên bình diện Văn Học và đời sống, Tục ngữ có địa bàn rộng rãi hơn, mang tính phổ cập và được coi như là “Túi khôn của nhân loại”, ví dụ ta nói:

    Cha nào con nấy

    Người Anh, người Mỹ nói:

    Like father like son

    Và người Pháp nói:

    Tel père tel fils

    hoặc:

    Xa mặt cách lòng

    Người Anh/Mỹ nói:

    Out of sight, out of mind

    và người Pháp nói:

    Loin des yeux loin du Coeur v.v.

    Trong khi Ca Dao mang tính địa phương hơn, tùy thuộc vào văn hóa và môi trường, hoàn cảnh sống của mỗi dân tộc v.v.

    Ca Dao có đặc tính chung là bao trùm mọi sinh hoạt gia đình, xã hội, và nếp sống tinh thần cũng như tình cảm con người trong một xã hội.

    Nói đến sinh hoạt gia đình và xã hội là nói đến sự bao gồm cả lễ nghi tôn giáo, hội hè đình đám v.v.

    Tóm lại là Ca Dao phản ảnh mọi tình tự trong: Quan – Hôn – Tang – Tế và ở một khía cạnh nào đó còn được coi là “Lịch sử ngầm”, ví như những câu nói về Huyền Trân công chúa:

    Tiếc thay cây quế giữa rừng

    để cho chú mán chú mường nó leo!

    Nhân dịp Xuân về, người người dù ở trên quê hương hay đang thả bước lưu vong nơi hải ngoại đều nô nức sắm sửa đón

    Xuân, mừng Tết Nguyên Đán vì đó là truyền thống, là văn hóa dân tộc nên không tránh khỏi những giây phút bồi hồi trong tâm hồn vào những chiều cuối năm:

    Mỗi khi nghe nói đến xuân

    bỗng dưng lòng thấy bâng khuâng ít nhiều

    Để nhớ lại những mùa Xuân qua trên quê hương của một thời nước non thanh bình, từ phố phường, thành thị đến đồng quê thôn trang, mọi người tưng bừng mừng Tết, đón xuân, nhà nhà đều vui với: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ” thiết tưởng không gì hơn là cùng nhau ôn lại những áng Ca Dao để gợi lại trong ta những khúc tình quê ngọt ngào, nhiều vương vấn và cũng là để có dịp hun đúc tinh thần trong sứ mệnh duy trì và phát huy văn hóa cổ truyền.

    Mỗi năm mới có một lần, những ngày cuối đông cũng là những ngày cuối năm. Năm hết Tết đến, nhà nhà lo lắng đủ điều, nào là công nợ, việc làm dở dang, nào là lo sửa sang nhà cửa, mua sắm đồ Tết v.v.

    Quanh năm cuộc sống tất bật, Tết đến mừng vui song không tránh được những âu lo về tài chánh, về vật chất nên Ca Dao có câu:

    Tết đến sau lưng

    trẻ con thì mừng

    người lớn thì lo.

    Chính vì phải mua sắm đủ điều cho mấy ngày Tết nên chật vật, thiếu hụt, do đó người đời có câu:

    Đi cày ba vụ không đủ ăn ba ngày Tết!

    Trong tâm tư người dân Việt luôn canh cánh những ưu tư, đã vậy lại còn bị những gánh tuồng, gánh hát kéo đến làm rộn những âu lo:

    Bây giờ tư tết đến nơi

    tiền thì không có sao nguôi tấm lòng

    nghĩ mình vất vả long đong

    xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi

    về nhà công nợ nó đòi

    trong lòng bối rối đứng ngồi không yên.

    Trong một xã hội luôn có kẻ nghèo người giầu song những ngày thường trong năm ít ai để ý, đến cuối năm nhìn vào việc mua sắm mới hay nhà ai khấm khá, nhà ai túng quẫn. Cảnh huống ấy cũng từng được ghi nhận qua mấy câu:

    Có/không mùa Đông mới biết

    Giầu/nghèo ba mươi Tết mới hay.

    Từ ngày xưa, những ngày sống trên đất tổ, Tết là dịp quan trọng, những ai vì hoàn cảnh phải xa nhà, rời bản quán cũng cố gắng thu xếp để gồng gánh, dìu dắt nhau về đón Tết, mừng tuổi ông bà, cha mẹ, họ hàng. Theo tục lệ này hầu như mọi người đều thuộc lòng những câu ca và cứ theo như thế mà làm:

    Mồng Một tết cha

    mồng Ba tết thầy.

    hoặc nói khác đi cho đầy đủ, trọn tình trọn nghĩa hơn, nếu như đã có gia đình riêng thì không thể quên lãng bổn phận:

    Mồng Một thì ở nhà cha

    mồng Hai nhà vợ, mồng Ba nhà thầy.

    Sở dĩ có lệ tết thầy vì người Việt ta luôn có tinh thần “Tôn sư trọng đạo” và đã được giáo huấn từ thuở ban sơ:

    Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa

    bởi:

    Không thầy đố mày làm nên

    Trong nền tảng giáo dục ấy, cái ĐỨC rất quan trọng. Vào hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20, ở Thăng Long Thành xuất hiện hai nhân vật nổi tiếng về trào phúng, hay trêu chọc thiên hạ, đó là Ba Giai và Tú Xuất. Từ đó như để nhắc nhở, răn đe những kẻ hay ăn gian, nói dối, người ta có câu:

    Hễ ai mà nói dối ai

    Thì mồng Một Tết Ba Giai đến nhà.

    Trong tập trường thi Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng đã không bỏ qua tục lệ Tảo Mộ vào mùa Xuân, những ngày tháng đầu năm:

    Thanh minh trong tiết tháng Ba

    Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.

    Người dân vẫn có lệ Chạp Mả, dọn dẹp cỏ rác cho các ngôi mộ vào tháng Chạp để mời gia tiên về ăn Tết. Lệ này cũng rất quan trọng đối với lòng hiếu của con cháu nên người đời thường nhắc nhớ nhau qua những câu:

    Đi đâu thì mặc đi đâu

    đến ngày giỗ chạp phải mau mà về

    Ảnh hưởng của tục lệ này cũng rất sâu sắc, trong đó có Lễ Bàn Thờ Gia Tiên. Lơ là hay quên lãng là điều bất hiếu vì thế nên có người con gái đã trách vị hôn phu của nàng:

    Chiều Ba Mươi anh không đi Tết

    rạng ngày Mồng Một anh không đi lạy bàn thờ

    hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công!

    Thế rồi người con trai thấy mình có lỗi bèn kiếm cớ biện bạch chạy tội bằng cách nói bận việc làng:

    Hôm Ba Mươi anh mắc lo việc họ

    Sáng Mồng Một anh bận việc làng

    Ông bà bên anh cũng bỏ huống chi bên nàng, nàng ơi.

    Nếp sống của người dân không chỉ gắn bó với đồng ruộng mà còn phần nào theo đuổi thương nghiệp. Trong lãnh vực này, nhất là vào dịp Tết, nếu không nhắc đến chợ phiên quả là điều thiếu sót. Chợ Tết là chợ cuối năm bày bán những món hàng từ hoa trái, trang phục đến đồ chơi, đồ thờ, đồ dùng cho mấy ngày Tết; cũng có thể còn là phiên chợ đầu năm, họp để lấy hên, lấy ngày. Vào thời điểm này, không chỉ là ở khu chợ mà có thể còn là tại một khoảng đất trống nào đó, người ta tổ chức những trò chơi như: đánh đu, đô vật, bịt mắt đập niêu, ném vòng v.v.

    Chợ phiên có những nơi một năm chỉ họp một lần vào ngày nào đó cuối năm, ví như ta vẫn từng nghe:

    Bỏ con bỏ cháu

    Không ai bỏ hai mươi sáu chợ Yên

    Bỏ tổ bỏ tiên

    Không ai bỏ chợ Viềng mồng tám.

    Chợ Yên và chợ Viềng là tên hai chợ ở Nam Định ngày trước, đó là những phiên chợ sầm uất quy tụ rất đông, nam phụ lão ấu, kể cả những vùng lân cận cũng kéo đến mua sắm.

    Tại cố đô Huế, dân đất thần kinh có chợ phiên Gia Lạc gần thôn Vỹ Dạ, hàng năm chỉ nhóm họp trong mấy ngày Tết, thường thì từ 29 tháng Chạp đến mồng ba Tết. Theo truyền thuyết thi do vị hoàng tử thứ tư của vua Gia Long cho họp vào ba ngày đầu năm trên một khoảng trống gần phủ đường, lúc đầu có ý để người trong hoàng tộc tiện tới mua sắm, sau dân làng chung quanh cũng được tham dự nên có câu:

    Gia Lạc chỉ mở ngày xuân

    Quanh năm suốt tháng khó lần tìm ra.

    Tỉnh Vĩnh Yên có chợ Dưng, Dưng là tên của làng Văn Trưng thuộc phủ Vĩnh Tường. Hàng năm nơi đây mở hội Xuân vào mồng sáu tháng Giêng. Trong phiên chợ cũng nhiều trò chơi, đặc biệt có trò chơi “nam nữ bắt chạch trong chum”. Do đó người dân cũng có câu:

    Bỏ con bỏ cháu

    Không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng.

    Rồi nữa, huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa có chợ phiên Cầu Quan, dân ở đây còn gọi là chợ Thượng, họp ngay bên bờ con sông đào. Người ta đi chợ còn được thú vui xem đua thuyền rồng thật vui mắt:

    Cầu Quan vui lắm ai ơi

    Trên thì họp chợ, dưới bơi thuyền rồng.

    Vùng Quan Họ Bắc Ninh cũng khá nhiều chợ phiên nổi tiếng một thời qua những câu hát:

    Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi

    Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hướng Canh

    Những tên gọi Xứ Nam, Xứ Bắc, và Xứ Đoài là có ý chỉ các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, và Sơn Tây.

    Vùng đất Nam Định người ta cũng được nghe những câu ca nói về những thú vui nơi các phiên chợ trong những ngày đầu xuân:

    Mồng Một chơi cửa, chơi nhà

    Mồng Hai chơi xóm Mồng Ba chơi đình

    Mồng Bốn chơi chợ Qủa Linh

    Mồng Năm chợ Trình Mồng Sáu Non Côi

    Qua ngày Mồng Bảy nghỉ ngơi

    Bước sang Mồng Tám đi chơi chợ Viềng

    Chợ Viềng một năm mới có một phiên

    Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

    Theo tục lệ ngày Tết Nguyên Đán người ta trồng cây nêu trước nhà có ý để xua đuổi tà ma không cho xâm nhập nên trong dân gian có câu:

    Thứ nhất nêu cao

    thứ nhì pháo kêu.

    Trong tâm thức người Việt cho rằng cây nêu là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực xua tan những điều xấu xa, và tràng pháo nổ dòn là niềm vui, hạnh phúc và may mắn. Nhà nào có cây nêu cao là giầu sang, quyền quý:

    Cu kêu ba tiếng cu kêu

    Trông mau đến Tết trồng nêu ăn chè

    Những lễ nghi trong ngày Tết ngoài việc cúng gia tiên còn lệ cúng trời cúng đất. Vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày Mồng Mười tháng Giêng là ngày vía đất nên có câu nhắc nhớ người dân:

    Mồng Chín vía trời

    Mồng Mười vía đất

    Sáng ngày đầu năm các viên chức trong làng, xã cùng các vị bô lão tụ họp về đình làng để cầu cùng Thành Hoàng và các thần linh phù trợ cho dân làng qua những câu vừa chúc tụng vừa khấn nguyện:

    Chúc mừng thượng đẳng tối linh

    Phù trì dân xã hiển vinh sang giầu

    trước đình lại có rồng chầu

    có đôi quy phụng tựa mầu non tiên

    giữa đình có đấng bát tiên….

    Trong những ngày xuân vô vàn trò chơi; tuy nhiên, mỗi lớp tuổi thường thiên về những môn chơi thích hợp. Trẻ có trò chơi của trẻ, ví như miền Bắc có trò hát “Xúc xắc, xúc xẻ”. Thường vào đêm giao thừa nhóm trẻ chừng mươi, mười lăm em cầm ống bơ đựng vài đồng tiền kẽm, rủ rê nhau đến từng nhà hát mừng gia chủ năm mới gặp nhiều may mắn, mọi sự hạnh thông:

    Xúc xắc xúc xẻ

    Nhà nào còn đèn còn lửa

    mở cửa cho chúng tôi vào

    bước lên giường cao có đôi rồng ấp

    bước xuống giường thấp có đôi rồng chầu

    bước ra đàng sau có nhà ngói lợp

    ngựa ông còn buộc

    voi ông còn cầm

    ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ

    vợ ông sinh đẻ

    những con tốt lành

    những con như tranh…

    một vài nơi khác lại có tục hát ”Sắc Bùa” theo điệu dân ca của từng địa phương. Cũng có nơi kết hợp múa và hát cũng trong điệu dân gian. Đặc biệt là một vài xã miền biển quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, Phường Sắc Bùa còn đặt ra những câu hát riêng cho mỗi ngành nghề:

    Thánh chúa vạn niên

    Thánh chúa vạn niên

    Chúng tôi nay dâng cách đội đèn

    Thái hòa gặp tiết xuân thiên

    Gió đưa chồi ngọc, hoa chen cành vàng

    Trong nhà ta đèn thắp sáng trưng

    Song le còn muốn chơi trăng ngoài thềm

    để cho trong ấm ngoài êm….

    Cũng trong những ngày hội xuân, thanh niên nam nữ tổ chức hát hò, nào là hát dặm, hát đố/đối, hát quan họ, hát trống quân v.v., những điệu hát và lời ca mang tính trữ tình như nhắn nhe, ngỏ ý, trao duyên v.v.

    Tới đây viếng cảnh thăm hoa

    trước mừng các cố sau là mừng dân

    sau nữa xin mừng cả làng tuần

    mừng cho nam nữ chơi xuân hội này

    một mai đàn có bén giây

    ơn dân vạn bội biết ngày nào quên.

    Và tình tứ hơn ta nghe:

    Mở đầu chàng trai khéo léo ướm hỏi:

    Tiện đây Mận mới hỏi Đào

    vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

    Cô gái đáp:

    Mận hỏi thì Đào xin thưa

    vườn hồng sẵn lối nhưng chưa ai vào

    Sự tình đã rõ: vườn hồng để ngỏ đấy song ai thấy có đủ bản lĩnh thì xin mời bởi cuộc đối đáp cũng còn gay go lắm đấy:

    Chàng khoe chàng lắm văn chương

    Nên đây thiếp mới hỏi rằng:

    Dầu gì không ai thắp

    bắp gì không ai rang

    than gì không ai quạt

    bạc gì chẳng ai mua?

    Anh cả anh hai đó ơi

    Ai bên chàng đáp được thiếp bên này xin theo.

    Gặp dịp như mở cờ trong bụng, chàng trai có chút học thức bèn lên tiếng đối đáp:

    Dầu thoa không ai thắp

    bắp chuối chẳng ai rang

    than thân không ai quạt

    bạc tình chẳng ai mua

    cô cả cô hai đó ơi.

    hoặc như khúc hát đố, thử tài tính toán của nhau cũng rất tình tứ trong lời nhắn nhe. Chàng trai lên tiếng trước:

    Đôi ta thấy toán thì mê

    Em đi đố trước anh về đố sau

    thỏ, gà ăn ở cùng nhau

    đếm chân ba mươi sáu đếm đầu mười ba

    toán đề em giảng cho ra

    thì anh kết nghĩa giao hòa cùng em

    cô gái cũng nhanh nhẹn đáp lại:

    Được rồi em tính anh xem

    Anh giờ đứng tuổi còn em trưởng thành

    hợp đề em thấy rành rành

    thỏ năm gà tám cộng thành mười ba

    nghĩa là mười sáu chân gà

    hai mươi chân thỏ bài ra đúng rồi

    anh còn đố nữa hay thôi

    hay là anh tính thề bồi chi đây.

    Trong dịp Xuân về, Tết đến, người Việt còn có những thú vui tao nhã, đó là thú chơi câu đối, nói đến câu đối đỏ ta thường nghĩ ngay tới bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên:

    Mỗi năm hoa đào nở

    lại thấy ông đồ già

    bày mực tầu giấy đỏ

    bên phố đông người qua

    thế rồi:

    nhưng mỗi năm mỗi vắng

    người thuê viết nay đâu

    giấy đỏ buồn không thắm

    mực đọng trong nghiên sầu.

    Các cụ đồ luôn nghĩ ra những câu đối cho phù hợp với gia cảnh và tình huống của mỗi người, mỗi nhà, và để thêm vào những chuyện vui trong ngày Xuân chỉ xin ghi lại đây một vài giai thoại về câu đối:

    Tết với nhất, nhất với tết, một Tết một bết

    Cậu lớn còn đang suy nghĩ thì em nhỏ đáp ngay:

    Hội cùng hè, hè cùng hội, hai hè hai nhè.

    Và một giai thoại nữa nói lên một tình cờ mà tuổi trẻ đã đáp ứng được yêu cầu của người lớn qua vế đối. Chuyện kể ông Nghè Thanh có đứa cháu nội 7 tuổi, sáng 30 đòi tiền mua pháo, bà nội cho tiền mua nhưng tối đến định đem pháo ra đốt lại sợ nên nài nỉ ông nội đốt hộ. Bà nội thấy vậy bật cười…, đốt pháo xong cậu bé đói bụng chạy vô đòi ăn, bà nội mắng “Đồ mua pháo mượn người đốt”, cậu cháu cãi lại “Ông đốt chứ người nào đâu”. Bà Nghè nói muốn ăn thì phải đối được câu này:

    Mua pháo mượn ông đốt

    Cậu bé nói “Cháu đói quá rồi không đối được – Lấy giò cho cháu ăn”

    Bà nội chưa kịp nghĩ ra bèn nói không đối được thì đừng ăn.

    Ông Nghè nghe vậy bèn cười nói với bà Nghè “Cháu nó đối rồi đó, Lấy giò cho cháu ăn đối với Mua pháo mượn ông đốt thì chỉnh qúa rồi còn gì. Thế là bà nội đành phải chiều cháu.

    Xuân về đón Tết mà có những thú vui như thế thật là hạnh phúc. Tiếc rằng thời ấy đã qua mất rồi. Ngày nay trên quê hương mùa xuân vẫn về,

    www.hocxa.com.

    Trường Thy

    Văn Hóa Việt Nam, số 64 – Mùa Xuân 2014

    Cùng Tác Giả

  • --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Khỉ
  • Giáo Án Đạo Đức
  • Giọng Nói Giao Tiếp Trong Tục Ngữ Người Việt
  • Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato
  • Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam Ebook Pdf
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Về Lòng Người Ý Nghĩa, Sâu Sắc!
  • Lời Chúc Sinh Nhật Ngọt Ngào Không Thể Bỏ Qua Gửi Tới Người Thân Yêu
  • Stt Chúc Người Yêu Cũ Hạnh Phúc Bên Người Mới
  • Lời Phật Dạy Về Nghệ Thuật Giữ Gìn Sắc Đẹp
  • Stt Ngày Cuối Tuần Đầy Cô Đơn Và Ảm Đạm
  • Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

    CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

    Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

    Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

    Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

    THÀNH NGỮ

    Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

    Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

    Thành ngữtục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

    Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

    Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Của Mẹ Mother’s Day 2022 Ở Việt Nam Là Ngày Nào? Quà Tặng Ý Nghĩa
  • Những Câu Nói Hay Về Con Gái Thời Nay Được Dân Mạng Chia Sẻ Nhiều Nhất
  • Lời Chúc Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Cho Đồng Nghiệp Hay, Ý Nghĩa Nhất 2
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Giao Thương
  • Nslide Những Câu Nói Nổi Tiếng Trong Tam Quốc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100