Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Ngày đăng: 02/04/2014, 22:20

    QUA 2 MIỀN NAM QUA 2 MIỀN NAM BẮC Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau Bắc Cuốc Nhanh, Nam Đi Bộ mau mau Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ Nam mần Sơ Sơ, Bắc Nàm Nấy Nệ Bắc Lệ trào, Nam Chảy nước mắt ra Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da Bắc Bước vào kia, Nam Đi vô trỏng Nam kêu Vạc Tre, Bắc là cái Chõng Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Luận ngược xuôi Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Đó Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ Nam Muỗng Phê, Bắc gọi cái Thìa Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi Dìa Nam Đi Tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi Nam Nói Dai , Bắc cho là Lải Nhải Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô Nam Đi trốn , Bắc cho là Lánh Mặt Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Đắt Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại Nam Ngu Ghê, còn BắcQuá Dại Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi? Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải Nam thì Dạ, Bắc thưa Vâng ạ Nam kêu Biểu, Bắc nói là Bảo Nam xài Tui, Bắc lại xưng Tôi Nam hô Qua, Bắc nhỏ nhẹ Anh Nam thấy Hên, Bắc thời May Quá Nam Mắc Cười, Bắc bảo Buồn Cười Nam chê Mắc, Bắc thì bảo Đắt Nam nói Ưng Ghê, Bắc nói Hài Lòng Nam Thây Kệ, Bắc thì Mặc Kệ Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U Bắc gọi thích ghê, Nam kêu là khoái Nam kêu Hái Bắp, Bắc bảo vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn! Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp Bắc bảo Cao to, Nam cho là lớn Ðùa mà không thật, Bắc bảo là điêu Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê Bắc bảo Sướng Phê, Năm rên Đã Quá! Bắc hay đi phá, Bắc đả bằng gươm Nam chọc bị lườm, kiếm Nam, Nam thọt Bắc ngồi Bia Bọt, Nam nhậu La-De Bắc Bùi Bùi lạc rang, Nam Thơm Thơm đậu phụng Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả” Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia” Nam chửi “tên chua”, Bắc rủa “đồ phải gió” Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt Bắc gọi cái rèm, Nam kêu cái màn Bắc gọi cái màn, Nam kêu cái mùng Bắc bảo đắp chăn, Nam biểu đắp mền Bắc gọi cái môi, Nam kêu cái vá (louche) Bắc gọi là nem Nam kêu thịt nướng Bắc gọi là ruốc Nam kêu thịt chà bông Bắc gọi là ninh Nam kêu là hầm Bắc gọi con lợn, Nam kêu con heo Bắc xuýt xoa “Cái Lan đẹp cực!”, Nam trầm trồ “Con Lan đẹp dễ sợ!” Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Ðau Bắc Cuốc Nhanh, Nam Ði Bộ mau mau Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ Nam mần Sơ sơ Bắc nàm nấy nệ Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da Bắc bước vào kia, Nam Ði vô trỏng Nam kêu Vạc Tre, Bắc là cái chõng Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Ðó Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ Nam Muỗng phê, Bắc gọi cái Thìa Nam muỗng canh, Bắc gọi cái cùi dìa Nam Ði Tuốt, thì Bắc lìa xa mãi Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô Nam Ði trốn, Bắc cho là Lánh Mặt Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Ðắt Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại Nam Ngu ghê, còn BắcQuá Dại Nam Sợ Ghê Bắc thì Hãi Quá đi Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải *** Bắc gọi thích ghê, Nam kêu là khoái Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn! Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Một Bản Khác Tiếng Việt dễ thương qua 2 miền Nam, Bắc Đọc Được từ một Forum bạn chuyển lại cho các ACE xem chơi. Ai có rồi cứ đọc lại không sao. NÔ CHẠT- (Phờ)Riiiiii Tiếng Việt dễ thương qua 2 miền Nam, Bắc Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc gọi lọ, Nam kêu chai Bắc mang thai, Nam có chửa Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi Ôi! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh Bắc định đến muộn , Nam liền la trễ Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng Bắc nói trổng Thế Thôi , Nam bâng quơ Vậy Đó Bắc đan cái Rọ , Nam làm giỏ Tre, Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo! Nam : ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn ! Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam : ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá ! Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm Nam mê phiếm, Bắc thích đùa Bắc vua Bia Bọt , Nam chúa La-De Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam : Thơm Thơm đậu phọng Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả” Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia” Nam mỉa “tên chua”, Bắc rủa “đồ phải gió” Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt Đến khi Nam địt, Bắc hô đánh rấm Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực!”, Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!” Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu… . CA DAO TỤC NGỮ QUA 2 MIỀN NAM BẮC CA DAO TỤC NGỮ QUA 2 MIỀN NAM BẮC Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau Bắc. thương qua 2 miền Nam, Bắc Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc gọi lọ, Nam kêu chai Bắc mang thai, Nam có chửa Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi Ôi! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm Bắc cáo Ốm, Nam. Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi? Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải Nam thì Dạ, Bắc thưa Vâng ạ Nam kêu Biểu, Bắc nói là Bảo Nam xài Tui, Bắc lại xưng Tôi Nam hô Qua, Bắc nhỏ nhẹ Anh Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Miền Tây, Miên Nam, Miền Bắc, Miền Trung

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 15 Lời Chúc Giáng Sinh Cho Người Yêu Hay Nhất
  • Những Stt Tâm Trạng Buồn Con Trai Đầy Ý Nghĩa Giúp Bạn Nhận Ra Nhiều Điều
  • Tổng Hợp 69+ Stt Về Tình Bạn Tan Vỡ, Thất Vọng Về Bạn Bè Hay Nhất
  • Những Lời Chúc Giáng Sinh Ngọt Ngào Nhất Dành Cho Người Thân
  • Những Lời Chúc Tết Dành Cho Khách Hàng Hay Và Ý Nghĩa Nhất.
  • Việt Nam là 1 nước có địa hình khá đặc biệt khi diện tích tự nhiên trải dài từ bắc vào nam và chia làm 3 miền khá khác biệt với nhau về nhiều nét như khí hậu, văn hóa và cả con người. Tất nhiên chúng ta vẫn là người Việt Nam nên những điểm chung cũng rất nhiều nhưng nhiều nét văn hóa cũng rất khác biệt giữa 3 miền. Và từ xưa cũng có rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói về sự khác biệt hoặc những đặc trưng của 3 miền Bắc trung nam. Những câu ca dao tục ngữ về miền Tây, miên Nam, miền Bắc, miền Trung hay và ý nghĩa nhất

    Miền tây có 1 nét đẹp rất riêng cả về con người lấy hình ảnh đặc trưng sông nước Cửu Long

    Miền Tây là một miền có nhiều kênh rạch, sông suối chằn chịt của nước ta. Đây là khu vực có có nhiệt độ và khí hậu ổn định quanh năm, nơi đây thường ít xảy ra thiên tai và có mưa thuận gió hòa. Miền Nam là miền có sự phát triển kinh tế, xã hội nhất nước ta, nơi đây tập trung kinh tế, chính trị xã hội của cả nước. miền Bắc là nơi có khí hậu thấp nhất nước ta, là nơi chịu khí hậu lạnh giá nhất nước. miền Bắc là nơi có nhiều sự kiện lịch sử, những giá trị văn hóa có giá trị của nước ta. Miền Trung là miền có khí hậu khắc nhiệt nhất nước ta, có nhiều thiên tai xảy ra nhất trong cả nước. để hiểu rõ hơn các vùng miền trong cả nước chúng ta cùng đi tìm hiểu về những câu ca dao tục ngữ về miền Tây, miên Nam, miền Bắc, miền Trung.

    Những câu ca dao tục ngữ về miền Tây:

    Câu 1:

    • Trúc xinh trúc mọc đầu đình
    • Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh

    Miền Tây là một miền có sựu nổi tiếng về các loại trái cây, có những đặc điểm về miền sông nước của cả nước. câu ca dao trên nói về miền tây, một vùng rất đẹp và có nhiều điểm du lịch nổi tiếng.

    Câu 2:

    • Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều
    • Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau

    Mỗi vùng miền nước ta có những đặc điểm khác nhau, những đặc điểm được thể hiện qua những câu ca dao tục ngữ rất đặc sắc và xuất sắc. những câu ca dao về miền Tây thường là những câu hát du dương, đặc sắc.

      Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời.

    Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm

    Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.

    Ca dao tục ngữ về miền Nam:

    Câu 1:

    • Thương em anh biết để đâu
    • Để trong túi áo lâu lâu lại dòm

    Những câu ca dao tục ngữ thể hiện về các vùng miền thường không thể đánh giá chính xác là chính xác thuộc vùng nào. Tuy nhiên câu ca dao trên chỉ mang tính chất tham khảo.

    Câu 2:

    • Muỗi kêu như sáo thổi
    • Đỉa lội như bánh canh
    • Cỏ mọc thành tinh
    • Rắn đồng biết gáy

    Những câu ca dao tục ngữ về miền Nam là những câu tục ngữ, ca dao thể hiện về đặc điểm, đặc tính của vùng này. Bên cạnh đó còn có thể hiện vẻ đẹp của con người, thiên nhiên của vùng này.

      Rừng thiêng nước độc thú bầy

    Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”

      Tháp Mười nước mặn, đồng chua

    Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng”

      U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường

    Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.

      Cà Mau khỉ khọt trên bưng

    Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.

      Tháp mười sinh nghiệp phèn chua

    Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”.

    Chim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghê”

    Xuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”.

    Hết củi thì có Tân Sài chở vô

      Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai

    Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.

    Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng

    Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.

    Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già

      Đồng Nai gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thì không muốn về.

    Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.

    Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.

      Biên hoà bưởi chẳng đắng the

    Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh.

      Làm trai cho đáng thân trai

    Phú Xuân đã trải , Đồng Nai đã từng

    Ca dao tục ngữ về miền Trung:

    Câu 1 :

    • Gió đưa cành trúc la đà,
    • Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương .

    Đây là câu ca dao nói về tỉnh Thừa Thiên Huế, một tỉnh của miền Trung. ở câu ca dao trên thể hiện sự đặc trưng của của tỉnh này như chùa Thiên Mụ, Thọ Xương,…

    Câu 2:

    • Ngó lên hòn Kẻm đá dừng,
    • Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !

    Đây là câu ca dao nói về một địa danh của tỉnh Quảng Nam. Câu ca dao đã nhắc đến những địa danh, cảnh đẹp nổi tiếng của nơi đây như Hòn Kẽm, Đá Dừng,…

      Cây đa nào cao bằng cây đa Bàng Lảnh ,

    Đất nào thắng cảnh bằng đất Bảo An,

    Chỗ nào vui cho bằng chỗ Phố chỗ Hàn .

      Đường vô xứ Huế quanh co,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ .

      Thương em anh cũng muốn vô ,

    Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.

      Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm ,

    Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say .

    • Thình tình như cái Đình La Qua .
    • Học trò xứ Quảng ra thi ,

    Thấy cô gái Huế chân đi không đành .

    Con gái Bình Định cầm roi đi quyền .

    Quảng Ngãi hay lo ,

    Bình Định nằm co ,

    Thừa Thiên ních hết !

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

      Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ..

    Cách một trái núi với ba quãng đồng

    Ai ơi đứng lại mà trông

    Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ

    Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ

    Bụng anh vẫn phẳng như tờ giấy phong…

    Để thương để nhớ để sầu cho ai (Hội An- Quảng Nam)

      Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm

    Rượu hồng đào chưa nhấm đã say.

      Quảng Nam có lụa Phú Bông

    Có khoai Trà Đỏa có sông Thu Bồn

    Mây giăng chớp giật trời đà chuyển rung (Đà Nẵng)

    Ca dao tục ngữ về miền Bắc:

    Câu 1:

    • Bắc Cạn có suối đãi vàng
    • Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Đây là câu ca dao nói về một địa danh nổi tiểng ở miền Bắc đó là Bắc Cạn. tỉnh Bắc Cạn nổi tiếng với hồ Ba Bể với suối đãi vàng, những câu ca dao nói về địa danh đều chỉ ra những đặc điểm của vùng, của tình đó.

    Câu 2:

    • Con cò lặn lội bờ sông
    • Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non
    • Nàng về nuôi cái cùng con
    • Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Câu ca dao trên nói về tỉnh Cao Bằng, một tỉnh có nhiều cảnh đẹp và thơ một ở miền Bắc. cảnh đẹp nơi đây đã khiến bao người phải xuýt xoa, xao xuyến.

      Ai lên làng Quỷnh hái chè

    Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!

    Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh

    Muốn ăn cơm trắng cá rô

    Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!

      Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

      Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

      Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắng, quả mơ non

    Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?

    Con công cái bán ra vào chùa Hương

    Chim đón lối, vượn đưa đường

    Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.

      Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

      Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 999+ Stt Về Con Gái Tóc Ngắn Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • 11 Câu Nói Hay Về Tình Yêu Trong Hôn Nhân
  • Những Câu Danh Ngôn Tiếng Anh Hay Về Sách
  • Yêu Em Từ Cái Nhìn Đầu Tiên
  • Thơ Và Status Hay Viết Về Ngày Lễ Vu Lan Báo Hiếu Cảm Động Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ 3 Miền Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao Tục Ngữ Trong Ẩm Thực Việt Nam Pot
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Món Ăn, Ăn Uống, Ẩm Thực
  • 38 Câu Thành Ngữ Trong Tiếng Anh Dễ Nhớ Nhất Với Người Việt
  • Có Ai Biết Ca Dao Tục Ngữ Về Bà Rịa Không?
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Long An:

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Tiền Giang:

    Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Đồng Tháp:

    Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Hoa Sa Đéc

    Cần Thơ:

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Bạc Liêu:

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang:

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau:

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.

    Rừng quốc gia U Minh Hạ

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Hồ Ba Bể Cao Bằng:

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ngày mùa – Cao BằngBắc Giang:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Chùa Hương

    Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắn, quả mơ non

    Mơ chua sắn ngọt, biết còn thương chăng?

    Đường phố Hà Nộ i

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Cầu bắc qua sông Lam Quảng Bình:

    Quảng Trị: Phong Nha – Kẻ Bàng Sông Hương – Núi Ngự Quảng Nam:Cù Lao Chàm Đèo Ngang

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.”

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.Cổng thành Quảng Trị

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.

    Hạt sen Hồ Trịnh…”

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi:

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    Đậu xanh

    Sơn Tịnh”.

    Mạch nha Thi Phổ

    Nem chua chợ Huyện”

    Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Chả viên Bình Định vừa ngon vừa lành

    Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Núi Vọng Phu

    Phú Yên:

    “Xoài đá trắng

    Sắn Phương lụa”

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Khánh Hòa:

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều…

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội: Thời Gian Là Vàng Bạc, Văn Mẫu Lớp 7, Tu
  • Giới Thiệu Sách Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Top 5 Cuốn Sách Hay Nhất Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
  • Nếu Đã Không Yêu Em, Đừng Chúc Em Hạnh Phúc
  • Đọc Chap 13 : Xin Lỗi!! Anh Phải Lấy Cô Ta , Chúc Em Hạnh Phúc
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.

    Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Hoa Sa Đéc

    Cần Thơ:

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Bạc Liêu:

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang:

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.

    Rừng quốc gia U Minh Hạ

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ngày mùa Cao BằngBắc Giang:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắn, quả mơ non

    Mơ chua sắn ngọt, biết còn thương chăng?

    Đường phố Hà Nộ i

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Cầu bắc qua sông Lam

    Nhớ Thanh Chương ngon nhútNhớ Nam Đàn thơm tương…

    Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn

    .

    Hoành Sơn Quan

    Đèo Ngang

    Quảng Bình:

    Phong Nha Kẻ Bàng

    Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn

    Rượu dâu Thuận Lý…

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.

    Cổng thành Quảng Trị

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh.

    Sông Hương Núi Ngự

    Hạt sen Hồ Trịnh…

    Quảng Nam

    :

    Cù Lao Chàm

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi

    :

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    Đậu xanh

    Sơn Tịnh

    .

    Mạch nha Thi Phổ

    Nem chua chợ Huyện

    Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Chả viên Bình Định vừa ngon vừa lành

    Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Núi Vọng Phu

    Phú Yên:

    Xoài đá trắng

    Sắn Phương lụa

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    --- Bài cũ hơn ---

  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn
  • Cách Làm Ớt Ngâm Giấm Ngon
  • Những Miền Quê Xứ Nghệ Trong Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kho Tàng Thành Ngữ Ca Dao Việt Nam Dịch Sang Thành Ngữ Tiếng Anh !
  • Tục Ngữ Việt Nam Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Tiết Kiêm
  • Ca Dao, Tục Ngữ Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam Toàn Tập
  • Hồng sơn cao ngất mấy trùng Lam Giang mấy trượng thì lòng mấy nhiêu

    Chỉ hai câu ca dao mà đại từ ai xuất hiện ba lần như đưa con người dọc theo chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hoá để trở về quá khứ. Biết bao thế hệ tiền nhân đã hiến thân cho mảnh đất quê hương để tạo nên vùng văn hoá Hông Lam lung linh bao sắc màu huyền thoại. Trải qua bao cuộc dâu bể, dẫu thời gian và năm tháng có làm thay đổi nhiều thứ nhưng núi Hồng – sông Lam vẫn hiên ngang, gồng mình chống đỡ với giông gió, bão tố để cuộc sống con người vơi bớt những nhọc nhằn. Núi Hồng – sông Lam không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Nghệ mà nó còn trở thành hình tượng của sự nhớ thương:

    Đức Thọ gạo trắng nước trong Ai về Đức Thọ thong dong con người

    Hai bên lưu vực sông Lam, sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố là những xóm làng yên bình của Đức Thọ, Nghi Xuân, Nam Đàn, Hương Sơn, Hương Khê…

    Trèo lên chót vót Hai Vai Ra tay khoát gió khoác vai ông Đùng.

    Dọc theo chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, đứng sừng sững ngạo nghễ giữa đồng bằng Diễn châu là hình ảnh lèn Hai Vai. Lèn Hai Vai chính là hoá thân của ông Đùng, người anh hùng bị chém cụt đầu thời tiền sử:

    Mỗi tên làng, tên núi, tên sông trong ca dao xứ Nghệ đều gắn bó thân thiết với người lao động, nó cụ thể và sinh động chứ không xa xôi, bóng gió. Mỗi địa danh đều tồn tại với một lí do riêng. Nhiều làng quê đi vào ca dao gắn với những đặc sản riêng của vùng từng vùng đất. Thứ đặc sản rất quen thuộc với mỗi người dân xứ Nghệ đó là chè xanh:

    Mặc lục chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.

    Ai về Hà Tĩnh thì về

    Đọi nước chè em múc ra Khặm đụa vô nỏ bổ

    Về Hương Sơn thưởng thức thứ chè xanh mới hái được nấu với nước sông Ngàn Phố vừa sánh đặc lại vừa chát đã làm say lòng người bao thế hệ. Ca dao còn có câu miêu tả độ sánh đặc của nước chè nơi đây:

    Ai về Hồng Lộc thì về Ăn cơm cá Bàu Nậy, Uống nước chè khe Yên

    Việt Nam được coi là xứ sở của chè xanh, nhưng có thưởng thức chè xanh Nghệ Tĩnh mới thấy hết cái hồn quê đậm đà của ấm nước chè nơi đây. Người xứ Nghệ có cách uống chè độc đáo. Chè được nấu cả lá lẫn cành mới thơm ngon và đặc sánh. Dù trời nắng chang chang thì bát nước chè phải uống lúc còn nóng hôi hổi mới ngon, mới mát. Uống chè xanh cũng có hội gọi là “hội nước chát”. Quanh ấm chè chát mọi người cùng trò chuyện để gắn chặt hơn tình làng, nghĩa xóm và thậm chí bàn bạc cả những chuyện quan trọng như dựng vợ gả chồngcho con cái. Tình người xứ Nghệ được ví như đọi nước đầy. Nhiều vùng quê Nghệ Tĩnh cũng nổi tiếng với chè xanh như chè Gay (Anh Sơn – Nghệ An), chè rú Mả, chè Khe Yên ..:

    Vùng ven biển thì nổi tiếng với những hải sản mang hơi thở của biển cả:

    Cá thu, cá nục, cá mòi thiếu chi.

    Ai về Cửa Hội quê tôi

    Ai về Thạch Hạ mà coi Bắc nồi lên bếp xách oi ra đồng.

    Nhưng không phải vùng đất ven biển nào cũng được thiên nhiên ưu đãi, thế nên có địa danh lại gắn liền với bao nỗi nhọc nhằn của người dân An -Tĩnh:

    Thạch Hạ là một xã ven biển thuộc huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Đất đai ở đây bạc màu, con người bao đời vất vả dãi nắng dầm sương nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo bám họ. Hình ảnh “Bắc nồi lên bếp, xách oi ra đồng” thể hiện cuộc sống tạm bợ của người dân.

    Ai hay mít ngọt, trám bùi Có về Cát Ngạn với tui thì về.

    Ngược lên miền sơn cước chúng ta sẽ có dịp thưởng thức những loại hoa quả đặc trưng:

    Quê ta ngọt mía Nam Đàn Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài.

    Vùng đồi núi, trung du, đồng bằng lại có những sản vật nổi tiếng:

    Bưởi Phúc Trạch, cam bù Hương Sơn, hồng vuông Thạch Hà Thanh Chương ngon cá sông Giăng Ngon khoai La Mạ, ngon măng chợ Chùa

    Hay:

    Bánh đa chợ Cày, bánh tày chợ Voi Bánh đúc cháo kê là nghề làng Trại

    Những món ăn dân dã như bánh đa, bánh tày (bánh chưng), bánh đúc, cháo kê cũng đi vào ca dao như thứ đặc sản mà người lao động hết sức nâng niu:

    Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn

    Nói đến xứ Nghệ mà chưa nhắc đến nhút thì quả là còn thiếu sót:

    Nhút là món ăn được làm từ mít xanh, xơ mít. Đây là món ăn gắn liền với các miền quê ở xứ Nghệ, món ăn của người nghèo. Nhưng nhút ngon phải chấm với tương Nam Đàn mới đúng vị.

    Quê tôi vốn ở Nguyệt Đàm Tôi đi bán hến chợ Sa Nam gần kề Hến tôi ngon gớm ngon ghê Ai muốn ăn hến thì về quê tôi

    Một món ăn đạm bạc không thể thiếu trong mâm cơm của người dân xứ nghệ trong những ngày hè đó là hến:

    Cũng có những địa danh gắn liền với nghề nghiệp:

    Lắm nống Do Nha, lắm cà Lộc Châu, Lắm dâu Cẩm Mỹ, lắm bị Kẻ Giăng, Lắm măng Kẻ Cừa, lắm bừa Trung Sơn, Lắm cơn Yên Xứ.

    Lắm ló Xuân Viên, lắm tiền Hội Thống,

    Kẻ Dặm đục đá nấu vôi Miệng thì thổi lửa, tay lôi rành rành

    Các địa danh trên đều thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dân Xuân Viên giàu vì lúa gạo (lắm ló: lắm lúa); Hội Thống giàu nhờ nghề biển và buôn bán. Do Nha nổi tiếng với nghề thủ công đan nống (nống là nong). Kẻ chính là tên nôm của làng.

    Kẻ Dặm (tức Diễn Minh) là một làng thuộc huyện Diễn Châu, dưới chân lèn Hai Vai người dân nơi đây sống bằng nghề đục đá, nấu vôi. Diễn Châu cũng là nơi nổi tiếng với nhiều làng nghề khác nhau như nghề rèn, nghề làm nước mắm, dệt võng, dệt vải, dệt chiếu…

    Trai Đông Thái gái Yên Hồ Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên

    Người Nghệ Tĩnh đôi khi còn lấy địa danh để nhắc đến tình yêu đôi lứa hay tự hào về con người của các vùng quê:

    Đông Thái thuộc xã Tùng Ảnh, Đức Thọ. Trai Đông Thái tài giỏi còn gái Yên Hồ (cũng thuộc Thọ, Hà Tĩnh) thì xinh đẹp, giỏi giang. Trai thanh – gái lịch nổi tiếng cả một vùng đất.

    Đặng Sơn người đẹp nước trong Dâu non xanh bại, tơ tằm vàng sân

    Trong ca dao còn có câu: Trai Đông Phái, gái Phượng Lịch cũng nghĩa như trên chỉ khác Đông Phái và Phượng Lịch thuộc huyện Diễn Châu, Nghệ An.

    Xôi nếp cái, gái Tràng Lưu

    Đặng Sơn là địa danh thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An. Xã Đặng Sơn nằm ở ven sông có nghề truyền thống là trồng dâu, nuôi tằm. Con gái vùng này xinh đẹp, đảm đang.

    Tràng Lưu (nay là xã Trường Lộc, Can lộc, Hà Tĩnh) là một vùng đất văn vật. Gái Tràng Lưu thông minh, xinh đẹp, nết na nổi tiếng.

    Bao giờ Đại Huệ mang tơi Rú Đụn đội nón thì trời mới mưa

    Các địa danh trong ca dao, tục ngữ có khi còn gắn liền với kinh nghiệm sản xuất hoặc dự báo thời tiết. Mỗi địa phương có kinh nghiệm dự báo thời tiết riêng:

    Đại Huệ nằm ở phía bắc còn rú (núi) Đụn thì ở phía tây huyện Nam Đàn, Nghệ An. Người dân xung quanh đây hễ thấy mây bọc xung quanh núi Đại Huệ hoặc trùm đỉnh rú Đụn thì biết chắc trời sắp mưa.

    Bao giờ ngàn Hống mang tơi, rú Thành đội mạo thì trời mưa to Mưa Cẩm Nang kiếm đàng mà chạy, mưa Kẻ Nại đứng lại mà giòm.

    Hay:

    ……

    Bao giờ mống Mắt mống Mê Thuyền câu thuyền lái chèo về cho mau

    Ngư dân chài lưới luôn phải đối mặt với bao hiểm hoạ từ thời tiết nên họ có nhiều kinh nghiệm tránh mưa bão:

    Mống (tức là cầu vồng cụt), Mắt, Mê là hai hòn đảo nhỏ thuộc các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc. Đây là kinh nghiệm xem thời tiết của người dân vùng biển, khi thấy mống dựng lên ở hòn Mắt, hòn Mê thì trời sắp nổi giông tố nên cần nhanh chóng tìm nơi trú ẩn an toàn.

    Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa

    Xứ Nghệ được xem là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhiều làng quê nổi tiếng về học hành khoa cử như làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), Tiên Điền, Tiên Bào (Nghi Xuân, Hà Tĩnh)….

    Tiền Điền, Tiên Bào sinh anh hào thông thái

    Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời

    Cũng nói về mảnh đất địa linh nhân kiệt, nhưng xét về khía cạnh khác, có câu phương ngôn nổi tiếng: “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần“nghĩa là nếu Thanh Hoá được hưởng nhiều ân huệ của vua thì Nghệ Tĩnh là đất được thần linh bảo hộ. Ở Nghệ Tĩnh, hàng trăm vị thần được lập đền thờ ở các làng xã. Nhắc đến đền thờ, dân gian có câu: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng” nhằm nhấn mạnh vẻ đẹp, tính linh thiêng và sự bề thế của bốn ngôi đền nổi tiếng bậc nhất xứ Nghệ.

    Đền Cờn (hay đền Cần) thuộc xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An là một ngôi đền nguy nga, tráng lệ. Đền thờ tứ vị thánh nương gồm 3 mẹ con công chúa nước Nam Tống là Từ Hy Thái Hậu Dương Nguyệt Quả, các công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu. Tương truyền, xưa có ba mẹ con công chúa Nam Tống bị chết chìm ở biển Đông, thi thể trôi dạt vào cửa Càn. Người dân thấy thi thể còn tươi tắn như khi còn sống, toàn thân toả mùi thơm như lan, như quế nên đã chôn cất và lập miếu thờ đàng hoàng. Đây là những nữ thần bảo vệ cho dân làng làm ăn thịnh vượng.

    Đền Quả (còn gọi là đền Quả Sơn) toạ lạc dưới chân núi Quả Sơn thuộc làng Miếu Đường, xã Bạch Ngọc (nay là xã Bồi Sơn), Đô Lương, Nghệ An. Đền thờ Uy Mnh Vương Lý Nhật Quang – hoàng tử thứ 8 của vua Lý Công Uẩn. Ông là tri châu đầu tiên của Nghệ An. Tại đây, Lý Nhật Quang đã cống hiến tuổi xuân của mình để bảo vệ và xây dựng nước nhà, ông đã thực hiện chính sách huệ dân, khai khẩn đất đai, khuyến thiện, trừng ác thu phục được lòng người. Khi ông mất, người dân địa phương tưởng nhớ và lập đền thờ ông. Hiện tại trên đất Nghệ có trên 30 điểm lập đền thờ Lý Nhật Quang và đều coi ông là thành hoàng.

    Đền Bạch Mã thờ vị tướng trẻ Phan Đà, một người nổi tiếng thao lược của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.Trong một đi lần thám thính tình hình quân địch ông bị giặc phục kích rồi tử trận. Con bạch mã trung thành mang ông về, đến xã Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An) thì dừng chân. Tại đây ông được dân làng lập miếu thờ. Sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Thái Tổ cho xây dựng toà đền bề thế.

    Chiêu Trưng không chỉ nổi tiếng bởi sự linh thiêng mà còn mê hoặc lòng người bởi vẻ đẹp của núi non, biển trời hùng vĩ. Ngôi đền được xây dựng phía tây chân núi Long Ngâm, ngọn núi như một con rồng quấy đầu xuống nước. Đền thờ võ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi nằm ở xã Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ông từng lập nhiều chiến công hiển hách cho nghĩa quân Lam Sơn.

    Ca dao tục ngữ chính là tiếng lòng của người lao động, nó đẹp và sáng lung linh mà bụi thời gian không thể làm phai mờ. Nhờ nó mà cái hồn quê được mãi lưu truyền từ đời này sang đời khác để văn hoá Nghệ nói riêng, văn hoá Việt nói chung sẽ giữ mãi được bản sắc riêng./.

    Tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Hằng

    Phan Nữ La Giang @ 14:52 23/12/2013

    Số lượt xem: 48140

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tướng Cách Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao, Tục Ngữ , Danh Ngôn Về Xây Dựng Tình Bạn Trong Sáng Lành Mạnh?
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giữ Chữ Tín, Uy Tín, Lời Hứa Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn, Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao , Tục Ngữ Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền

    Miền Nam Sài Gòn:

    Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Sài Gòn về đêm

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Bình Dương:

    Cây trái Bình Dương

    Đồng Nai:

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Long An:

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Sông Vàm Cỏ

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Tiền Giang:

    Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Đồng Tháp:

    Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Hoa Sa Đéc

    Cần Thơ:

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Bạc Liêu:

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang:

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau:

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Rừng U Minh là nơi trú ngụ của nhiều loài thú rừng, chim muông.

    Rừng quốc gia U Minh Hạ

    Miền Bắc

    Lũng Cậu

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Hồ Ba Bể Cao Bằng:

    Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    Ngày mùa – Cao Bằng -Bắc Giang:

    Làng quê

    Hà Nội:

    Mùa đông Hà Nội

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Chùa Hương

    Ai đi trẩy hội chùa Hương

    Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

    Mớ rau sắn, quả mơ non

    Mơ chua sắn ngọt, biết còn thương chăng?

    Đường phố Hà Nội

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Ước gì anh lấy được nàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Nghệ An:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Cầu bắc qua sông Lam

    Ra đi anh nhớ Nghệ An

    Nhớ Thanh Chương ngon nhútNhớ Nam Đàn thơm tương…

    “Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

    Hà Tĩnh:

    Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn

    Hoành Sơn Quan

    Đèo Ngang

    Quảng Bình:

    Phong Nha – Kẻ Bàng

    ” Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    Quảng Trị:

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.

    Cổng thành Quảng Trị

    Thừa Thiên – Huế:

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh

    Núi Ngự Bình

    Sông Hương – Núi Ngự

    “Quít giấy Hương Cần

    Cam đường Mỹ Lợi

    Vải trắng Cung Viên

    Nhãn lồng phụng tiêu

    Đào tiên Thế miếu

    Thanh trà Nguyệt biếu

    dâu da làng Truồi

    Hạt sen Hồ Trịnh…

    Quảng Nam

    Cù Lao Chàm

    Nem chả Hòa Vang

    Bánh tổ Hội An

    Khoai lang Trà Kiệu

    Rượu thơm Tam kỳ…

    Cô gái làng Son

    Không bằng tô don Vạn Tường.

    Quảng Ngãi

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn

    Mạch nha, đường phổi, đường phèn

    Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền

    “Mứt gừng Đức Phổ

    Bánh nổ Nghĩa Hành

    Đậu xanh

    Sơn Tịnh”

    Mạch nha Thi Phổ

    Bánh nổ Thu Xà

    Muốn ăn chà là

    Lên núi Định Cương

    Bình Định:

    “Gỏi chính Châu Trúc

    Bánh tráng Tam quan

    Nón lá Gò Găng

    Nem chua chợ Huyện

    Công đâu công uổng công thừa

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Chả viên Bình Định vừa ngon vừa lành

    Chín mùi da vẫn còn xanh

    Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn…

    Bình Định có núi Vọng Phu

    Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Núi Vọng Phu

    Phú Yên:

    “Xoài đá trắng

    Sắn Phương lụa”

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Khánh Hòa:

    Yến xào Hòn Nội

    Vịt lộn Ninh Hòa

    Tôm hùm Đinh Ba

    Nai khô Diên Khánh

    Cá tràu Võ cạnh

    Sò huyết Thủy Triều

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên

    Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi

    Chẳng tin giở thử ra coi

    Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    Đinh công Đức

    Phuơng Mai sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh3 Miền.
  • 15 Thành Ngữ Tiếng Anh Về Sức Khỏe Bạn Nên Biết
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Răng, Tóc, Các Bộ Phận Cơ Thể Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Cờ Bạc
  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ Vn
  • Bài Giảng D:tục Ngữ Ca Dao Bắc Bộ.doc

    --- Bài mới hơn ---

  • 40 Stt Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ Trong Cuộc Sống Hiện Đại
  • Danh Ngôn Về Sự Cô Độc
  • Lời Chúc Đầu Tuần Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Stt, Danh Ngôn & 60 Câu Nói Hay Về Những Khó Khăn Trong Cuộc Sống
  • Stt Tâm Trạng Háo Hức Của Người Con Xa Quê Những Ngày Cận Kề Tết
  • Ngày đăng: 25/11/2013, 00:11

    TỤC NGỮ : – Ông cúm bà Co, Ông từ trong Nghệ, Ông bò ra đây, Tín chủ tôi nay Có chút quà nầy, Mắm tôm bánh đúc, Ông xơi xong rồi Mời ông đi xa. – Thứ nhất Kinh Kỳ Thứ nhì Phố Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long. Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long – Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. Ơi người gánh nước giếng đình! Còn chăng hay đã trao tình cho ai? – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 1) (Hỏi) Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng? Sông nào bên đục bên trong ? Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh ? Ðền nào thiêng nhất tỉnh Thanh ? Ở đâu lại có cái thành tiên xây ? Ở đâu là chín từng mây ? Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng ? Chùa nào mà lại có hang ? Ở đâu lắm gỗ thời nàng biết không ? Ai mà xin lấy túi đồng ? Ở đâu lại có con sông Ngân-Hà ? Nước nào dệt gấm thêu hoa ? Ai mà sinh ra cửa, ra nhà, nàng ơi ? Kìa ai đội đá vá trời ? Kìa ai trợ thuỷ cho đời được yên ? Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Xin em giảng rõ từng nơi từng người. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 2) (Đáp) -Thành Hà-nội năm cửa, chàng ơi ! Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng. Nước sông Thương bên đục bên trong, Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh. Ðền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh, Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây. Trên trời có chín từng mây, Dưới sông lắm nước, núi nay lắm vàng. Chùa Hương-tích mà lại ở hang ; Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không ? Ông Nguyễn Minh-Không xin được túi đồng, Trên trời lại có con sông Ngân-hà. Nước Tàu dệt gấm thêu hoa; Ông Hữu-Sào sinh ra cửa, ra nhà, chàng ơi ! Bà Nữ-Oa đội đá vá trời ; Vua Ðại-Vũ trị thủy cho đời yên vui. Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Em xin giảng rõ từng nơi từng người. – Hà Nội ba mươi sáu phố phường Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh. Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen. Làm quen chẳng được nên quen Làm bạn mất bạn ai đền công cho. – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Bao giờ lấp ngã ba Tranh Để ta gánh đá xây thành Cổ Loa. – Lênh đênh ba bốn chiếc thuyền kề Chiếc ra Hà Nội, chiếc về sông Dâu. Vì tằm em phải hái dâu Vì người lịch sự em ngồi rầu bên nong. Lênh đênh chiếc bách giữa dòng Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ Ba năm trực tiết còn gì là xuân? – Ổi Quảng Bá, Hồ Tây Hàng Ðào tơ lụa làm say lòng người Lụa nầy thật lụa Cố Đô Chính tông lụa cống các cô ưa dùng . – Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn Hỡi ai xây dựng nên non nước này. – Bên Tây có chiếc tàu sang Sinh ra khố đỏ, quần vàng, áo thâm Cho nên anh chịu âm thầm Vai vác khẩu súng, tay cầm bình toong Ra đi sông cạn đá mòn Ra đi thương nhớ vợ con ở nhà Việc Tây anh phải trẩy xa Khi ở Hà Nội khi ra Hải Phòng Nói ra đau đớn trong lòng Vợ con nào biết Vân Mòng là đâu. – Ta lên Hà Nội tìm mình Trầu cau tiếp đãi thân tình biết bao Chân đi miệng lại khấn cầu Lạy Giời phù hộ gặp nhau phen này. – Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi Sông Nhị nước chảy phân đôi một dòng Đôi ta chua ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày. – Con sông chạy tuột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương Nhớ người cố quận tha hương Nhớ ai thì nhớ nhưng đường thời xa. – Thứ nhất là hội Cổ Loa Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Tràm. – Đường về xứ Lạng mù xa Có về Hà Nội với ta thì về Đường thủy thì tiện thuyền bè Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. – Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng. – Hà Nội là trái tim ta Trái tim đất nước, gần xa giữ gìn. Mày mà đụng đến trái tim, Sóng căm thù sẽ nhận chìm mày ngay. Đã chôn hăm mốt máy bay Vẫn còn sẵn hố đợi mày ở đây. – Hà Thành là chốn kinh đô Ngọc Sơn, Tháp Bút, vua Lê tượng đồng Đua nhau ngàn tía muôn hồng Một màu nước biếc soi lồng bóng cây Đêm nào cũng có tích hay Kìa nhà chớp bóng, ta nay rẽ vào Lòng em nghĩ ngợi ra sao? Sán Nhiên, Quảng Lạc ồn ào cả đêm Cải Lương Hý viện kề bên Ngọt ngào tiếng hát cũng nên mất tiền Những khi vui thú giải phiền Dạo chơi Bách thú, quanh miền Hồ Tây Mặt hồ hây hẩy heo may Trong trong gió mát dễ say lòng người Hà thành đẹp lắm ai ơi! – Hà Thành là chốn kinh đô Đứng ở Hàng Mắm mà trông Kìa Ô Quan Chưởng, Cầu Đông đó mà Hàng Đường, Hàng Đậu đâu xa Hàng Nâu rẽ lại thì là Đồng Xuân Hàng Than, Hàng Cót rảo chân Đến phố Hàng Lọng là gần nhà ga Trở lại đến phố Hàng Lờ Rẽ tay phải phố Hỏa Lò chẳng sai Nhằm dốc Cây Thị ta xuôi Chiều tà, Chợ Đuổi thì người mới đông Bán mua vội vã cho xong Nhá nhem thời tối chợ không kéo dài Phố ta tạm kể thế thôi Phố Tây thì phải dạo chơi: Tràng Tiền Thái Hà, Trường Bưởi, Trung Hiền Có tầu điện chạy liên miên cả ngày Tiền đi thì thực rẻ thay Hai xu cái vé lên ngay tha hồ Lại còn cả bến ô tô Chở khách, chở đồ tùy ý người thuê. Bờ hồ cảnh ấy vui ghê . – Hà Thành là chốn kinh đô Vừa đông, vừa đẹp lại vừa rộng thay! Cửa nhà san sát đó đây Gác trên gác dưới bên ngoài, bên trong Ai ơi đứng lại mà trông Nguy nga tráng lệ non bồng nào hơn! Dập dìu xe ngựa bon bon Ban đêm đèn điện sáng hơn ban ngày. Này đây hàng Trống, Hàng Bài Đi thêm mấy bước rẽ ngay Hàng Hòm Hai bên chồng chất tráp son Hàng Gai chỉ bước đường con rõ ràng Hàng Đào rồi đến Hàng Ngang Tập trung khách trú bán hàng vui thay Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Mây Hàng Bút, Thuốc Bắc, tạt ngay Hàng Bồ Hiệu ta, hiệu Khách đổ xô Bán đèn, bán lọ những đồ rất sang Cầu Gỗ trông ra rõ ràng Đi thêm mấy bước thì sang Hàng Bè Dần dần tới chợ Hàng Tre Ngổn ngang nhộn nhịp thuyền bè dưới sông . – Hà Nội như động tiên sa Thơm ngát là chị hàng hương Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng Lôi thôi là chị hàng giang Bán rổ, bán xảo, bán sàng, bán nia Thưỡi môi là chị hàng thìa San sát hàng bát nhiều bề long đong Đỏ đon như chị hàng hồng Hàng cam, hàng quít, bưởi bòng thiếu chi Trống quân, cò lả sót gì Mỗi người một vẻ ai thì kém ai Lại thêm cạo mặt ngoáy tai Lại thêm ngoài chợ có người họa tranh Ngoài ra cải, diếp, răm, hành Thìa là, cải cúc xanh xanh rõ ràng Có người bán lược, bán gương Có người bán cả hòm rương, tủ quầy Có người bán dép, bán giày Có người bán cả ghế mây để ngồi Suốt ngày chợ họp ai ơi Thượng vàng hạ cãm bao người bán mua Hay cắp như chị hàng cua . – Hà Nội như động tiên sa Sáu giờ máy hết đèn xa đèn gần Vui nhất là chợ Đồng Xuân Thức gì cũng có xa gần bán mua Giữa chợ có anh hàng dừa Hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng Ai ơi đứng lại mà trông Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong nượp nà Cổng chợ có chị hàng hoa […]… cành phù dung ĐÔNG BẮC CAO BẰNG ( Hoà An – Trà Lĩnh – Trùng Khánh – Hạ Lang – Phục Hoà – Thạch An Nguyên Bình – Thông Ninh – Hà Quảng – Bảo Lạc – Bảo Lâm – Quảng Yên ) BẮC CẠN ( Bạch Thông – Chợ Đồn – Ba Bể – Ngân Sơn – Na Rì – Chợ Mới – Pắc Nặm) – Bắc Cạn có suối đãi vàng Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh TUYÊN QUANG ( Sơn Dương – Yên Sơn – Hàm Yên – Chiêm Hoá – Nà Hang ) LẠNG SƠN ( Cao Lộc – Văn Lãng… làng Tiếu nấu nước điếu cũng ngon Làng Tiếu ở Sen Hồ,Gia lâm,tỉnh Bắc Ninh nổi tiếng về rau ngon – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày – Trên trời có sông Ngân Hà Tỉnh Nam sông cái, Bắc là sông sâu Bắc Ninh lại có sông Cầu Anh còn tơ tưởng sông Dâu, sông Đào Anh… ươm tơ – Nam Định còn có những giới thiệu những phiên chợ của họ một ca ch thú vị: Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình Mông bốn chơi chợ Quả linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng một năm mới có một phiên Ca i nón em đội cũng tiền anh mua… Vân Mòng là đâu – Bưởi Đại Trà, cam Đồng Dụ, gà Văn Cú VĨNH PHÚC ( Vĩnh Yên – Phúc Yên – Tam Dương – Mê Linh – Yên Lạc- Vĩnh Tường Lập Thạch – Bình Xuyên – Tam Đảo ) HẢI DƯƠNG ( Cẩm Giàng – Bình Giang- Gia Lộc – Thanh Miện – Ninh Giang – Tứ Kỳ Thanh Hà – Kim Thành – NamSách – Kinh Môn – Chí Linh ) HÀ GIANG ( Vị Xuyên – Bắc Mê – Yên Minh – Quản Bạ – Hoàng Su Phì – Xín Mần Bắc Quang – Đồng Vân – Mèo Vạc… sâu Quảng ) Hồng Gai có núi Bài Thơ Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên – – Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già Việc gì mà rủ nhau ra Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân – Cái cân có quỷ có ma Gạo vào một lối, gạo ra một đường Thẻ tôi ba mươi sáu kí rõ ràng Về nhà khảo lại chỉ còn mười lô ( Ca dao vùng mỏ ) ( Cái cân cân gạo… họa đồ Ai vô xứ Nghệ thì vô – Nhút Thanh Chương tương Nam Đàn – Cam Xã Đoài, xoài Bình Định Cổng làng Tò, trâu bò làng Hệ ( xã Đoài thuộc huyện Nghi Lộc ) BẮC GIANG ( Lục Ngạn – Lục Nam – Sơn Động – Yên Thế – Hiệp Hoà – Lạng Giang Tân Yên – Việt Yên – Yên Dũng ) – Gái Xuân Mai, trai Yên Thế – Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ cầu Lim BẮC NINH ( Yên Phong – Quế Võ – Tiên Du – Thuận Thành – Gia Bình… chua Hương thơm xếp để trong bồ Trần bì cam thảo sài hồ hoàng liên Hàng cô đáng giá bao tiền Để ta chung vốn góp tiền buôn chung Buôn chung ta lại bán chung Được bao nhiêu lãi ta cùng chia nhau ( Chợ Vị Hoàng thuộc thành phố Nam Định ) – Em là con gái Phù Long Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu Dù đi buôn đâu bán đâu Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm (cũ nhất nói đến một mảnh đất xưa, địa… phường phố, đủ vành núi sông Nhị Hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này Nùng Sơn, Long Đỗ đâu đây Tam Sơn núi đất cao tầy Khán Sơn Ngọc Sơn nhân tạo bé hơn Bên hồ Hoàn Kiếm ngay đền Văn Xương Trúc Bạch, Mã Cảnh nên tường Xa hồ Bảy Mẫu giáp đường gần nhau Ngoài đường quai có hồ sâu Tây Hồ rộng rãi ngay đầu phía tây Xung quanh bao bọc kín thay Đất cao thành lũy, cửa xây nên tường Mười lăm… – Hữu Lũng – Bắc Sơn – Bình Gia – Tràng Định ) THÁI NGUYÊN ( Sông Công – Phú Bình – Phổ Yên – Đại Từ – Định Hoá – Phú Lương – Đồng Hỷ – Võ Nhai ) ( Chưa có tư liệu ) TÂY BẮC Yên BÁI ( Nghĩa Lộ – Trấn Yên – Văn Chấn – Yên Bình – Văn Yên – Lục Yên – Trạm Tấu – Mù Căng Chải ) ( Chưa có tư liệu ) ĐIỆN BIÊN ( Lai Châu – Điện Biên Đông – Mường Lay – Mường Nhé – Tủa Chùa – Tuần Giáo ) Ở miền Bắc, vùng sông… chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ ngây thơ mình bị báng nước sông Bờ Chém cha cái nước sông Bờ Tưởng rằng báng nước ai ngờ báng con HOÀ BÌNH Kỳ Sơn – Đà Bắc – Mai Châu – Tần Lạc – Lương Sơn – Kim Bôi – Lạc Sơn Lạc Thuỷ – Yên Thuỷ – Cao Phong ) – Ở miền Bắc, vùng sông Bờ thuộc Hòa Bình,Lai Châu nước độc ,khí độc nổi tiếng về bệnh sốt rét đến nổi gái chưa chồng lội qua cũng chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ . Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Dòng Stt Xin Lỗi Mẹ Cha Hay Nhất Về Đứa Con Hư, Con Bất Hiếu Nhớ Mẹ
  • Top Những Stt Hay Về Cuộc Sống, Tình Yêu, Tình Bạn, Gia Đình
  • Châm Ngôn Và Năm Điều Luật Của Gia Đình Phật Tử Việt Nam
  • Những Câu Chúc Tết Hay Xuân Ất Mùi 2022
  • Danh Ngôn Về Sự Hết Mình
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh 3 Miền Đất Nước !

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Giáo Lý Nhà Phật Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Danh Lam Thắng Cảnh
  • Thành Ngữ Về Tình Yêu Hay ❤️ 1001 Câu Nói Tình Yêu
  • Những Câu Ca Dao Mang Ý Nghĩa Hài Hước Châm Biếm
  • Nghỉ Học Dài Quá Ít Bài Để Học, Teen Rủ Nhau “ôn” Ca Dao Tục Ngữ
  • Trầu Bà Điểm xẻ ra nửa lá

    Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em?

    Chị Hươu đi chợ Đồng Nai

    Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò

    Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Gái Sài Gòn khó ghẹo lắm anh ơi

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

    Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

    Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

    Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Cần Thơ

    Bến Ninh Kiều

    Cần Thơ gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Cần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Sông nước Bạc Liêu

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu.

    Kiên Giang

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Hà Nội ba mươi sáu phố phường

    Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh

    Từ ngày ta phải lòng mình

    Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen

    Làm quen chẳng được nên quen

    Làm bạn mất bạn ai đền công cho

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Trên trời có đám mây xanh

    Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng

    Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Thanh Hóa

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa

    Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê

    Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê

    Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút

    Nhớ Nam Đàn thơm tương…

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Phú Yên

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

    Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Sò huyết Thủy Triều…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 30+ Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Bạn Hay Nhất Mọi Thời Đại
  • Đặc Sản Bình Định Gắn Liền Qua Từng Câu Ca Dao Tục Ngữ
  • Thành Ngữ Tục Ngữ Lớp 3 ❤️️ 1001 Tục Ngữ Ý Nghĩa
  • 10 Thành Ngữ ” Bá Đạo ” Tiếng Anh
  • Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam + Nghề Buôn Bán
  • Văn Hoá Ẩm Thựccủa Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ Qua Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam
  • 1. Đã có không ít các công trình tập hợp, hệ thống và nghiên cứu về ca dao tục ngữ, nhưng chủ yếu đều tiếp cận từ góc độ của các chuyên ngành ngôn ngữ học, văn học, văn hoá học,… Các công trình thuộc dạng này đi sâu vào khai thác vần điệu thơ ca, cấu trúc, biểu tượng, ngữ nghĩa,… Chưa có nhiều lắm những công trình sử dụng ca dao tục ngữ như một nguồn tư liệu để nghiên cứu các mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hoá ẩm thực. Bài viết này là một thử nghiệm với hi vọng góp phần làm rõ thêm đặc trưng của văn hoá ẩm thực của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua một góc nhìn mới.

    Tuy nhiên, để khai thác văn học dân gian như một nguồn tư liệu là công việc không hề đơn giản. Do tính chất ước lệ rất cao, lại biểu hiện chủ yếu dưới dạng hình tượng, biểu trưng và ẩn dụ nên phải áp dụng những phương pháp xử lí phù hợp. Trong báo cáo này, phương pháp phân tích định lượng được sử dụng như một giải pháp hữu hiệu để lượng hoá những thông tin định tính. Với một tập hợp lên tới hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ nếu sử dụng phương pháp dẫn chứng truyền thống, đưa ra một số câu để phân tích, dẫn giải thì chẳng những không tìm ra được những đặc trưng văn hoá ẩn sâu trong kho tàng văn học dân gian mà có khi còn bị sai lệch do sự chủ quan khi lựa chọn dẫn chứng.

    2. Theo cách nói dân dã thì “cái ăn, cái mặc, cái ở” là ba cái quan trọng hàng đầu của con người. Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể thiếu một trong ba yếu tố thiết yếu đó. Từ rất lâu người Việt đã ý thức được tầm quan trọng của cái ăn uống và điều này được phản ánh rất đậm nét trong kho tàng ca dao tục ngữ người Việt đồng bằng Bắc Bộ như: Có thực mới vực được đạo; Người có ăn mới khoẻ, mẻ không ăn thì mẻ cũng chết,… Và trong cuộc sống hàng ngày con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất: Có làm thì mới có ăn; Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ,

    Chính vì ăn uống có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống con người nên thông qua ăn, uống ông cha ta còn gửi gắm, ẩn dụ nhiều triết lí dân gian vào ca dao, tục ngữ như ước vọng, khuyên răn, giáo dục, phê phán, nhằm bồi dưỡng thêm tri thức ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, về luân thường, đạo lí.

    Chẳng hạn như: Ăn cháo đá bát; Miếng ăn quá khẩu thành tàn; Thương cho roi cho vọt, ghét cho ăn; Trách ai đặng cá quên nơm, // Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành; Chớ ăn cây táo rào cây sung;… Hay trong quan hệ ứng xử vợ chồng, người vợ Việt được ca dao, tục ngữ sử dụng những hình ảnh bếp núc để ghi lại những hành động của người phụ nữ cư xử hết sức khôn ngoan, ngọt ngào.

    3.1. Kinh nghiệm ẩm thực

    Bởi lẽ, ăn uống và chăm sóc sức khoẻ của người Việt có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của con người và xã hội như vậy nên qua khảo sát thống kê trong 4 tập ca dao, tục ngữ chúng tôi đã thu thập được 3.474 đơn vị có nội dung thuộc về văn hoá đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại và chăm sóc sức khoẻ) của người Việt đồng bằng Bắc Bộ. Trong đó có tới 2.433 đơn vị nói về ẩm thực, chiếm 70% .

    3. Nếu như ca dao tục ngữ là sáng tạo gắn cuộc sống thường nhật và được tích lũy qua nhiều thế hệ thì số liệu trong bảng 1 cho thấy Ẩm thực là lĩnh vực được người Việt đồng bằng Bắc Bộ dành cho sự quan tâm đặc biệt. Cũng trên cơ sở phân tích định lượng, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về sự quan tâm này.

    Trong 4 loại mà chúng tôi tạm chia theo ý nghĩa và nội dung các câu ca dao, tục ngữ về ẩm thực thì có đến 1.134 đơn vị (chiếm 46,6%) phản ánh kinh nghiệm ăn uống của người Việt. Trong số đó, những câu nói về kinh nghiệm uống (nước, trà, rượu,…) lại không nhiều. Tất cả chỉ có 42 câu. Cụ thể: 6 câu nói về uống nước, 12 câu nói về uống trà/chè, 23 câu nói về uống rượu/tửu và 1 câu nói về uống giấm.

    3.2. Kinh nghiệm lựa chọn vật phẩm

    Ví dụ: Uống nước nhớ nguồn; Nước chè xanh vừa lành vừa mát; Nước khe, chè núi; Rượu cổ be, chè đáy ấm; Rượu ngon bởi vị men nồng, người khôn bởi vị giống dòng mới khôn; Rượu làng thì uống, rượu mua thì đừng; Uống giấm để đỡ khát,…

    Kinh nghiệm về hút thuốc lào/phiện cũng không được đề cập đến nhiều, vẻn vẹn chỉ có 4 câu (thuốc lào: 3 câu, thuốc phiện: 1câu). Ví dụ: Thuốc lào một nạm, chè tàu một hơi; Thuốc lào Khai Lai, lợn choai chợ Thượng; Thuốc lào Vĩnh Bảo// Chồng hút vợ say// Thằng bé điếu đóm// Lăn quay giữa nhà; Thuốc phiện hết nhà, thuốc trà hết phên… Hoàn toàn thiếu vắng kinh nghiệm hút thuốc lá. Điều này có thể lí giải là thuốc lá có thể xuất hiện muộn vào thời kì sau năm 1945 nên chưa thể có kinh nghiệm lưu giữ trong dân gian. Hoặc cũng có thể thuốc lá là loại thuốc hút trước đây chỉ sử dụng nhiều ở đô thị, không phổ biến ở thôn quê, cái nôi sản sinh ra văn học dân gian.

    Một năm có 12 tháng, theo kinh nghiệm dân gian thì tháng 10 (âm lịch) là tháng mà các sản phẩm nông nghiệp đạt tỉ lệ hàm lượng vitamin cao, ngon, béo, chất lượng đặc biệt nhất. Ví dụ như:

    Bầu tháng chín, bín tháng mười (bín: bí đao).

    Tháng sáu gọi cấy rào rào // Tháng mười lúa chín, mõ rao cấm đồng.

    Ếch tháng ba, gà tháng mười.

    Ếch tháng mười, người Hà Nội.

    Nhất cá rô tháng giêng, nhì cá tràu tháng mười.

    Sở dĩ các loại cây trồng và con vật nuôi phát triển tốt vào thời gian này là vì thời tiết mát mẻ. Hơn nữa, đây là dịp thu hoạch vụ mùa nên gia súc, gia cầm, thuỷ sản được ăn uống đầy đủ cả về chất và lượng từ các loại cây hoa màu và thóc lúa dư thừa, rơi vãi.

    Kinh nghiệm về ẩm thực không chỉ giúp chúng ta chọn lựa vật phẩm theo thời gian, mùa vụ mà còn giúp chúng ta chọn lựa bộ phận này ngon hơn hoặc ít ngon hơn bộ phận kia. Vấn đề này được ca dao, tục ngữ đề cập chủ yếu đến việc chọn lựa các bộ phận của con vật nuôi quen thuộc và cũng là món ăn phổ biến trong cơ cấu bữa ăn của người Việt như: lợn, bò, trâu, gà, chó, cá còn các con vật nuôi khác như: mèo, chim, vịt, ngan, ngỗng,… không được đưa ra làm tiêu chí lựa chọn nguyên liệu cho món ăn “khoái khẩu”. Chẳng hạn: Đối với thịt lợn thì thịt chân giò; đối với thịt bò thì thịt bắp được coi là bộ phận ngon được nhiều người ưa chuộng như: Lợn giò, bò bắp; Đầu nheo hơn phèo trâu; Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng chân chì mua chi giống ấy; Chó già, gà non hay Đầu cá trôi, môi cá mè; Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Việc lựa chọn bộ phận ngon để thưởng thức không chỉ được thực hiện ở các con vật nuôi mà còn cả ở các loại rau quả trong bữa ăn hàng ngày như: Cần ăn cuống, muống ăn lá; Cây rau má, lá rau húng, cuống rau đay; Chuối hàng sau, cau hàng trước; Ăn dứa đằng đít, ăn mít đằng đầu;…

    Từ xưa ông cha ta đã biết kết hợp hài hoà giữa tính âm và tính dương trong bữa ăn hàng ngày. Ví như ngày Tết theo truyền thống dân tộc, Việt Nam ta thường có bánh chưng, bánh tét. Ruột của hai loại bánh này là gạo nếp, hạt tiêu, thịt heo, hành,… (nóng) ăn lâu tiêu, nhưng vỏ bọc bằng lá dong, lá chuối (mát). Hai thứ – một làm ruột, một làm vỏ (ruột nóng, vỏ mát) được trung hoà qua ngọn lửa khiến cho bánh ngon và bớt “nóng”. Nắm được quy luật của tạo hoá, ông cha ta đã vận dụng vào cách ăn uống và đã đúc kết thành kinh nghiệm như: “Cam hàn, quýt nhiệt, bưởi tiêu”. Thực tế đã chứng minh kinh nghiệm này không sai. Chẳng hạn sự kết hợp giữa các gia vị vào các món ăn cũng được tính toán hợp lí như: thịt mỡ đi với dưa hành, củ kiệu; lòng, trứng vịt lộn, cá trê, ốc, thịt vịt (hàn) phải ăn với húng, tía tô, gừng, rau răm, muối tiêu, nước mắm gừng (nhiệt); nước dừa thêm muối, ốc hấp lá gừng: ốc, lá gừng,…

    Qua thống kê có 67 đơn vị ca dao, tục ngữ nói đến sự kết hợp trong bữa cơm của người Việt đồng bằng Bắc Bộ không thể vắng mặt món rau quả (gồm có nhiều loại rau quả), canh và dưa cải.

    Để có được món ăn ngon, ông cha ta không chỉ coi trọng việc chọn lựa vật phẩm, kết hợp hài hoà các món trong bữa ăn mà còn rất chú ý đến việc bảo quản, cách chế biến và mức độ thưởng thức. Trước đây nấu cơm chủ yếu bằng rơm rạ, củi đuốc,… để có được một nồi cơm ngon vừa chín tới thật không đơn giản chút nào. Người nấu phải khéo léo và có kinh nghiệm. Bởi vậy mà có đến 22 câu ca dao, tục ngữ (không kể dị bản) nói về việc nấu cơm. Ví dụ như: Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê; Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời; Cơm giở, cỏ xới; Nấu cơm không xới thì mất một bát, cày ruộng không lấp trôốc vát thì mất một triên,…

    Bảo quản đồ ăn thức uống cũng là khâu rất quan trọng để giữ món ăn được tươi lâu, giữ được hàm lượng dinh dưỡng. Số câu ca dao, tục ngữ nói về việc này rất ít, chỉ có 3 câu (kể cả dị bản) nói về bảo quản như: Cá không ăn muối cá ươn; Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư; Bánh giầy phải đậy bằng nong, bài học vỡ lòng đã rệt hai chân.

    Bất cứ việc gì có chừng mực thì đều mang lại hiệu quả cao, ăn uống cũng vậy, không nên ăn uống quá nhiều. Miếng ăn chỉ ngon khi ăn đúng mức, nếu ăn quá sẽ không còn cảm giác ngon nữa. Ví như: Ăn lấy thơm lấy tho chứ không ai ăn lấy no lấy béo… Nếu ăn quá độ sẽ mang hại vào thân: Ngon mồm ôm bụng.

    Tất cả những tri thức dân gian truyền thống mà ông cha ta đã đúc rút đều thể hiện sự thích ứng, hoà hợp giữa con người với tự nhiên và vạn vật xung quanh. Nó được phản ánh trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ của người nông dân với sinh hoạt hàng ngày và lao động sản xuất.

    Nói về món bánh đúc: Bánh đúc chợ Go, trâu bò chợ Bản; Bánh đúc kẻ Đanh, bánh hành kẻ Lán,…

    Hay nói về hoa quả: Vải ngon thì nhất làng Bằng// Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn // Củ đậu Bằng Thượng thiếu gì// Dưa hấu Bằng Hạ ai bì được chăng; Ổi Đình Công, nhãn lồng Thanh Liệt,…

    Chúng tôi đã phân chia ra thành 3 tổ hợp đặc sản dựa trên nền nông nghiệp căn bản ở nước ta. Đó là đặc sản trồng trọt, chăn nuôi và đặc sản tự nhiên (thuỷ sản).

    Số đơn vị có nội dung về đặc sản có nguồn gốc trồng trọt có tỉ lệ áp đảo, chứng tỏ nông nghiệp trồng trọt ở nước ta từ xưa đến nay vẫn luôn là ngành nghề chi phối sâu sắc đến đời sống cư dân người Việt. Tuy đặc sản chăn nuôi và đặc sản tự nhiên có số lượng không nhiều như đặc sản trồng trọt nhưng nó luôn ở vị trí quan trọng ngang bằng chứ không thể thiếu trong ngành nông nghiệp ở nước ta trong việc cung cấp giống vật nuôi và thực phẩm gia súc, gia cầm, thuỷ sản cho đời sống con người.

    Trên cơ sở xuất hiện địa danh của các tỉnh hiện nay, chúng tôi đã khôi phục cả tên địa danh tỉnh cũ song song với địa danh tỉnh mới và quy về một địa bàn để tiện cho việc theo dõi và phù hợp với bối cảnh ra đời của ca dao, tục ngữ. Ví dụ: Hà Bắc (tỉnh cũ) – Bắc Giang, Bắc Ninh (tỉnh mới); Hà Nam Ninh (tỉnh cũ) – Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (tỉnh mới),… Còn các tỉnh xuất hiện duy nhất trong bảng thì chúng tôi để nguyên tên tỉnh mới.

    Qua bảng thống kê cho thấy về cơ bản các tỉnh ở trung và hạ châu thổ sông Hồng (Hà Bắc, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Thái Bình) có số lượng các loại đặc sản nhiều hơn hẳn so với các tỉnh lân cận khác ở đồng bằng Bắc Bộ. Phải chăng, nơi đây là địa bàn quy tụ dân cư từ thời cổ xưa, với mạng lưới sông ngòi dày đặc khắp đồng bằng là nguồn cung cấp nước dồi dào cho công tác thuỷ lợi tưới tiêu và thuận lợi cho việc chăn nuôi và đánh bắt thuỷ sản. Hơn nữa, có lượng phù sa lớn của sông Hồng là nguồn dinh dưỡng quý giá cho phát triển cây trồng và chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản. Vì vậy đây là mảnh đất có truyền thống sản xuất nông nghiệp chuyên biệt tạo ra nhiều sản vật đặc sắc và có giá trị kinh tế cao. Tuỳ thuộc vào môi trường tự nhiên và truyền thống lịch sử của từng nơi, từng làng mà hình thành một nghề riêng với những đặc sản có thương hiệu không thể lẫn với nơi khác được. Ví dụ: ở Hà Nội (Hà Tây cũ) có làng Trung Lập nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm, Sâm Động là đất trồng Hành, Phú Xuyên trồng lúa, Thuỵ Phiêu trồng khoai; đất Hà Nam “Đôi bên núi tựa sông kề // Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn” có Đinh Xá nuôi cá, Hoà Mạc trồng đậu trồng cà, Thiện Vịnh ươm giống rau răm rau cần, Văn Quan, Đồng Thuỷ trồng ngô khoai, Đại Hoàng nổi tiếng với chuối ngự; Thái Bình có Hành tổng (Kiến Xương) trồng mía,…

    Số đơn vị ca dao, tục ngữ có nội dung về đặc sản trồng trọt, đặc biệt, là cây lúa và các cây thực phẩm chiếm tỉ lệ cao hơn cả. Điều này cũng dễ hiểu vì nền sản xuất của Việt Nam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trong đó cây lúa chiếm một vị trí quan trọng. Ngoài cây lúa, các loại cây thực phẩm như rau đậu: Đó là loại cây thực phẩm rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người dân. Nếu so sánh các loại cây trồng được kể đến trong ca dao, tục ngữ thì chúng ta thấy một bức tranh đáng chú ý là đặc sản các cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày như: lúa, rau, khoai, cà, đỗ, chuối,… xuất hiện trong ca dao, tục ngữ nhiều hơn là các cây thực vật lưu niên: mít, ổi, xoan, táo,… Điều này chúng tôi có thể hiểu là: Các cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày thường phụ thuộc nhiều vào thời vụ, thời tiết. Do vậy, nó đòi hỏi phải chăm sóc công phu và phức tạp hơn so với cây lưu niên. Nhân dân được mùa hay mất mùa thường xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Vì vậy nó tạo ra nhiều bài học kinh nghiệm và lưu giữ nhiều đặc sản quý trong kho tàng văn học dân gian.

    5. Ẩm thực với chăm sóc sức khoẻ

    Con người phải ăn uống để mang lại sức khoẻ tốt: Người có ăn mới khoẻ, mẻ không ăn thì mẻ cũng chết; Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo. Nhưng đôi khi ăn uống không phù hợp, đúng cách lại mang lại hiệu ứng tiêu cực làm cho sức khoẻ con người giảm sút, thậm chí yếu đi. Với sự nhìn xa trông rộng về một tài sản “sức khoẻ” là vô giá nên ông cha ta đã lấy việc ăn uống để nhắc nhở, cảnh báo con người phải đề cao việc giữ gìn và chăm sóc sức khoẻ như một lẽ thường tình trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người. Mặc dù số đơn vị phản ánh về nội dung này chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các phạm trù mà ẩm thực đề cập đến (chiếm 11,8%) nhưng nó lại là vấn đề trực tiếp và sống còn nhất đối với cá nhân mỗi con người.

    Trong số 4 mặt biểu hiện của ẩm thực với chăm sóc sức khoẻ thì ăn uống điều độ để có một cơ thể cường tráng, một tư duy lành mạnh là nội dung được chú ý nhiều nhất (178 đơn vị) chiếm 62%: Cờ ba cuộc, cơm ba bát, thuốc ba thang; Ăn có chừng, chơi có độ; Ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn;…

    Tuy nhiên bản chất của người nông dân Việt Nam vẫn luôn giản dị, chất phác, không ưa cầu kì, phức tạp. Họ sống vô tư, hồn hậu cả trong suy nghĩ và trong hành động: Ăn như cũ, ngủ như xưa; Hay ăn hay uống là tướng trời sinh; Ăn không kể bát, hát không kể đêm, vật không kể nền, bền không kể đá; Ăn no ngủ kĩ, chổng tĩ lên trời;… Chỉ với 23 đơn vị (chiếm 8,0%) nhưng đây là một đức tính quý của người nông dân nên vẫn luôn được đề cao và phát huy.

    Ăn uống vệ sinh sạch sẽ cũng là một điều kiện mang lại sức khoẻ tốt. Điều này được thể hiện ở một số lượng rất khiêm tốn (chỉ 5 đơn vị – 1,8%) nhưng không thể thiếu được trong các mặt của ăn uống với việc chăm sóc sức khoẻ: Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm; Cơm ba bát, tắm mát sớm mai và cũng phê phán những biểu hiện của việc ăn ở bẩn thỉu như: Ăn tro giọ trấu, ỉa cứt ra than,…

    Ăn uống không chỉ mang lại sự no đủ cho con người về vật chất để tồn tại và phát triển mà con người tiến hành hoạt động ăn uống còn để vươn tới một điều khác cao hơn là văn hoá. Vì vậy, từ xưa ông cha ta đã lấy việc ăn uống làm điểm tựa để gửi gắm vào đó những ước vọng, nhằm bồi dưỡng luân thường, đạo lí cho con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội.

    Điều ước rất đỗi giản dị của người phụ nữ về món ăn do sức lao động của chính người chồng mình làm ra đã thể hiện chứa chan tình cảm và sự mãn nguyện về đời sống tinh thần:

    Những điều răn dạy đối với con người là sống ở trên đời phải có trước có sau, phải biết kính trọng, ân nghĩa. Con người ăn uống để hưởng thụ thành quả lao động, vì thế cần phải biết công ơn của người đã đem lại kết quả ấy: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; Uống nước nhớ nguồn; Ăn cây nào rào cây ấy;… Phê phán, lên án những kẻ quá coi trọng đến cái ăn vật chất mà quên đi những giá trị văn hoá của con người. Miếng ăn lại trở thành sự xấu xa: Miếng ăn quá khẩu thành tàn; Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu;…

    Đến quan hệ anh – em thì tỉ lệ bị đẩy lùi xa hơn (chiếm 14,1%) nhưng trong tương quan so sánh với quan hệ vợ – chồng thì quan hệ anh em có khi được xem như gắn bó, keo sơn hơn bởi người ta có thể bỏ vợ, bỏ chồng nhưng không thể bỏ anh em: “Anh em như chân như tay, vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.”

    Qua các mối quan hệ gia đình cho thấy mô hình gia đình hạt nhân hai thế hệ đã thực sự trở thành cấu trúc cơ bản của xã hội Việt Nam. Cấu trúc này luôn là cấu trúc lí tưởng của các gia đình trẻ Việt Nam hiện nay và mai sau.

    Có thể nói luân thường, đạo lí của con người là kim chỉ nam cho mọi hành động. Từ những hành động tưởng chừng rất nhỏ Ăn cơm phải biết trở đầu đũa; Liệu cơm gắp mắm; … nhưng lại có ý nghĩa răn dạy con người phải biết cư xử đúng đạo lí và biết phân biệt đúng sai trước khi hành động. Vì thế tổ hợp ẩm thực với luân thường, đạo lí là nội dung được ông cha ta luôn đề cao và tập trung vào phản ánh những vấn đề căn bản sau:

    Ở bảng 8, mục 3 có 68 đơn vị đề cập đến nguyện vọng của nhân dân phải chăm chỉ làm – ăn để xây dựng một xã hội công bằng mà mọi người được hưởng thụ cân đối với sức lao động bỏ ra: Có làm có ăn; Làm gắng ăn gắng; Muốn ăn cá phải thả câu; Muốn ăn oản phải giữ lấy chùa; Muốn ăn thì lăn vào bếp,… Hiếm thấy họ khuyến khích làm việc nhiều, ăn ít. Chúng tôi chỉ tìm thấy một câu có ý nghĩa khuyên nhủ “Làm gắng hơn gắng ăn”.

    Thật thà, sòng phẳng là đức tính quý báu của con người . Trong đó thái độ coi trọng đề cao sự thật thà (19 đơn vị): Ăn ngay nói thật; Ăn mặn nói ngay, hơn ăn chay nói dối,… Thể hiện bản chất sòng phẳng (26 đơn vị): Ăn đều tiêu sòng; Ăn quả vả, trả quả sung’; Bánh ít trao đi, bánh dì trao lại,…

    Bản tính lo xa được coi là tính cách vốn có của người nông dân nông nghiệp trồng lúa nước, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, nền nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, ngày đêm phải “Trông trời trông đất trông mây trông mưa trông gió trông ngày trông đêm”. Cả khi sung túc, thuận lợi cũng không chủ quan, phải lường tính đến hoàn cảnh khó khăn khi gặp phải. Nội dung này có (33 đơn vị) đề cập đến: Được mùa chớ phụ ngô khoai; Ăn bữa sáng lo bữa tối; Ăn chắt để dành; Ăn củ môn bữa mai, để củ khoai bữa mốt;…

    Ở nội dung ẩm thực với bồi dưỡng tri thức luân thường đạo lí, chúng tôi thấy thái độ của nhân dân luôn thể hiện ở tính hai mặt: trọng ân nghĩa – phê phán sự vô ơn; ca ngợi đức tính thật thà, chăm chỉ, tiết kiệm – phê phán sự dối trá, lười nhác, hoang phí,… Tất cả đều có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với con người ở bất cứ thời đại nào.

    THƯ MỤC THAM KHẢO

    Ăn uống là tấm gương phản chiếu bức tranh nông nghiệp của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ qua kho tàng ca dao, tục ngữ.

    Kinh nghiệm ẩm thực đã chi phối về mọi mặt của đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người nơi đây. Điều này thể hiện ở tỉ lệ áp đảo đơn vị có nội dung phản ánh kinh nghiệm ăn – uống – hút xách so với nội dung về đặc sản ẩm thực hay mối quan hệ gia đình, xã hội; bồi dưỡng tri thức luân thường, đạo lí. Cũng như những tác động của nó đến các hành vi ứng xử trong gia đình và xã hội người Việt.

    Trên bức tranh đặc sản ẩm thực thì lúa và các sản vật chế biến ra từ lúa chiếm số lượng ưu thế. Điều đó một lần nữa khẳng định nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta nói chung, đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, cây lúa vẫn là cây trồng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.

    Ở bất kì nội dung bồi dưỡng tri thức luân thường, đạo lí nào đều tồn tại tính hai mặt của một nội dung là ca ngợi và phê phán có ý nghĩa giáo dục nhân văn sâu sắc.

    Tất cả những tri thức dân gian truyền thống mà ông cha ta đã đúc rút qua nội dung ẩm thực đều thể hiện sự thích ứng, hài hoà giữa con người với tự nhiên. Nó được phản ánh đậm nét qua những đặc tính của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ với lao động sản xuất và sinh hoạt ăn uống hàng ngày.

    1. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978.

    2. Đinh Gia Khánh, Văn hoá trong ăn uống, Văn hoá dân gian, 1989.

    3. Nguyễn Xuân Kính, Qua ca dao tục ngữ tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc của người Thăng Long- Hà Nội, Văn hoá dân gian số 2-1990.

    4. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, NXB TP Hồ Chí Minh và khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 1992 .

    5. Toan Ánh, Phong tục Việt Nam – Nếp cũ gia đình, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1992.

    6. Vương Xuân Tình, Ăn uống trong sinh đẻ của phụ nữ Việt ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Dân tộc học số 3 – 1992.

    7. Nguyễn Loan – Nguyễn Hoà, Từ điển món ăn Việt Nam, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994.

    8. Phan Huy Lê – Vũ Minh Giang (chủ biên), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, tập II, đề tài KX 07 – 02, 1996.

    9. Vũ Dung – Thuý Anh – Vũ Quang Hào, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1997.

    10. Diệp Đình Hoa, Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.

    11. Huỳnh Thị Dung – Nguyễn Thị Huế – Nguyễn Thu Hà, Từ điển văn hoá ẩm thực Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.

    12. Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002.

    13. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002.

    14. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2001.

    15. Ngô Đức Thịnh, Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004.

    16. Trần Quốc Vượng, Môi trường con người và văn hoá. NXB Văn hoá Thông tin và Viện Văn hoá, Hà Nội.

    17. Vũ Minh Giang, Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.

    18. Trần Thuý Anh, Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009.

    NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Ca Dao, Tục Ngữ Về Địa Danh Và Món Ăn 3 Miền Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đình Làng Trong Tâm Thức Văn Hóa Việt
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Giao Tiếp, Ăn Nói, Ứng Xử Hay Nhất
  • Thơ Hán Về Hoa Sen
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Hoa, Hoa Sen, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Hồng Hay Nhất
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Dòng Họ Khỉ
  • Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

    Buồn tình gá nghĩa mà chơi

    Hay là anh quyết ở đời với em? Chị Hươu đi chợ Đồng Nai Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò Đường Sài Gòn cong cong quẹo quẹo

    Sài Gòn về đêm

    Ai qua Phú Hội, Phước Thiền (Thành)

    Bâng khuâng nhớ mãi sầu riêng Long Thành

    Long An: Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua

    Bến Tre:

    Bến tre dừa ngọt sông dài

    Nơi chợ Mõ Cày có kẹo nổi danh

    Kẹo Mõ Cày vừa thơm vừa béo

    Gái Mõ Cày vừa khéo vừa ngoan

    Anh đây muốn hỏi thiệt nàng

    Là trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

    Tiền Giang: Gò Công giáp biển nổi tiếng mắm tôm chà

    Mắm tôm chua ai ai cũng chắc lưỡi hít hà

    Sài Gòn, chợ Mỹ ai mà không hay.

    Sông vàm Cỏ nước trong thấy đáy

    Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng

    Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang

    Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?

    Đồng Tháp: Muốn ăn bông súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.

    Cần Thơ: Cần Thơ gạo trắng nước trongCần Thơ là tỉnh, Cao Lãnh là quê Bến Ninh Kiều

    Ai đi đến đó thời không muốn về

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mãi lo buôn bán không về thăm em.

    Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

    Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

    Quản chi nắng sớm mưa chiều

    Lên voi xuống vịnh cũng trèo thăm em.

    Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

    Bạc Liêu:

    Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu. Sông nước Bạc Liêu

    Trai nào khôn bằng trai Long Mỹ

    Gái nào mủ mỉ bằng gái Hà Tiên.

    U Minh, Rạch Giá thị hóa Sơn Trường

    Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.

    Cà Mau:

    Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Đĩa lội lềnh như bánh canh.

    Miền Bắc

    Bắc Cạn có suối đãi vàng

    Có hồ Ba Bể có nàng áo xanh.

    Hồ Ba Bể Cao Bằng:

    Ngày mùa – Cao Bằng -Bắc Giang:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng

    Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà

    Bườm giong ba ngọn vui đà nên vui

    Đường về xứ Lạng mù xa…

    Có về Hà Nội với ta thì về

    Đường thủy thì tiện thuyền bè

    Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang

    Bắc Ninh:

    Chiều trên cánh đồng Bắc Ninh

    Ai về nhớ vải Đinh Hòa Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu khê Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào.

    Nghệ An:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Cầu bắc qua sông Lam

    Nhớ Thanh Chương ngon nhút

    “Tiếng đồn cá mát sông Găng

    Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.”

    Ai về Nhượng Bạn thì về

    Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

    Phong Nha – Kẻ Bàng

    ” Yến sào Vinh Sơn

    Cửu khổng cửa ròn

    Nam sâm Bố Trạch

    Cua gạch Quảng Khê

    Sò nghêu quán Hàn

    Rượu dâu Thuận Lý…”

    Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử

    Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu

    Bao giờ nguyệt xế, trăng lu

    Nghe con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng.

    Ngọ Môn năm cửa chín lầu

    Cột cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng.

    Đi mô cũng nhớ quê mình

    Nhớ Hương Giang gió mát,

    “Quít giấy Hương Cần

    Quảng Nam:

    Nem chả Hòa Vang

    Quảng Ngãi:

    Ai về Quảng Ngãi quê ta

    Sơn Tịnh

    Nón lá Gò GăngCông đâu công uổng công thừa

    Nem chua chợ Huyện”

    Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi…

    Quảng Nam nổi tiếng bòn bon

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

    Phú Yên: “Xoài đá trắng Sắn Phương lụa”

    Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.

    Khánh Hòa: Yến xào Hòn Nội Vịt lộn Ninh Hòa Tôm hùm Đinh Ba Nai khô Diên Khánh Cá tràu Võ cạnh Sò huyết Thủy Triều…

    Phan Rí, Phan Thiết (Bình Thuận) :

    Cô kia bới tóc cánh tiên Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi Chẳng tin giở thử ra coi Rau răm ở dưới cá mòi ở trên

    (Hạ Ái Khanh sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Về Cuộc Sống
  • 30 Câu Ca Dao, Tục Ngữ Mang Đậm Triết Lí Nhân Sinh Sâu Sắc Về Cuộc Sống
  • Những Câu Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • Sưu Tầm, Vận Dụng Ca Dao, Tục Ngữ Vào Giảng Dạy Phần Triết Học Trong Môn Giáo Dục Công Dân
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100