Bài Giảng D:tục Ngữ Ca Dao Bắc Bộ.doc

--- Bài mới hơn ---

  • 40 Stt Hay Về Cô Gái Mạnh Mẽ Trong Cuộc Sống Hiện Đại
  • Danh Ngôn Về Sự Cô Độc
  • Lời Chúc Đầu Tuần Bằng Tiếng Anh Hay Nhất
  • Stt, Danh Ngôn & 60 Câu Nói Hay Về Những Khó Khăn Trong Cuộc Sống
  • Stt Tâm Trạng Háo Hức Của Người Con Xa Quê Những Ngày Cận Kề Tết
  • Ngày đăng: 25/11/2013, 00:11

    TỤC NGỮ : – Ông cúm bà Co, Ông từ trong Nghệ, Ông bò ra đây, Tín chủ tôi nay Có chút quà nầy, Mắm tôm bánh đúc, Ông xơi xong rồi Mời ông đi xa. – Thứ nhất Kinh Kỳ Thứ nhì Phố Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long. Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long – Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh. Ơi người gánh nước giếng đình! Còn chăng hay đã trao tình cho ai? – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 1) (Hỏi) Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng? Sông nào bên đục bên trong ? Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh ? Ðền nào thiêng nhất tỉnh Thanh ? Ở đâu lại có cái thành tiên xây ? Ở đâu là chín từng mây ? Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng ? Chùa nào mà lại có hang ? Ở đâu lắm gỗ thời nàng biết không ? Ai mà xin lấy túi đồng ? Ở đâu lại có con sông Ngân-Hà ? Nước nào dệt gấm thêu hoa ? Ai mà sinh ra cửa, ra nhà, nàng ơi ? Kìa ai đội đá vá trời ? Kìa ai trợ thuỷ cho đời được yên ? Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Xin em giảng rõ từng nơi từng người. – Ở đâu năm cửa, nàng ơi ! (Câu 2) (Đáp) -Thành Hà-nội năm cửa, chàng ơi ! Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng. Nước sông Thương bên đục bên trong, Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh. Ðền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh, Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây. Trên trời có chín từng mây, Dưới sông lắm nước, núi nay lắm vàng. Chùa Hương-tích mà lại ở hang ; Trên rừng lắm gỗ thời chàng biết không ? Ông Nguyễn Minh-Không xin được túi đồng, Trên trời lại có con sông Ngân-hà. Nước Tàu dệt gấm thêu hoa; Ông Hữu-Sào sinh ra cửa, ra nhà, chàng ơi ! Bà Nữ-Oa đội đá vá trời ; Vua Ðại-Vũ trị thủy cho đời yên vui. Anh hỏi em trong bấy nhiêu lời, Em xin giảng rõ từng nơi từng người. – Hà Nội ba mươi sáu phố phường Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh. Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen. Làm quen chẳng được nên quen Làm bạn mất bạn ai đền công cho. – Đền Đô kiến trúc tuyệt vời Thăng Long đẹp đất, đẹp người ngàn năm. – Bao giờ lấp ngã ba Tranh Để ta gánh đá xây thành Cổ Loa. – Lênh đênh ba bốn chiếc thuyền kề Chiếc ra Hà Nội, chiếc về sông Dâu. Vì tằm em phải hái dâu Vì người lịch sự em ngồi rầu bên nong. Lênh đênh chiếc bách giữa dòng Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ Ba năm trực tiết còn gì là xuân? – Ổi Quảng Bá, Hồ Tây Hàng Ðào tơ lụa làm say lòng người Lụa nầy thật lụa Cố Đô Chính tông lụa cống các cô ưa dùng . – Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn Hỡi ai xây dựng nên non nước này. – Bên Tây có chiếc tàu sang Sinh ra khố đỏ, quần vàng, áo thâm Cho nên anh chịu âm thầm Vai vác khẩu súng, tay cầm bình toong Ra đi sông cạn đá mòn Ra đi thương nhớ vợ con ở nhà Việc Tây anh phải trẩy xa Khi ở Hà Nội khi ra Hải Phòng Nói ra đau đớn trong lòng Vợ con nào biết Vân Mòng là đâu. – Ta lên Hà Nội tìm mình Trầu cau tiếp đãi thân tình biết bao Chân đi miệng lại khấn cầu Lạy Giời phù hộ gặp nhau phen này. – Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi Sông Nhị nước chảy phân đôi một dòng Đôi ta chua ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày. – Con sông chạy tuột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương Nhớ người cố quận tha hương Nhớ ai thì nhớ nhưng đường thời xa. – Thứ nhất là hội Cổ Loa Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Tràm. – Đường về xứ Lạng mù xa Có về Hà Nội với ta thì về Đường thủy thì tiện thuyền bè Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang. – Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng. – Hà Nội là trái tim ta Trái tim đất nước, gần xa giữ gìn. Mày mà đụng đến trái tim, Sóng căm thù sẽ nhận chìm mày ngay. Đã chôn hăm mốt máy bay Vẫn còn sẵn hố đợi mày ở đây. – Hà Thành là chốn kinh đô Ngọc Sơn, Tháp Bút, vua Lê tượng đồng Đua nhau ngàn tía muôn hồng Một màu nước biếc soi lồng bóng cây Đêm nào cũng có tích hay Kìa nhà chớp bóng, ta nay rẽ vào Lòng em nghĩ ngợi ra sao? Sán Nhiên, Quảng Lạc ồn ào cả đêm Cải Lương Hý viện kề bên Ngọt ngào tiếng hát cũng nên mất tiền Những khi vui thú giải phiền Dạo chơi Bách thú, quanh miền Hồ Tây Mặt hồ hây hẩy heo may Trong trong gió mát dễ say lòng người Hà thành đẹp lắm ai ơi! – Hà Thành là chốn kinh đô Đứng ở Hàng Mắm mà trông Kìa Ô Quan Chưởng, Cầu Đông đó mà Hàng Đường, Hàng Đậu đâu xa Hàng Nâu rẽ lại thì là Đồng Xuân Hàng Than, Hàng Cót rảo chân Đến phố Hàng Lọng là gần nhà ga Trở lại đến phố Hàng Lờ Rẽ tay phải phố Hỏa Lò chẳng sai Nhằm dốc Cây Thị ta xuôi Chiều tà, Chợ Đuổi thì người mới đông Bán mua vội vã cho xong Nhá nhem thời tối chợ không kéo dài Phố ta tạm kể thế thôi Phố Tây thì phải dạo chơi: Tràng Tiền Thái Hà, Trường Bưởi, Trung Hiền Có tầu điện chạy liên miên cả ngày Tiền đi thì thực rẻ thay Hai xu cái vé lên ngay tha hồ Lại còn cả bến ô tô Chở khách, chở đồ tùy ý người thuê. Bờ hồ cảnh ấy vui ghê . – Hà Thành là chốn kinh đô Vừa đông, vừa đẹp lại vừa rộng thay! Cửa nhà san sát đó đây Gác trên gác dưới bên ngoài, bên trong Ai ơi đứng lại mà trông Nguy nga tráng lệ non bồng nào hơn! Dập dìu xe ngựa bon bon Ban đêm đèn điện sáng hơn ban ngày. Này đây hàng Trống, Hàng Bài Đi thêm mấy bước rẽ ngay Hàng Hòm Hai bên chồng chất tráp son Hàng Gai chỉ bước đường con rõ ràng Hàng Đào rồi đến Hàng Ngang Tập trung khách trú bán hàng vui thay Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Mây Hàng Bút, Thuốc Bắc, tạt ngay Hàng Bồ Hiệu ta, hiệu Khách đổ xô Bán đèn, bán lọ những đồ rất sang Cầu Gỗ trông ra rõ ràng Đi thêm mấy bước thì sang Hàng Bè Dần dần tới chợ Hàng Tre Ngổn ngang nhộn nhịp thuyền bè dưới sông . – Hà Nội như động tiên sa Thơm ngát là chị hàng hương Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng Lôi thôi là chị hàng giang Bán rổ, bán xảo, bán sàng, bán nia Thưỡi môi là chị hàng thìa San sát hàng bát nhiều bề long đong Đỏ đon như chị hàng hồng Hàng cam, hàng quít, bưởi bòng thiếu chi Trống quân, cò lả sót gì Mỗi người một vẻ ai thì kém ai Lại thêm cạo mặt ngoáy tai Lại thêm ngoài chợ có người họa tranh Ngoài ra cải, diếp, răm, hành Thìa là, cải cúc xanh xanh rõ ràng Có người bán lược, bán gương Có người bán cả hòm rương, tủ quầy Có người bán dép, bán giày Có người bán cả ghế mây để ngồi Suốt ngày chợ họp ai ơi Thượng vàng hạ cãm bao người bán mua Hay cắp như chị hàng cua . – Hà Nội như động tiên sa Sáu giờ máy hết đèn xa đèn gần Vui nhất là chợ Đồng Xuân Thức gì cũng có xa gần bán mua Giữa chợ có anh hàng dừa Hàng cam, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng Ai ơi đứng lại mà trông Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong nượp nà Cổng chợ có chị hàng hoa […]… cành phù dung ĐÔNG BẮC CAO BẰNG ( Hoà An – Trà Lĩnh – Trùng Khánh – Hạ Lang – Phục Hoà – Thạch An Nguyên Bình – Thông Ninh – Hà Quảng – Bảo Lạc – Bảo Lâm – Quảng Yên ) BẮC CẠN ( Bạch Thông – Chợ Đồn – Ba Bể – Ngân Sơn – Na Rì – Chợ Mới – Pắc Nặm) – Bắc Cạn có suối đãi vàng Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh TUYÊN QUANG ( Sơn Dương – Yên Sơn – Hàm Yên – Chiêm Hoá – Nà Hang ) LẠNG SƠN ( Cao Lộc – Văn Lãng… làng Tiếu nấu nước điếu cũng ngon Làng Tiếu ở Sen Hồ,Gia lâm,tỉnh Bắc Ninh nổi tiếng về rau ngon – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày – Trên trời có sông Ngân Hà Tỉnh Nam sông cái, Bắc là sông sâu Bắc Ninh lại có sông Cầu Anh còn tơ tưởng sông Dâu, sông Đào Anh… ươm tơ – Nam Định còn có những giới thiệu những phiên chợ của họ một ca ch thú vị: Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình Mông bốn chơi chợ Quả linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng một năm mới có một phiên Ca i nón em đội cũng tiền anh mua… Vân Mòng là đâu – Bưởi Đại Trà, cam Đồng Dụ, gà Văn Cú VĨNH PHÚC ( Vĩnh Yên – Phúc Yên – Tam Dương – Mê Linh – Yên Lạc- Vĩnh Tường Lập Thạch – Bình Xuyên – Tam Đảo ) HẢI DƯƠNG ( Cẩm Giàng – Bình Giang- Gia Lộc – Thanh Miện – Ninh Giang – Tứ Kỳ Thanh Hà – Kim Thành – NamSách – Kinh Môn – Chí Linh ) HÀ GIANG ( Vị Xuyên – Bắc Mê – Yên Minh – Quản Bạ – Hoàng Su Phì – Xín Mần Bắc Quang – Đồng Vân – Mèo Vạc… sâu Quảng ) Hồng Gai có núi Bài Thơ Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên – – Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già Việc gì mà rủ nhau ra Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân – Cái cân có quỷ có ma Gạo vào một lối, gạo ra một đường Thẻ tôi ba mươi sáu kí rõ ràng Về nhà khảo lại chỉ còn mười lô ( Ca dao vùng mỏ ) ( Cái cân cân gạo… họa đồ Ai vô xứ Nghệ thì vô – Nhút Thanh Chương tương Nam Đàn – Cam Xã Đoài, xoài Bình Định Cổng làng Tò, trâu bò làng Hệ ( xã Đoài thuộc huyện Nghi Lộc ) BẮC GIANG ( Lục Ngạn – Lục Nam – Sơn Động – Yên Thế – Hiệp Hoà – Lạng Giang Tân Yên – Việt Yên – Yên Dũng ) – Gái Xuân Mai, trai Yên Thế – Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ cầu Lim BẮC NINH ( Yên Phong – Quế Võ – Tiên Du – Thuận Thành – Gia Bình… chua Hương thơm xếp để trong bồ Trần bì cam thảo sài hồ hoàng liên Hàng cô đáng giá bao tiền Để ta chung vốn góp tiền buôn chung Buôn chung ta lại bán chung Được bao nhiêu lãi ta cùng chia nhau ( Chợ Vị Hoàng thuộc thành phố Nam Định ) – Em là con gái Phù Long Quê em Cồn Vịt, lấy chồng vườn Dâu Dù đi buôn đâu bán đâu Cũng về giữ đất trồng dâu chăn tằm (cũ nhất nói đến một mảnh đất xưa, địa… phường phố, đủ vành núi sông Nhị Hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này Nùng Sơn, Long Đỗ đâu đây Tam Sơn núi đất cao tầy Khán Sơn Ngọc Sơn nhân tạo bé hơn Bên hồ Hoàn Kiếm ngay đền Văn Xương Trúc Bạch, Mã Cảnh nên tường Xa hồ Bảy Mẫu giáp đường gần nhau Ngoài đường quai có hồ sâu Tây Hồ rộng rãi ngay đầu phía tây Xung quanh bao bọc kín thay Đất cao thành lũy, cửa xây nên tường Mười lăm… – Hữu Lũng – Bắc Sơn – Bình Gia – Tràng Định ) THÁI NGUYÊN ( Sông Công – Phú Bình – Phổ Yên – Đại Từ – Định Hoá – Phú Lương – Đồng Hỷ – Võ Nhai ) ( Chưa có tư liệu ) TÂY BẮC Yên BÁI ( Nghĩa Lộ – Trấn Yên – Văn Chấn – Yên Bình – Văn Yên – Lục Yên – Trạm Tấu – Mù Căng Chải ) ( Chưa có tư liệu ) ĐIỆN BIÊN ( Lai Châu – Điện Biên Đông – Mường Lay – Mường Nhé – Tủa Chùa – Tuần Giáo ) Ở miền Bắc, vùng sông… chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ ngây thơ mình bị báng nước sông Bờ Chém cha cái nước sông Bờ Tưởng rằng báng nước ai ngờ báng con HOÀ BÌNH Kỳ Sơn – Đà Bắc – Mai Châu – Tần Lạc – Lương Sơn – Kim Bôi – Lạc Sơn Lạc Thuỷ – Yên Thuỷ – Cao Phong ) – Ở miền Bắc, vùng sông Bờ thuộc Hòa Bình,Lai Châu nước độc ,khí độc nổi tiếng về bệnh sốt rét đến nổi gái chưa chồng lội qua cũng chửa ,nếu lở có bầu thì làm bộ . Hiến. – Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần. – Đất Ngọc Hà Hoa Hữu Tiệp. CA DAO : – Đồng xanh sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long ngọt đã từng Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai. – Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Dòng Stt Xin Lỗi Mẹ Cha Hay Nhất Về Đứa Con Hư, Con Bất Hiếu Nhớ Mẹ
  • Top Những Stt Hay Về Cuộc Sống, Tình Yêu, Tình Bạn, Gia Đình
  • Châm Ngôn Và Năm Điều Luật Của Gia Đình Phật Tử Việt Nam
  • Những Câu Chúc Tết Hay Xuân Ất Mùi 2022
  • Danh Ngôn Về Sự Hết Mình
  • Văn Hoá Ẩm Thựccủa Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ Qua Ca Dao, Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Về Miếng Ăn Qua Ca Dao, Tục Ngữ : Miếng Ăn Hay Là Triết Lý Của Cuộc Đời (4)
  • Tình Yêu, Hạnh Phúc Trong Ca Dao
  • Ngân Vang Câu Ca Dao Xứ Quảng
  • Tướng Mạo Con Người Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Tướng Mạo Con Người Qua Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam
  • 1. Đã có không ít các công trình tập hợp, hệ thống và nghiên cứu về ca dao tục ngữ, nhưng chủ yếu đều tiếp cận từ góc độ của các chuyên ngành ngôn ngữ học, văn học, văn hoá học,… Các công trình thuộc dạng này đi sâu vào khai thác vần điệu thơ ca, cấu trúc, biểu tượng, ngữ nghĩa,… Chưa có nhiều lắm những công trình sử dụng ca dao tục ngữ như một nguồn tư liệu để nghiên cứu các mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hoá ẩm thực. Bài viết này là một thử nghiệm với hi vọng góp phần làm rõ thêm đặc trưng của văn hoá ẩm thực của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua một góc nhìn mới.

    Tuy nhiên, để khai thác văn học dân gian như một nguồn tư liệu là công việc không hề đơn giản. Do tính chất ước lệ rất cao, lại biểu hiện chủ yếu dưới dạng hình tượng, biểu trưng và ẩn dụ nên phải áp dụng những phương pháp xử lí phù hợp. Trong báo cáo này, phương pháp phân tích định lượng được sử dụng như một giải pháp hữu hiệu để lượng hoá những thông tin định tính. Với một tập hợp lên tới hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ nếu sử dụng phương pháp dẫn chứng truyền thống, đưa ra một số câu để phân tích, dẫn giải thì chẳng những không tìm ra được những đặc trưng văn hoá ẩn sâu trong kho tàng văn học dân gian mà có khi còn bị sai lệch do sự chủ quan khi lựa chọn dẫn chứng.

    2. Theo cách nói dân dã thì “cái ăn, cái mặc, cái ở” là ba cái quan trọng hàng đầu của con người. Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể thiếu một trong ba yếu tố thiết yếu đó. Từ rất lâu người Việt đã ý thức được tầm quan trọng của cái ăn uống và điều này được phản ánh rất đậm nét trong kho tàng ca dao tục ngữ người Việt đồng bằng Bắc Bộ như: Có thực mới vực được đạo; Người có ăn mới khoẻ, mẻ không ăn thì mẻ cũng chết,… Và trong cuộc sống hàng ngày con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất: Có làm thì mới có ăn; Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ,

    Chính vì ăn uống có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống con người nên thông qua ăn, uống ông cha ta còn gửi gắm, ẩn dụ nhiều triết lí dân gian vào ca dao, tục ngữ như ước vọng, khuyên răn, giáo dục, phê phán, nhằm bồi dưỡng thêm tri thức ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, về luân thường, đạo lí.

    Chẳng hạn như: Ăn cháo đá bát; Miếng ăn quá khẩu thành tàn; Thương cho roi cho vọt, ghét cho ăn; Trách ai đặng cá quên nơm, // Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành; Chớ ăn cây táo rào cây sung;… Hay trong quan hệ ứng xử vợ chồng, người vợ Việt được ca dao, tục ngữ sử dụng những hình ảnh bếp núc để ghi lại những hành động của người phụ nữ cư xử hết sức khôn ngoan, ngọt ngào.

    3.1. Kinh nghiệm ẩm thực

    Bởi lẽ, ăn uống và chăm sóc sức khoẻ của người Việt có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của con người và xã hội như vậy nên qua khảo sát thống kê trong 4 tập ca dao, tục ngữ chúng tôi đã thu thập được 3.474 đơn vị có nội dung thuộc về văn hoá đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại và chăm sóc sức khoẻ) của người Việt đồng bằng Bắc Bộ. Trong đó có tới 2.433 đơn vị nói về ẩm thực, chiếm 70% .

    3. Nếu như ca dao tục ngữ là sáng tạo gắn cuộc sống thường nhật và được tích lũy qua nhiều thế hệ thì số liệu trong bảng 1 cho thấy Ẩm thực là lĩnh vực được người Việt đồng bằng Bắc Bộ dành cho sự quan tâm đặc biệt. Cũng trên cơ sở phân tích định lượng, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về sự quan tâm này.

    Trong 4 loại mà chúng tôi tạm chia theo ý nghĩa và nội dung các câu ca dao, tục ngữ về ẩm thực thì có đến 1.134 đơn vị (chiếm 46,6%) phản ánh kinh nghiệm ăn uống của người Việt. Trong số đó, những câu nói về kinh nghiệm uống (nước, trà, rượu,…) lại không nhiều. Tất cả chỉ có 42 câu. Cụ thể: 6 câu nói về uống nước, 12 câu nói về uống trà/chè, 23 câu nói về uống rượu/tửu và 1 câu nói về uống giấm.

    3.2. Kinh nghiệm lựa chọn vật phẩm

    Ví dụ: Uống nước nhớ nguồn; Nước chè xanh vừa lành vừa mát; Nước khe, chè núi; Rượu cổ be, chè đáy ấm; Rượu ngon bởi vị men nồng, người khôn bởi vị giống dòng mới khôn; Rượu làng thì uống, rượu mua thì đừng; Uống giấm để đỡ khát,…

    Kinh nghiệm về hút thuốc lào/phiện cũng không được đề cập đến nhiều, vẻn vẹn chỉ có 4 câu (thuốc lào: 3 câu, thuốc phiện: 1câu). Ví dụ: Thuốc lào một nạm, chè tàu một hơi; Thuốc lào Khai Lai, lợn choai chợ Thượng; Thuốc lào Vĩnh Bảo// Chồng hút vợ say// Thằng bé điếu đóm// Lăn quay giữa nhà; Thuốc phiện hết nhà, thuốc trà hết phên… Hoàn toàn thiếu vắng kinh nghiệm hút thuốc lá. Điều này có thể lí giải là thuốc lá có thể xuất hiện muộn vào thời kì sau năm 1945 nên chưa thể có kinh nghiệm lưu giữ trong dân gian. Hoặc cũng có thể thuốc lá là loại thuốc hút trước đây chỉ sử dụng nhiều ở đô thị, không phổ biến ở thôn quê, cái nôi sản sinh ra văn học dân gian.

    Một năm có 12 tháng, theo kinh nghiệm dân gian thì tháng 10 (âm lịch) là tháng mà các sản phẩm nông nghiệp đạt tỉ lệ hàm lượng vitamin cao, ngon, béo, chất lượng đặc biệt nhất. Ví dụ như:

    Bầu tháng chín, bín tháng mười (bín: bí đao).

    Tháng sáu gọi cấy rào rào // Tháng mười lúa chín, mõ rao cấm đồng.

    Ếch tháng ba, gà tháng mười.

    Ếch tháng mười, người Hà Nội.

    Nhất cá rô tháng giêng, nhì cá tràu tháng mười.

    Sở dĩ các loại cây trồng và con vật nuôi phát triển tốt vào thời gian này là vì thời tiết mát mẻ. Hơn nữa, đây là dịp thu hoạch vụ mùa nên gia súc, gia cầm, thuỷ sản được ăn uống đầy đủ cả về chất và lượng từ các loại cây hoa màu và thóc lúa dư thừa, rơi vãi.

    Kinh nghiệm về ẩm thực không chỉ giúp chúng ta chọn lựa vật phẩm theo thời gian, mùa vụ mà còn giúp chúng ta chọn lựa bộ phận này ngon hơn hoặc ít ngon hơn bộ phận kia. Vấn đề này được ca dao, tục ngữ đề cập chủ yếu đến việc chọn lựa các bộ phận của con vật nuôi quen thuộc và cũng là món ăn phổ biến trong cơ cấu bữa ăn của người Việt như: lợn, bò, trâu, gà, chó, cá còn các con vật nuôi khác như: mèo, chim, vịt, ngan, ngỗng,… không được đưa ra làm tiêu chí lựa chọn nguyên liệu cho món ăn “khoái khẩu”. Chẳng hạn: Đối với thịt lợn thì thịt chân giò; đối với thịt bò thì thịt bắp được coi là bộ phận ngon được nhiều người ưa chuộng như: Lợn giò, bò bắp; Đầu nheo hơn phèo trâu; Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng chân chì mua chi giống ấy; Chó già, gà non hay Đầu cá trôi, môi cá mè; Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm.

    Việc lựa chọn bộ phận ngon để thưởng thức không chỉ được thực hiện ở các con vật nuôi mà còn cả ở các loại rau quả trong bữa ăn hàng ngày như: Cần ăn cuống, muống ăn lá; Cây rau má, lá rau húng, cuống rau đay; Chuối hàng sau, cau hàng trước; Ăn dứa đằng đít, ăn mít đằng đầu;…

    Từ xưa ông cha ta đã biết kết hợp hài hoà giữa tính âm và tính dương trong bữa ăn hàng ngày. Ví như ngày Tết theo truyền thống dân tộc, Việt Nam ta thường có bánh chưng, bánh tét. Ruột của hai loại bánh này là gạo nếp, hạt tiêu, thịt heo, hành,… (nóng) ăn lâu tiêu, nhưng vỏ bọc bằng lá dong, lá chuối (mát). Hai thứ – một làm ruột, một làm vỏ (ruột nóng, vỏ mát) được trung hoà qua ngọn lửa khiến cho bánh ngon và bớt “nóng”. Nắm được quy luật của tạo hoá, ông cha ta đã vận dụng vào cách ăn uống và đã đúc kết thành kinh nghiệm như: “Cam hàn, quýt nhiệt, bưởi tiêu”. Thực tế đã chứng minh kinh nghiệm này không sai. Chẳng hạn sự kết hợp giữa các gia vị vào các món ăn cũng được tính toán hợp lí như: thịt mỡ đi với dưa hành, củ kiệu; lòng, trứng vịt lộn, cá trê, ốc, thịt vịt (hàn) phải ăn với húng, tía tô, gừng, rau răm, muối tiêu, nước mắm gừng (nhiệt); nước dừa thêm muối, ốc hấp lá gừng: ốc, lá gừng,…

    Qua thống kê có 67 đơn vị ca dao, tục ngữ nói đến sự kết hợp trong bữa cơm của người Việt đồng bằng Bắc Bộ không thể vắng mặt món rau quả (gồm có nhiều loại rau quả), canh và dưa cải.

    Để có được món ăn ngon, ông cha ta không chỉ coi trọng việc chọn lựa vật phẩm, kết hợp hài hoà các món trong bữa ăn mà còn rất chú ý đến việc bảo quản, cách chế biến và mức độ thưởng thức. Trước đây nấu cơm chủ yếu bằng rơm rạ, củi đuốc,… để có được một nồi cơm ngon vừa chín tới thật không đơn giản chút nào. Người nấu phải khéo léo và có kinh nghiệm. Bởi vậy mà có đến 22 câu ca dao, tục ngữ (không kể dị bản) nói về việc nấu cơm. Ví dụ như: Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê; Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời; Cơm giở, cỏ xới; Nấu cơm không xới thì mất một bát, cày ruộng không lấp trôốc vát thì mất một triên,…

    Bảo quản đồ ăn thức uống cũng là khâu rất quan trọng để giữ món ăn được tươi lâu, giữ được hàm lượng dinh dưỡng. Số câu ca dao, tục ngữ nói về việc này rất ít, chỉ có 3 câu (kể cả dị bản) nói về bảo quản như: Cá không ăn muối cá ươn; Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư; Bánh giầy phải đậy bằng nong, bài học vỡ lòng đã rệt hai chân.

    Bất cứ việc gì có chừng mực thì đều mang lại hiệu quả cao, ăn uống cũng vậy, không nên ăn uống quá nhiều. Miếng ăn chỉ ngon khi ăn đúng mức, nếu ăn quá sẽ không còn cảm giác ngon nữa. Ví như: Ăn lấy thơm lấy tho chứ không ai ăn lấy no lấy béo… Nếu ăn quá độ sẽ mang hại vào thân: Ngon mồm ôm bụng.

    Tất cả những tri thức dân gian truyền thống mà ông cha ta đã đúc rút đều thể hiện sự thích ứng, hoà hợp giữa con người với tự nhiên và vạn vật xung quanh. Nó được phản ánh trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ của người nông dân với sinh hoạt hàng ngày và lao động sản xuất.

    Nói về món bánh đúc: Bánh đúc chợ Go, trâu bò chợ Bản; Bánh đúc kẻ Đanh, bánh hành kẻ Lán,…

    Hay nói về hoa quả: Vải ngon thì nhất làng Bằng// Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn // Củ đậu Bằng Thượng thiếu gì// Dưa hấu Bằng Hạ ai bì được chăng; Ổi Đình Công, nhãn lồng Thanh Liệt,…

    Chúng tôi đã phân chia ra thành 3 tổ hợp đặc sản dựa trên nền nông nghiệp căn bản ở nước ta. Đó là đặc sản trồng trọt, chăn nuôi và đặc sản tự nhiên (thuỷ sản).

    Số đơn vị có nội dung về đặc sản có nguồn gốc trồng trọt có tỉ lệ áp đảo, chứng tỏ nông nghiệp trồng trọt ở nước ta từ xưa đến nay vẫn luôn là ngành nghề chi phối sâu sắc đến đời sống cư dân người Việt. Tuy đặc sản chăn nuôi và đặc sản tự nhiên có số lượng không nhiều như đặc sản trồng trọt nhưng nó luôn ở vị trí quan trọng ngang bằng chứ không thể thiếu trong ngành nông nghiệp ở nước ta trong việc cung cấp giống vật nuôi và thực phẩm gia súc, gia cầm, thuỷ sản cho đời sống con người.

    Trên cơ sở xuất hiện địa danh của các tỉnh hiện nay, chúng tôi đã khôi phục cả tên địa danh tỉnh cũ song song với địa danh tỉnh mới và quy về một địa bàn để tiện cho việc theo dõi và phù hợp với bối cảnh ra đời của ca dao, tục ngữ. Ví dụ: Hà Bắc (tỉnh cũ) – Bắc Giang, Bắc Ninh (tỉnh mới); Hà Nam Ninh (tỉnh cũ) – Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (tỉnh mới),… Còn các tỉnh xuất hiện duy nhất trong bảng thì chúng tôi để nguyên tên tỉnh mới.

    Qua bảng thống kê cho thấy về cơ bản các tỉnh ở trung và hạ châu thổ sông Hồng (Hà Bắc, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Thái Bình) có số lượng các loại đặc sản nhiều hơn hẳn so với các tỉnh lân cận khác ở đồng bằng Bắc Bộ. Phải chăng, nơi đây là địa bàn quy tụ dân cư từ thời cổ xưa, với mạng lưới sông ngòi dày đặc khắp đồng bằng là nguồn cung cấp nước dồi dào cho công tác thuỷ lợi tưới tiêu và thuận lợi cho việc chăn nuôi và đánh bắt thuỷ sản. Hơn nữa, có lượng phù sa lớn của sông Hồng là nguồn dinh dưỡng quý giá cho phát triển cây trồng và chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản. Vì vậy đây là mảnh đất có truyền thống sản xuất nông nghiệp chuyên biệt tạo ra nhiều sản vật đặc sắc và có giá trị kinh tế cao. Tuỳ thuộc vào môi trường tự nhiên và truyền thống lịch sử của từng nơi, từng làng mà hình thành một nghề riêng với những đặc sản có thương hiệu không thể lẫn với nơi khác được. Ví dụ: ở Hà Nội (Hà Tây cũ) có làng Trung Lập nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm, Sâm Động là đất trồng Hành, Phú Xuyên trồng lúa, Thuỵ Phiêu trồng khoai; đất Hà Nam “Đôi bên núi tựa sông kề // Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn” có Đinh Xá nuôi cá, Hoà Mạc trồng đậu trồng cà, Thiện Vịnh ươm giống rau răm rau cần, Văn Quan, Đồng Thuỷ trồng ngô khoai, Đại Hoàng nổi tiếng với chuối ngự; Thái Bình có Hành tổng (Kiến Xương) trồng mía,…

    Số đơn vị ca dao, tục ngữ có nội dung về đặc sản trồng trọt, đặc biệt, là cây lúa và các cây thực phẩm chiếm tỉ lệ cao hơn cả. Điều này cũng dễ hiểu vì nền sản xuất của Việt Nam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trong đó cây lúa chiếm một vị trí quan trọng. Ngoài cây lúa, các loại cây thực phẩm như rau đậu: Đó là loại cây thực phẩm rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người dân. Nếu so sánh các loại cây trồng được kể đến trong ca dao, tục ngữ thì chúng ta thấy một bức tranh đáng chú ý là đặc sản các cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày như: lúa, rau, khoai, cà, đỗ, chuối,… xuất hiện trong ca dao, tục ngữ nhiều hơn là các cây thực vật lưu niên: mít, ổi, xoan, táo,… Điều này chúng tôi có thể hiểu là: Các cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày thường phụ thuộc nhiều vào thời vụ, thời tiết. Do vậy, nó đòi hỏi phải chăm sóc công phu và phức tạp hơn so với cây lưu niên. Nhân dân được mùa hay mất mùa thường xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Vì vậy nó tạo ra nhiều bài học kinh nghiệm và lưu giữ nhiều đặc sản quý trong kho tàng văn học dân gian.

    5. Ẩm thực với chăm sóc sức khoẻ

    Con người phải ăn uống để mang lại sức khoẻ tốt: Người có ăn mới khoẻ, mẻ không ăn thì mẻ cũng chết; Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo. Nhưng đôi khi ăn uống không phù hợp, đúng cách lại mang lại hiệu ứng tiêu cực làm cho sức khoẻ con người giảm sút, thậm chí yếu đi. Với sự nhìn xa trông rộng về một tài sản “sức khoẻ” là vô giá nên ông cha ta đã lấy việc ăn uống để nhắc nhở, cảnh báo con người phải đề cao việc giữ gìn và chăm sóc sức khoẻ như một lẽ thường tình trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người. Mặc dù số đơn vị phản ánh về nội dung này chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các phạm trù mà ẩm thực đề cập đến (chiếm 11,8%) nhưng nó lại là vấn đề trực tiếp và sống còn nhất đối với cá nhân mỗi con người.

    Trong số 4 mặt biểu hiện của ẩm thực với chăm sóc sức khoẻ thì ăn uống điều độ để có một cơ thể cường tráng, một tư duy lành mạnh là nội dung được chú ý nhiều nhất (178 đơn vị) chiếm 62%: Cờ ba cuộc, cơm ba bát, thuốc ba thang; Ăn có chừng, chơi có độ; Ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn;…

    Tuy nhiên bản chất của người nông dân Việt Nam vẫn luôn giản dị, chất phác, không ưa cầu kì, phức tạp. Họ sống vô tư, hồn hậu cả trong suy nghĩ và trong hành động: Ăn như cũ, ngủ như xưa; Hay ăn hay uống là tướng trời sinh; Ăn không kể bát, hát không kể đêm, vật không kể nền, bền không kể đá; Ăn no ngủ kĩ, chổng tĩ lên trời;… Chỉ với 23 đơn vị (chiếm 8,0%) nhưng đây là một đức tính quý của người nông dân nên vẫn luôn được đề cao và phát huy.

    Ăn uống vệ sinh sạch sẽ cũng là một điều kiện mang lại sức khoẻ tốt. Điều này được thể hiện ở một số lượng rất khiêm tốn (chỉ 5 đơn vị – 1,8%) nhưng không thể thiếu được trong các mặt của ăn uống với việc chăm sóc sức khoẻ: Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm; Cơm ba bát, tắm mát sớm mai và cũng phê phán những biểu hiện của việc ăn ở bẩn thỉu như: Ăn tro giọ trấu, ỉa cứt ra than,…

    Ăn uống không chỉ mang lại sự no đủ cho con người về vật chất để tồn tại và phát triển mà con người tiến hành hoạt động ăn uống còn để vươn tới một điều khác cao hơn là văn hoá. Vì vậy, từ xưa ông cha ta đã lấy việc ăn uống làm điểm tựa để gửi gắm vào đó những ước vọng, nhằm bồi dưỡng luân thường, đạo lí cho con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội.

    Điều ước rất đỗi giản dị của người phụ nữ về món ăn do sức lao động của chính người chồng mình làm ra đã thể hiện chứa chan tình cảm và sự mãn nguyện về đời sống tinh thần:

    Những điều răn dạy đối với con người là sống ở trên đời phải có trước có sau, phải biết kính trọng, ân nghĩa. Con người ăn uống để hưởng thụ thành quả lao động, vì thế cần phải biết công ơn của người đã đem lại kết quả ấy: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; Uống nước nhớ nguồn; Ăn cây nào rào cây ấy;… Phê phán, lên án những kẻ quá coi trọng đến cái ăn vật chất mà quên đi những giá trị văn hoá của con người. Miếng ăn lại trở thành sự xấu xa: Miếng ăn quá khẩu thành tàn; Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu;…

    Đến quan hệ anh – em thì tỉ lệ bị đẩy lùi xa hơn (chiếm 14,1%) nhưng trong tương quan so sánh với quan hệ vợ – chồng thì quan hệ anh em có khi được xem như gắn bó, keo sơn hơn bởi người ta có thể bỏ vợ, bỏ chồng nhưng không thể bỏ anh em: “Anh em như chân như tay, vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.”

    Qua các mối quan hệ gia đình cho thấy mô hình gia đình hạt nhân hai thế hệ đã thực sự trở thành cấu trúc cơ bản của xã hội Việt Nam. Cấu trúc này luôn là cấu trúc lí tưởng của các gia đình trẻ Việt Nam hiện nay và mai sau.

    Có thể nói luân thường, đạo lí của con người là kim chỉ nam cho mọi hành động. Từ những hành động tưởng chừng rất nhỏ Ăn cơm phải biết trở đầu đũa; Liệu cơm gắp mắm; … nhưng lại có ý nghĩa răn dạy con người phải biết cư xử đúng đạo lí và biết phân biệt đúng sai trước khi hành động. Vì thế tổ hợp ẩm thực với luân thường, đạo lí là nội dung được ông cha ta luôn đề cao và tập trung vào phản ánh những vấn đề căn bản sau:

    Ở bảng 8, mục 3 có 68 đơn vị đề cập đến nguyện vọng của nhân dân phải chăm chỉ làm – ăn để xây dựng một xã hội công bằng mà mọi người được hưởng thụ cân đối với sức lao động bỏ ra: Có làm có ăn; Làm gắng ăn gắng; Muốn ăn cá phải thả câu; Muốn ăn oản phải giữ lấy chùa; Muốn ăn thì lăn vào bếp,… Hiếm thấy họ khuyến khích làm việc nhiều, ăn ít. Chúng tôi chỉ tìm thấy một câu có ý nghĩa khuyên nhủ “Làm gắng hơn gắng ăn”.

    Thật thà, sòng phẳng là đức tính quý báu của con người . Trong đó thái độ coi trọng đề cao sự thật thà (19 đơn vị): Ăn ngay nói thật; Ăn mặn nói ngay, hơn ăn chay nói dối,… Thể hiện bản chất sòng phẳng (26 đơn vị): Ăn đều tiêu sòng; Ăn quả vả, trả quả sung’; Bánh ít trao đi, bánh dì trao lại,…

    Bản tính lo xa được coi là tính cách vốn có của người nông dân nông nghiệp trồng lúa nước, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, nền nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, ngày đêm phải “Trông trời trông đất trông mây trông mưa trông gió trông ngày trông đêm”. Cả khi sung túc, thuận lợi cũng không chủ quan, phải lường tính đến hoàn cảnh khó khăn khi gặp phải. Nội dung này có (33 đơn vị) đề cập đến: Được mùa chớ phụ ngô khoai; Ăn bữa sáng lo bữa tối; Ăn chắt để dành; Ăn củ môn bữa mai, để củ khoai bữa mốt;…

    Ở nội dung ẩm thực với bồi dưỡng tri thức luân thường đạo lí, chúng tôi thấy thái độ của nhân dân luôn thể hiện ở tính hai mặt: trọng ân nghĩa – phê phán sự vô ơn; ca ngợi đức tính thật thà, chăm chỉ, tiết kiệm – phê phán sự dối trá, lười nhác, hoang phí,… Tất cả đều có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với con người ở bất cứ thời đại nào.

    THƯ MỤC THAM KHẢO

    Ăn uống là tấm gương phản chiếu bức tranh nông nghiệp của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ qua kho tàng ca dao, tục ngữ.

    Kinh nghiệm ẩm thực đã chi phối về mọi mặt của đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người nơi đây. Điều này thể hiện ở tỉ lệ áp đảo đơn vị có nội dung phản ánh kinh nghiệm ăn – uống – hút xách so với nội dung về đặc sản ẩm thực hay mối quan hệ gia đình, xã hội; bồi dưỡng tri thức luân thường, đạo lí. Cũng như những tác động của nó đến các hành vi ứng xử trong gia đình và xã hội người Việt.

    Trên bức tranh đặc sản ẩm thực thì lúa và các sản vật chế biến ra từ lúa chiếm số lượng ưu thế. Điều đó một lần nữa khẳng định nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta nói chung, đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, cây lúa vẫn là cây trồng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.

    Ở bất kì nội dung bồi dưỡng tri thức luân thường, đạo lí nào đều tồn tại tính hai mặt của một nội dung là ca ngợi và phê phán có ý nghĩa giáo dục nhân văn sâu sắc.

    Tất cả những tri thức dân gian truyền thống mà ông cha ta đã đúc rút qua nội dung ẩm thực đều thể hiện sự thích ứng, hài hoà giữa con người với tự nhiên. Nó được phản ánh đậm nét qua những đặc tính của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ với lao động sản xuất và sinh hoạt ăn uống hàng ngày.

    1. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978.

    2. Đinh Gia Khánh, Văn hoá trong ăn uống, Văn hoá dân gian, 1989.

    3. Nguyễn Xuân Kính, Qua ca dao tục ngữ tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc của người Thăng Long- Hà Nội, Văn hoá dân gian số 2-1990.

    4. Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, NXB TP Hồ Chí Minh và khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 1992 .

    5. Toan Ánh, Phong tục Việt Nam – Nếp cũ gia đình, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1992.

    6. Vương Xuân Tình, Ăn uống trong sinh đẻ của phụ nữ Việt ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Dân tộc học số 3 – 1992.

    7. Nguyễn Loan – Nguyễn Hoà, Từ điển món ăn Việt Nam, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994.

    8. Phan Huy Lê – Vũ Minh Giang (chủ biên), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, tập II, đề tài KX 07 – 02, 1996.

    9. Vũ Dung – Thuý Anh – Vũ Quang Hào, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1997.

    10. Diệp Đình Hoa, Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.

    11. Huỳnh Thị Dung – Nguyễn Thị Huế – Nguyễn Thu Hà, Từ điển văn hoá ẩm thực Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.

    12. Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002.

    13. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002.

    14. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2001.

    15. Ngô Đức Thịnh, Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004.

    16. Trần Quốc Vượng, Môi trường con người và văn hoá. NXB Văn hoá Thông tin và Viện Văn hoá, Hà Nội.

    17. Vũ Minh Giang, Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009.

    18. Trần Thuý Anh, Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009.

    NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ: Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Gia Đình, Tình Cảm Gia Đình Hay Nhất Ý Nghĩa
  • 1001 Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Cảm Gia Đình
  • Các Bài Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa
  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tính Tự Lập
  • Ca Dao Tục Ngữ Qua 2 Miền Nam Bắc Pptx

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nói Của Người Miền Tây Nam Bộ Qua Ca Dao Trần Minh Thương
  • Đặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Mùa Hè, Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Nhất Về Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11
  • Tục Ngữ, Ca Dao Địa Danh Ninh Bình (Lv Thạc Sĩ)
  • Ngày đăng: 02/04/2014, 22:20

    QUA 2 MIỀN NAM QUA 2 MIỀN NAM BẮC Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau Bắc Cuốc Nhanh, Nam Đi Bộ mau mau Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ Nam mần Sơ Sơ, Bắc Nàm Nấy Nệ Bắc Lệ trào, Nam Chảy nước mắt ra Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da Bắc Bước vào kia, Nam Đi vô trỏng Nam kêu Vạc Tre, Bắc là cái Chõng Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Luận ngược xuôi Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Đó Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ Nam Muỗng Phê, Bắc gọi cái Thìa Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi Dìa Nam Đi Tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi Nam Nói Dai , Bắc cho là Lải Nhải Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô Nam Đi trốn , Bắc cho là Lánh Mặt Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Đắt Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại Nam Ngu Ghê, còn BắcQuá Dại Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi? Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải Nam thì Dạ, Bắc thưa Vâng ạ Nam kêu Biểu, Bắc nói là Bảo Nam xài Tui, Bắc lại xưng Tôi Nam hô Qua, Bắc nhỏ nhẹ Anh Nam thấy Hên, Bắc thời May Quá Nam Mắc Cười, Bắc bảo Buồn Cười Nam chê Mắc, Bắc thì bảo Đắt Nam nói Ưng Ghê, Bắc nói Hài Lòng Nam Thây Kệ, Bắc thì Mặc Kệ Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U Bắc gọi thích ghê, Nam kêu là khoái Nam kêu Hái Bắp, Bắc bảo vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn! Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp Bắc bảo Cao to, Nam cho là lớn Ðùa mà không thật, Bắc bảo là điêu Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê Bắc bảo Sướng Phê, Năm rên Đã Quá! Bắc hay đi phá, Bắc đả bằng gươm Nam chọc bị lườm, kiếm Nam, Nam thọt Bắc ngồi Bia Bọt, Nam nhậu La-De Bắc Bùi Bùi lạc rang, Nam Thơm Thơm đậu phụng Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả” Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia” Nam chửi “tên chua”, Bắc rủa “đồ phải gió” Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt Bắc gọi cái rèm, Nam kêu cái màn Bắc gọi cái màn, Nam kêu cái mùng Bắc bảo đắp chăn, Nam biểu đắp mền Bắc gọi cái môi, Nam kêu cái vá (louche) Bắc gọi là nem Nam kêu thịt nướng Bắc gọi là ruốc Nam kêu thịt chà bông Bắc gọi là ninh Nam kêu là hầm Bắc gọi con lợn, Nam kêu con heo Bắc xuýt xoa “Cái Lan đẹp cực!”, Nam trầm trồ “Con Lan đẹp dễ sợ!” Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Ðau Bắc Cuốc Nhanh, Nam Ði Bộ mau mau Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ Nam mần Sơ sơ Bắc nàm nấy nệ Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da Bắc bước vào kia, Nam Ði vô trỏng Nam kêu Vạc Tre, Bắc là cái chõng Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Ðó Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ Nam Muỗng phê, Bắc gọi cái Thìa Nam muỗng canh, Bắc gọi cái cùi dìa Nam Ði Tuốt, thì Bắc lìa xa mãi Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô Nam Ði trốn, Bắc cho là Lánh Mặt Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Ðắt Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại Nam Ngu ghê, còn BắcQuá Dại Nam Sợ Ghê Bắc thì Hãi Quá đi Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải *** Bắc gọi thích ghê, Nam kêu là khoái Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn! Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Một Bản Khác Tiếng Việt dễ thương qua 2 miền Nam, Bắc Đọc Được từ một Forum bạn chuyển lại cho các ACE xem chơi. Ai có rồi cứ đọc lại không sao. NÔ CHẠT- (Phờ)Riiiiii Tiếng Việt dễ thương qua 2 miền Nam, Bắc Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc gọi lọ, Nam kêu chai Bắc mang thai, Nam có chửa Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi Ôi! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh Bắc định đến muộn , Nam liền la trễ Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng Bắc nói trổng Thế Thôi , Nam bâng quơ Vậy Đó Bắc đan cái Rọ , Nam làm giỏ Tre, Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xoè Ô Điên rồ Nam Đi trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo. Bắc bảo: cứ véo! Nam : ngắt nó đi. Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn ! Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay. Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó. Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú Nam : ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi! Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá ! Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm Nam mê phiếm, Bắc thích đùa Bắc vua Bia Bọt , Nam chúa La-De Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam : Thơm Thơm đậu phọng Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả” Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia” Nam mỉa “tên chua”, Bắc rủa “đồ phải gió” Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt Đến khi Nam địt, Bắc hô đánh rấm Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh cực!”, Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!” Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền Tình Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu… . CA DAO TỤC NGỮ QUA 2 MIỀN NAM BẮC CA DAO TỤC NGỮ QUA 2 MIỀN NAM BẮC Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau Bắc. thương qua 2 miền Nam, Bắc Bắc bảo Kỳ , Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ) Bắc gọi lọ, Nam kêu chai Bắc mang thai, Nam có chửa Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi Ôi! Bắc quở Gầy , Nam than Ốm Bắc cáo Ốm, Nam. Nam Nói Gì? Bắc hỏi Dạ bảo chi? Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải Nam thì Dạ, Bắc thưa Vâng ạ Nam kêu Biểu, Bắc nói là Bảo Nam xài Tui, Bắc lại xưng Tôi Nam hô Qua, Bắc nhỏ nhẹ Anh Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Nhân Ái, Yêu Thương Con Người
  • Ca Dao Tục Ngữ Và Thành Ngữ Thể Hiện Lòng Biết Ơn?
  • Kho Tàng Lục Bát Dân Gian
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Thiên Nhiên Và Lao Động Sản Xuất
  • Dự Báo Thời Tiết Qua Ca Dao, Tục Ngữ Của Người Việt Đồng Bằng Bắc Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Phật Giáo Trong Ca Dao Việt Nam
  • Văn Nghệ (Bậc Hướng Thiện): Ca Dao, Tục Ngữ Về Hiếu Nghĩa, Đạo Pháp, Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Ca Dao Miền Biển Phú Yên
  • Những Câu Ca Dao, Đồng Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Vn Mang Màu Sắc Phật Giáo
  • Phật Giáo Việt Nam Qua Phong Dao, Tục Ngữ
  • TS. Nguyễn Thị Phương Anh

    Khoa Việt Nam học và tiếng Việt

    Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

    Lao động sản xuất ra của cải vật chất bao giờ cũng là một quá trình tương tác với điều kiện tự nhiên. Vì thế con người luôn luôn phải dựa vào tự nhiên để vừa tận dụng, khai thác những mặt thuận lợi đồng thời cũng phải tìm cách thích ứng, hài hoà với tự nhiên. Vi vậy việc khám phá để chinh phục và thích ứng với tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cư dân nông nghiệp. Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, con người chỉ có thể quan sát thực tế để rút ra những quy luật nhằm thích ứng với tự nhiên và vận dụng nó vào đời sống hàng ngày. Chính vì thế ca dao, tục ngữ phản ánh về những hiện tượng khí hậu, thời tiết là một bộ phận quan trọng ra đời sớm nhất thể hiện những chiêm nghiệm và dự báo thời tiết của cha ông ta từ ngàn xưa để lại được lưu truyền trong kho tàng tri thức ca dao, tục ngữ của người Việt.

    Để nương nhờ vào tự nhiên nhưng không hoàn toàn lệ thuộc vào tự nhiên, con người phải hiểu được các cấu trúc và quy luật của yếu tố tự nhiên để đề phòng và kịp thời ứng phó. Trong ứng xử với tự nhiên, một mặt con người biểu thị sự quy phục, sợ hãi, nương nhờ vào tự nhiên nhưng mặt khác con người lại thể hiện sự vươn lên nắm bắt, làm chủ các quy luật của tự nhiên.

    Nhưng thái độ sùng bái, tâm lý nương nhờ thiên nhiên của cư dân nông nghiệp được hiểu ra sao, đến mức độ nào không dễ gì có thể xác định được. Việc thống kê để tìm ra tần xuất những câu có nội dung phản ánh thái độ của cư dân với tự  nhiên có thể giúp chúng ra phần nào hình dung được mức độ đó.

    Thực tế thống kê cho thấy, trong số 411 câu ca dao, tục ngữ nói về khí hậu thời tiết thì có 57 câu (chiếm tỉ lệ 14%) phản ánh nội dung con người phụ thuộc, nương nhờ, vào tự nhiên. 354 câu (chiếm 86%) nói về kinh nghiệm dự báo thời tiết. Chúng tôi tạm gọi loại này là con người làm chủ được tự nhiên. Những kinh nghiệm này rút ra thông qua việc quan sát trực tiếp và quan sát các sự vật trung gian.

    1. Con người phụ thuộc, nương nhờ vào tự nhiên

    Từ buổi bình minh của lịch sử, thiên nhiên là môi trường sống thân thuộc nhưng cũng hết sức khắc nghiệt đối với con người. Rừng rậm hoang vu, đầm lầy biển cả, mưa nắng thất thường… luôn là mối lo âu canh cánh trong lòng người nông dân “Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả”. Nhưng rồi trước thiên nhiên – những đấng siêu nhiên đáng tôn sùng, người nông dân lại tự động viên an ủi mình “Biết sự trời mười đời chẳng khó”. Vì vậy cách khôn khéo nhất của người nông dân là gửi gắm lòng tin vào đấng tối cao là ông Trời để cầu xin Trời đất phù hộ độ trì cho con người và vạn vật tốt tươi, mưa thuận gió hòa. Họ luôn “Trông trời, trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng  trông ngày trông đêm…”,” Ơn trời mưa nắng phải thì// Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu…”, “Nhờ trời mưa thuận gió hoà // Nào cầy nào cấy, trẻ già khuyên nhau // Chim, gà, cá, lợn, cành cau // Mùa nào thức nấy giữ màu nhà quê”, Lạy trời mưa thuận gió hòa // Để cho chiêm tốt, mùa tươi em mừng // Ngô khoai chẳng được thì đừng // Có nếp có tẻ trông chừng có ăn… Người Việt cũng như nhiều cư dân nông nghiệp khác thường mang tâm lí phụ thuộc vào thiên nhiên, kính sợ và phụ thuộc vào Trời.

    Con số thống kê cho thấy trong tổng số 57 câu có nội dung con người phụ thuộc vào Thiên nhiên, Trời đất đều bắt đầu bằng các động từ có ý nghĩa cầu xin, trông mong và tỏ lòng biết ơn như: “Trông trời”, “Ơn trời”, “Lạy trời” để cầu xin trời đất mang đến cho họ những điều tốt lành, mưa thuận gió hòa.

    Biểu đồ 1: Biểu thị hành động và đối tượng con người nương nhờ vào thiên nhiên

    Hành động cầu xin của con người

    Đối tượng cầu xin của con người

    Người nông dân chân lấm tay bùn, hồn hậu chất phác luôn tin rằng “cứ xin là Trời cho”, “cứ cầu là được”. Vì thế con người luôn cầu xin Trời ban cho Mưa – Nắng – Gió (nước, ánh sáng và không khí) để cuộc sống con người và mùa màng bội thu. Đặc biệt với nền sản xuất chính của người Việt là canh tác  lúa nước, mưa là một trong những yếu tố thời tiết có ý nghĩa quyết định trong nông nghiệp. Cho nên bà con nông dân đã nhận thức được từ rất lâu có mưa mới có nước để cày, bừa, cấy, gặt… “Không nước không phân // Chuyên cần vô ích; Phân tro không bằng no nước” …

    2. Con người làm chủ tự nhiên

    Miền Bắc là nơi có bốn mùa, mùa nào cũng có những thử thách khắc nghiệt đi kèm với những thuận lợi. Mùa xuân ấm áp cây cối tốt tươi cũng là mùa của sâu bệnh. Mùa hè nắng nhiều sinh hạn hán, mưa lắm hay gây ra lụt lội, mùa đông gió rét, sương muối tác hại đến vật nuôi, cây trồng… Bằng những chiêm nghiệm, quan sát trực tiếp các hiện tượng thiên nhiên và những biểu hiện của các vật trung gian người ta đã rút ra những kinh nghiệm có tính quy luật của các hiện tượng làm biến đổi thời tiết, khí hậu giúp người nông dân biết trước để góp phần hạn chế những tác hại của thiên tai và rủi ro trong sản xuất.

    Qua số liệu thống kê cho thấy có 354 câu trên tổng số 411 câu nói về khí hậu, thời tiết, chiếm 86% có nội dung về thời tiết với đầy đủ các khía cạnh thể hiện con người đã cố gắng tìm cách để chinh phục và làm chủ thiên nhiên. Trong đó, 76 câu (chiếm 21%) qua quan sát những biểu hiện của động vật, 51câu (chiếm 15%) qua quan sát những biểu hiện của thực vật, 227 câu (chiếm 64%) nói về các hiện tượng tự nhiên khác cùng tham gia vào dự báo thời tiết.

    2.1 Quan sát các hiện tượng tự nhiên

    Theo các chuyên gia về khí tượng, thủy văn các hiện tượng về khí hậu thời tiết có thể chia thành 3 loại  Hoàng Hữu Triết, (1973), Bước đầu tìm hiểu về khí tượng dân gian Việt Nam , Nxb Giáo dục, H, tr.5

    Share this:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Câu Thành Ngữ – Tục Ngữ Về Thời Tiết
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ, Ngạn Ngữ Làng Cao Lao Hạ
  • Khoa Nội Tiết – Chuyển Hóa – Di Truyền
  • Tính Cách Bẩm Sinh Hay Do Nuôi Dạy Và Môi Trường?
  • Lựa Chọn Và Sử Dụng Tục Ngữ, Ca Dao Trong Giảng Dạy Học Phần Tâm Lý Học Đại Cương
  • Cây Cầu Trong Ca Dao Tục Ngữ Nam Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Câu Ca Dao Hài Hước Về Người Phụ Nữ
  • Tổng Hợp 20 Câu Nói Đáng Nhớ Về Tình Bạn
  • Những Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình: 50+ Thành Ngữ, Ca Dao
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Vợ Chồng, Tình Cảm Vợ Chồng
  • 80+ Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Tình Yêu Đôi Lứa Khắc Họa Những Mối Tình Giản Đơn, Bình Dị
  • Phải chi lấy được vợ vườn

    Tập đi cầu khỉ thêm đường dọc ngang

    Em đi lên xuống cầu dừa

    Lấy ai có chửa đổ thừa cho anh

    Khó đi bậu vẫn cứ đi,

    Mượn ly uống rượu, mượn đờn đánh chơi.

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?

    Nhà tôi ở giữa đám dâu

    Phía trên đám đậu, đầu cầu ngó qua

    Ngó qua thấy bắp trổ cờ

    Thấy dưa trổ nụ, thấy cà trổ bông

    Cầu tre lắc lẻo anh thắt thẻo ruột gan.

    Sợ em đi chửa quen đàng,

    Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh…

    Gỗ trắc đem lát ván cầu

    Yên sào đem nấu với đầu tôm khô

    Bằng lăng chặt khúc bắc cầu

    Đặng anh qua lại giải sầu cho em

    Xa nhau anh muốn lại gần,

    Cầu không tay vịn, anh lần anh qua.

    Cầu nào cao bằng cầu danh vọng,

    Nghĩa nào trọng bằng nghĩa tao khang.

    Anh đi qua cầu sắt,

    Anh nắm tay em thật chắc, miệng hỏi gắt chung tình.

    Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?

    Cầu cao ván yếu gió rung,

    Em không đi được cậy cùng có anh.

    Thương chàng vô lượng, vô cân

    Cầu không tay vịn cũng lần mà qua

    Sông cách sông, thủy cách thủy,

    Em xe sợi chỉ, em bắc cây cầu,

    Để cho anh sang mà giảm mối sầu tương tư.

    Cầu cao ván yếu, con ngựa nhỏ xíu, nó chạy tứ linh.

    Em đi đâu tăm tối một mình,

    Hay là em có tư tình với ai?

    Bước lên cầu ván mỏng, miếng ván cong vòng,

    Thấy em mê cờ bạc, trong lòng hết thương.

    Muốn sang thì bắt cầu kiều

    Muốn con hay chữ, thì yêu lấy thầy

    Cầu nào cao bằng cầu Cái Cối

    Gái nào giỏi bằng gái Bến Tre

    Sông sâu biết bắc mấy cầu

    Thân em là gái biết hầu mấy nơi

    Mồng tơi bắc chả nên cầu

    Chàng về xẻ gỗ bắc cầu em sang

    Chỉ xanh, chỉ đỏ, chỉ vàng

    Một trăm thứ chỉ bắc ngang đầu cầu

    Nào em đã có chồng đâu

    Mà chàng đón trước rào sau làm gì

    Tiếng ai tha thiết bên cầu

    Có phải nhân ngãi ăn trầu thì sang?

    Cầu ao ván yếu gập ghềnh

    Chân lần tay dắt chung tình đi qua

    Chiều chiều vịt lội mênh mông

    Cầu trôi ván nổi ai bồng em qua

    Bao giờ sông hẹp bằng ao,

    Bắc cầu chiếc đũa qua trao lời nguyền

    Chừng nào cầu sắt gãy hai

    Sông Sài Gòn lấp cạn anh sai lời nguyền

    Dầu mà nước ngập bờ sông,

    Cầu trôi nhịp giữa, tôi cũng không bỏ nàng

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Qua cầu ngả nón trông cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu

    Xin anh hãy cứ an tâm,

    Trước sau rồi cũng bắt cầu đẹp duyên

    Vì tằm em phải chạy dâu

    Vì chồng em phải qua cầu đắng cay

    Qua cầu một trăm cái nhịp

    Em không theo kịp kêu bớ hỡi chàng

    Cái điệu tào khang sao chàng vội dứt

    Đêm nằm nghỉ tức, giọt lệ tuôn rơi

    Nhón chân lên kêu: Bớ hỡi trời!

    Ai bày mưu cho bạn, bạn dứt nơi ân tình”

    Ai ngờ anh lại phỉnh mình,

    Qua cầu rút ván để mình bơ vơ

    Qua cầu lột ván tháo đinh

    Người thương ở bạc với mình không hay

    Cây khô chết đứng chẳng xứng duyên đầu

    Mưa giông anh không sợ, mà sợ cây cầu bắc ngang

    Nào khi gánh nặng anh chờ

    Qua cầu anh đỡ bây giờ quên anh !

    Ba má em tham ruộng đầu cầu

    Tham nhà con một, tham trâu đầy chuồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 275 Câu Tục Ngữ Việt Nam
  • Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Vĩnh Phúc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Mẹ Chồng Nàng Dâu Hay ❤️ Thâm Thuý
  • Chuyện Vui Ngày Tết:con Gà Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • Hệ Thống Từ Ngữ , Thành Ngữ Mrvt Theo Chủ Đề Lớp 4
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Www.honviet.com. Nghĩ Về Vẻ Đẹp Con Rồng Trong Văn Học Dân Gian
  • Rồng Trong Ngôn Ngữ Và Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Những Câu Nói Hay Trong Phim Your Name
  • Zinedine Zidane Chia Tay Real Madrid: Đâu Chỉ Đơn Giản Là “chạy Ngay Đi”?
  • Khám Phá Những Câu Nói Đọc Đáo Của Zed Trong Lmht
  • Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam

    Rồng lúc to lúc nhỏ

    Lớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

     

    Đa mưu túc trí muôn đời thịnh

    Hữu dũng vô mưu vạn đời suy

    Ghen ăn tức ở muôn đời nát

    Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

     

    Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.

    * Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.

    * Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.

    * Cá do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.

    * May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.

    * Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.

    * Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.

    * Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.

    * Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.

    * Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.

    * Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.

    * Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).

    * Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).

    * Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.

    * Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.

    * Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.

    * Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

    * Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.

    * Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.

    * Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.

    * Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.

    * Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.

    * Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.

    * Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong Táo Quân 2022 Đừng Bỏ Lỡ
  • Tuyển Tập Những Câu Nói Hay Trong One Piece – Đảo Hải Tặc
  • Quotes & Những Câu Nói Hay
  • Slogan, Câu Nói Hay Để In Áo Lớp Cực Chất
  • Top 100+ Slogan Áo Lớp Hay Ấn Tượng Nhất 2022
  • Ca Dao Tục Ngữ Bình Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Tình Yêu Đôi Lứa, Tình Yêu Buồn Hạnh Phúc Hay Nhất
  • Phụ Nữ Việt Nam Qua Ca Dao
  • Ca Dao Tục Ngữ Chế, Nói Chém, Những Câu Chế Bất Hủ
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô Hay Nhất
  • Những Bài Thơ Chế Về Tình Yêu Hay Nhất
  • ‘Bình Định nón Gò Găng

    Bún Song thần An Thái

    Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi

    Xoài Tượng chín Hưng Long

    Mặc ai mơ táo ước hồng

    Tình quê em giữ một lòng trước sau.

    Bình Định có hòn Vọng Phu

    Có đầm Thị Nai có Cù Lao Xanh.

    Em về Bình Định cùng anh

    Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa.

    1.Muốn ăn bánh ít lá gai

    Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

    2.Bình Định có núi Vọng Phu Có Đầm Thị Nại có Cù Lao xanh.

    3.Công đau công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.

    4.Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.

    5.Ai về Bịnh Định mà coi Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

    6.Ai về Bình định thăm bà Ghé vô em gởi lạng trà Ô long. Trà Ô long nước trong vị ngọt Tình đôi mình như đọt mía lau chúng tôi đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò

    Ba Trò Ba đi học trường xa

    Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

    8.Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cá nghiên anh đồ.

    Tiếng đồn Bình Định tốt nhà Phú Yên tốt lúa, Khánh Hoà tốt trâu

    .Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

    .Em về Đập Đá quê cha Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng

    13.Anh về Đập Đá , Gò găng Bỏ em kéo vải sáng trăng một mình Tiếng ai than khóc nỉ non Vợ chàng lính thú trèo hòn Cù Mông

    14.Chiều chiều én liệng Truông Mây Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

    15.Non Tây áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

    16.Cây Me cũ, Bến Trầu xưa Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm

    17.Ngó vô Linh Đỗng mây mờ Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây

    18.Hầm Hô cữ nước còn đầy Còn gương phấn dũng , còn ngày vinh quang

    19.Bình Định có đá Vọng Phu Có đầm Thị Nại có Cù lao Xanh Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ Nón Gò găng khắp chợ mến thương

    20.Bên kia sông, quê anh An Thái Bên này sông, em gái An Vinh Thương nhau chung dạ chung tình Cầu cha mẹ ưng thuận cho hai đứa mình lấy nhau

    21.Cưới nàng đôi nón Gò Găng Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn Ai về Tuy Phước ăn nem Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm

    22.Rượu ngon Trường Thuế mê li Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành

    23.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi Sông xanh, núi cũng xanh rì Vào Nam, ra Bắc ai cũng đi con đường này Nghìn năm gương cũ còn đây Lòng ơi! Phải lo nung son sắt kẻo nữa đầy bể dâu – Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi Dễ chi nhân ngãi mà rời được nhau

    24.Tháp kia còn đứng đủ đôi Cầu còn đủ cặp huống cho tôi với nường ( nàng) Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Thiếp ngồi dệt vải chỉ mong bóng chàng Dừa xanh trên bến Tam Quan Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu Ôm đàn gảy khúc Cầu hoàng Thiếp xin gõ nhịp để chàng lựa dây Bao giờ rừng quế hết cây Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mà hiến cho đời thuỷ chung

    25.Muốn ăn bánh ít nhân mè Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm Muốn ăn bánh ít nhân tôm Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì

    26.Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Di Sông xanh núi cũng xanh rì Vào Nam ra Bắc cũng đi đường này chúng tôi về Phù Mỹ nhắn nhe Nhắn chị bán chè sao vậy chẳng lên?

    Anh về dưới vạn thăm nhà

    Ghé vô em gởi lạng trà Ô Long

    chúng tôi về Bình Định thăm cha Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em

    29.Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông

    30.Khéo khen con tạo trớ trêu

    Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ

    32.Ai về thăm cảnh An Khê

    Sông Ba chồng nhớ vợ nhà Sông Côn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lòng Biết Ơn Tổ Tiên, Thầy Cô
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ M Doc
  • Ca Dao Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ H & I Pptx
  • 100 Câu Ca Dao Bắt Đầu Bằng Chữ Cái A
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Kho Tàng Ca Dao Tục Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Du Lịch Qua Ca Dao Ở Một Số Tỉnh Miền Tây Nam Bộ Theo Hướng Du Lịch Sinh Thái Hiện Đại
  • Tiếp Cận Kiến Thức Địa Lý Qua Thơ
  • Con Gà Trong Tục Ngữ Việt Nam
  • Cây Lúa Trong Ngôn Ngữ Người Việt
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Văn Hóa Sản Xuất Nông Nghiệp Phần 1
  • 1.Cá bống còn ở trong hang

    Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu

    Ta về, ta sắm cần câu

    Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng

    2. Cá buồn cá lội tung tăng

    Em buồn em biết đãi đằng cùng ai?

    3. Cá kèo mà gặp mắm tươi

    Như nơi đất khách gặp người cố tri

    4. Cá không ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư

    5. Cá nục nấu với dưa hồng

    Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi

    6. Cá tươi xem lấy đôi mang,

    Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai

    Tóc mai sợi vắn sợi dài

    Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn

    7. Cà Mau hãy đến mà coi

    Muỗi kêu như sáo thổi

    Ðỉa lội lềnh như bánh canh

    8. Cả vú lấp miệng em

    9. Cách sông mới phải luỵ thuyền

    Còn như đường liền ai phải luỵ ai

    10. Cái ách giữa đàng, mang vào cổ

    11. Cái cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non

    12. Cái cò lặn lội bờ sông

    Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền

    13. Cái cò mày đi ăn đêm

    Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi, ông vớt tôi nao

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng

    Có sáo, thì sáo nước trong

    Ðừng sáo nước đục, đau lòng cò con

    14. Cái kiến mày kiện củ khoai

    Chê em tao khó, lấy ai cho giàu

    Nhà tao chín đụn, mười trâu

    Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân

    Cầu này là cầu ái ân

    Một trăm con gái rửa chân cầu này

    Có rửa thì rửa chân tay

    Chớ rửa chân mày, chết cá ao anh

    15. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

    Anh thương em cho bạc cho tiền

    Ðừng cho lúa gạo, xóm giềng họ hay!

    16. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

    Anh có thương em, xin sắm một con đò

    Ðể em qua lại mua cò gởi thơ

    17. Cái khó bó cái khôn

    18. Cái nết đánh chết cái đẹp

    19. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Cái ngủ mày ngủ cho say

    Mẹ mày vất vả chân tay suốt ngày

    20. Cái ngủ mày ngủ cho lâu

    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

    Bắt được con trắm, con trê

    Xách cổ mang về cho cái ngủ ăn

    Cái ngủ ăn chẳng hết

    Ðể dành đến Tết mồng Ba

    Mèo già ăn vụng

    Mèo ốm phải đòn

    Mèo con phải vạ

    Con quạ có lông

    Nồi đồng có nắp

    21. Cái răng cái tóc là gốc con người

    22. Câm hay ngóng, ngọng hay nói

    23. Câm như hến

    24. Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn

    Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

    25. Cần tái, cải nhừ

    26. Cầm vàng mà lội qua sông

    Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng

    27. Cần Thơ là tỉnh

    Cao Lãnh là quê

    Anh đi lục tỉnh bốn bề

    Mảng lo buôn bán không về thăm em

    28. Canh khuya gà gáy ó o

    Quân tử thức dậy còn mò đi đâu?

    29. Canh khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, trầm tư một mình

    30. Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng khi về bủng beo

    31. Cao su đi dễ khó về

    Trai đi mất vợ gái về thêm con

    32. Cáo chết ba năm quay đầu về núi

    33. Cát bay, vàng lại ra vàng

    Những người quân tử dạ càng đinh ninh

    Ðinh ninh ta để dạ này

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    34. Cau già, dao bén thì ngon

    Người già trang điểm phấn son cũng già

    35. Cây cao bóng mát không ngồi

    Ra ngồi chỗ nắng, trách trời không mây

    36. Cây đa Chợ Ðũi

    Nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàng

    Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân!

    37. Cây khô không có lộc

    Người độc không có con

    38. Cây khô không thể mọc chồi

    Mẹ già không dễ sống đời với con

    39. Cây khô không trái, gái độc không con

    40. Cây không trồng nên lòng không tiếc

    Con không đẻ nên mẹ ghẻ không thương

    41. Cây muốn lặng, gió chẳng muốn ngừng

    42. Cây trên rừng hoá kiểng

    Cá dưới biển hoá long

    Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong

    Anh đi lục tỉnh giáp vòng

    Ðến đây trời khiến đem lòng thương em

    43. Cây vông đồng không không trồng mà mọc

    Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

    44. Cây xanh thời lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Mừng cây rồi lại mừng cành

    Cây tốt lắm chồi, người đức lắm con

    Ba vuông sánh với bảy tròn

    Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu

    45. Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa

    Chợ trưa dưa nó héo đi

    Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

    46. Cha chung chẳng ai khóc

    47. Cha đời cái áo rách này

    Mất chúng, mất bạn vì mày áo ơi!

    48. Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại

    Bắt anh ra treo tại nhành dương

    Biểu từ ai, anh từ đặng

    Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ

    49. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng biển

    Con nuôi chạ mẹ, con tính từng ngày

    50. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

    Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày

    51. Cha nào con nấy, rau nào sâu nấy

    52. Chanh chua thì khế cũng chua

    Chanh bán có muà, khế bán quanh năm

    53. Cháo nóng, liếm quanh

    54. Cháu ơi, cháu ngủ cho ngon

    Của dì, dì giữ ai bò mặc ai

    55. Chàng về cho thiếp theo cùng

    Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

    56. Chàng ôi, giận thiếp mà chi

    Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

    57. Chàng về để áo lại đây

    Ðể khuya em đắp gió khuya lạnh lùng

    58. Chàng về để áo lại đây

    Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn

    59. Cháy nhà ra mặt chuột

    60. Chặt không đứt, bứt không rời

    Phơi không khô, chụm không cháy

    (Ðố là con gì? Con sam)

    61. Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

    62. Chẳng ốm, chẳng đau làm giàu mấy chốc

    63. Chẳng tham ruộng cả, ao tiền

    Chỉ tham cái bút, cái nghiên anh đồ

    64. Chân cứng, đá mềm

    65. Chân đi ba bước lại dừng

    Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn

    Ði buôn cho đáng đi buôn

    Ði buôn cau héo có buồn hay không

    66. Chân trời, góc biển

    67. Chập chập rồi lại cheng cheng

    Con gà sống thiến để riêng cho thầy

    Ðơm sôi thì đơm cho đầy

    Ðơm mà vơi đĩa thì thầy không ưng

    68. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    69. Chẻ tre bện sáo cho dầy

    Chận ngang sông Mỹ có ngày gặp em

    70. Chê đắng chê hôi

    Ðã chê xôi không dẻo

    Lại chê kẹo không ngọt

    71. Chê đây, lấy đấy sao đành

    Em chê cam sành, lấy phải quít hôi

    Quít hôi bán một đồng mười

    Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ

    72. Chết trước được mồ, được mả

    Chết sau nằm ngả, nằm nghiêng

    73. Chì khoe chì nặng hơn đồng

    Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông

    74. Chị em dâu như bầu nước lã

    75. Chị kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?

    Nhà tui ở dưới đám dâu

    Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua

    76. Chị lấy chồng, em gặm giò heo

    Giò heo chị để chị treo

    Em lấy giò mèo, em gặm em chơi

    77. Chị ngã, em nâng

    78. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ

    79. Chỉ đâu mà buộc ngang trời

    Tay đâu mà bụm miệng người thế gian

    80. Chiếc khăn cô đội trên đầu

    Gió xuân đưa đẩy rơi vào tay tôi

    Bâng khuâng tôi chẳng muốn rời

    Trao cô thì tiếc, giữ thời không yên

    81. Chiếc tàu lặn chạy mau đường gió

    Cái xe hơi chạy lẹ như dông

    82. Chiếu bông mà trải góc đền

    Muốn vô làm bé biết có bền hay không?

    83. Chiều chiều, buồn miệng nhai trầu

    Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ

    84. Chiều chiều chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

    85. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai

    86. Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

    Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau

    87. Chiều chiều, ông chánh về Tây

    Cô Ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn

    Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

    Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay

    88. Chiều chiều ông Lã Ðông Tân

    Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem

    89. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    90. Chiều chiều tui buồn tui ra sông cái, tự ải cho rồi

    Sống làm chi mà chia ly thục nữ

    Thác cho rồi đặng chữ thủy chung

    91. Chiều chiều trước bến Văn Lâu

    Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

    Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

    Thuyền ai thấp thoáng bên sông

    Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

    92. Chiều chiều vịt lội, cò bay

    Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

    Vô rừng bứt một sợi mây

    Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn

    93. Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc

    Cá bãi trầu lội tuốt mương cau

    94. Chim đa đa đậu nhánh đa đa

    Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa

    Một mai cha yếu mẹ già

    Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng

    95. Chim khỏi lồng không mong trở lại

    96. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

    97. Chim khôn lựa cành mà đậu

    98. Chim khôn mắc phải lưới hồng

    Hễ ai gỡ được, đền công bạc vàng

    Anh rằng anh chẳng lấy vàng

    Hễ anh gỡ được, thì nàng lấy anh

    99. Chim quyên ăn trái nhãn lồng

    Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

    100. Chim quyên xuống đất ăn trùn

    Anh hùng lỡ vận, lên rừng đốt than

    101. Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

    102. Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn

    103. Chim lìa cành còn thương nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Chẳng thà không gặp thì thôi

    Gặp rồi mỗi đứa một nơi sao đành

    104. Chính chuyên chết cũng ra ma

    Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng

    105. Cho em trở lại đường xưa

    Ðể em tìm lại gốc dừa cạnh ao

    Lời anh âu yếm chiều nào

    Thoảng vang trong gió rì rào chớm thu

    106. Chó ăn đá, gà ăn muối

    107. Chó cậy gần nhà, gà cậy cần chuồng

    108. Chó treo, mèo đậy

    109. Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ

    Ðóa hải đường thức ngủ xuân tiêu

    110. Chồng chài, vợ lưới, con câu

    Thằng rể đóng đáy, con dâu đi nò

    111. Chồng chung chồng chạ

    Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng

    112. Chồng chung, vợ chạ

    113. Chồng em áo rách em thương

    Chồng người áo gấm, xông hương mặc người

    114. Chồng em vốn kẻ đa tình

    Già không bỏ, nhỏ không tha

    Xấu như ma hắn cũng hú hí

    Xấu như quỉ hắn cũng ăn nằm

    115. Chồng già vợ trẻ là duyên

    Vợ già, chồng trẻ là tiên ba đời

    116. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già, chồng trẻ là duyên trên đời

    117. Chồng già vợ trẻ là tiên

    Vợ già chồng trẻ là duyên nợ trần

    118. Chồng giận thì vợ làm lành

    Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì?

    Thưa anh, anh giận em chi

    Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho

    119. Chồng nóng thì vợ bớt lời

    Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào

    120. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa

    121. Chồng thấp mà lấy vợ cao

    Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

    122. Chơi hoa cho biết mùi hoa

    Cầm cân cho biết cân già, cân non

    123. Chuối non giú ép, chát ngầm

    Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm

    124. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

    125. Chuồn chuồn có cánh thì bay

    Có thằng bé tí thò tay bắt mày

    126. Chuột kêu chút chít trong rương

    Em đi cho kheó đụng giường mẹ hay

    127. Chuột sa chĩnh gạo

    128. Chuyện đời chẳng ít thì nhiều

    Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai

    129. Chuyện đời, vợ vợ chồng chồng

    Thương nhau cũng vội, dứt lòng cũng mau

    130. Chuyện người mặc kệ người lo

    Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng

    131. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng

    Từ anh chồng cũ đến chàng là năm

    Còn như yêu vụng nhớ thầm

    Họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì

    132. Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng

    133. Chưa học bò, đã lo học chạy

    134. Chưa làm giàu, đã lo ăn cướp

    135. Chừng nào đá nổi rong chìm

    Muối chua, chanh mặn anh tìm được em

    136. Chửa đui, chửa què, đừng khoe rằng tốt

    137. Có bột mới gột nên hồ

    138. Có bún nào ngon hơn bún Chợ Gạo

    Có đứa nào xạo bằng thằng út Gò Công

    139. Có cây mới có dây leo

    Có cột có kèo, mới có đòn tay

    140. Có công mài sắt, có ngày nên kim

    141. Có cha, có mẹ thì hơn

    Không cha, không mẹ như đờn đứt dây

    142. Có chí làm quan, có gan làm giàu

    143. Có chí thì nên

    144. Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ

    Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh

    Có chồng say như trong chay ngoài hội

    Ngó vô nhà như hội tầm vu

    145. Có chồng nghiền như ông tiên nho nhỏ

    Thắp ngọn đèn sáng tỏ như sao

    Tay cầm tiêm như phò mã múa đao

    Chân vắt chéo như Khổng Minh xem sách

    146. Có chồng mà chẳng có con

    Khác gì hoa nở trên non một mình

    147. Có chum cá mới ở đìa

    Có em anh mới sớm khuya chốn này

    148. Có con mà gả chồng gần

    Nửa đêm đốt đuốc đem phần cho cha

    Có con mà gả chồng xa

    Ba phần ruộng rẻo chẳng ma nào cày

    149. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng

    150. Có con phải khổ vì con

    Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

    151. Có công mài sắt có ngày nên kim

    152. Có của thì có mẹ nàng

    Có bạc có vàng thì có kẻ ưa

    Chị là con gái nhà giầu

    Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen

    Em là con gái nhà hèn

    Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Mau Xưa Qua Các Câu Thơ & Ca Dao
  • Thành Ngữ Và Tục Ngữ Bắt Đầu Bằng Chữ A, Chữ Ă, Â ?
  • Lịch Sử Khai Phá Bình Dương Qua Dân Ca, Thơ Ca Dân Gian Làng Tương Bình Hiệp
  • Ca Dao, Tục Ngữ, Hò Vè Bình Định
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Những Câu Danh Ngôn Bất Hủ
  • {Đọc} Stt Hay Về Sự Thay Đổi Bản Thân Giúp Mình Cố Gắng Nhiều Hơn
  • Stt Hay Về Tình Yêu Buồn Bằng Tiếng Anh Trên Facebook
  • Những Câu Stt Hay Bằng Tiếng Trung Ý Nghĩa Nhất
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Từ Ngữ Địa Phương
  • 10:36:14 AM, Sep 07, 2022 * Số lần xem: 854101

    * Cập nhật

    * đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

    Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

    Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

    Tục ngữ là gì?

    Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

    Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

    Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

    Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

    Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

    1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

    A

    Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

    2. Ai đem con sáo sang song

    Để cho con sáo sổ lồng bay cao

    3. Ai đi bờ đắp một mình

    Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

    4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

    Ai đi muôn dặm non song

    Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

    5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

    Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

    Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

    Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

    6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

    Phù sa theo nước chảy mênh mông

    Sông ơi, thấm mát đời con gái

    Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

    7. Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

    8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

    Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

    9. Ai mà nói dối cùng ai

    Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

    Ai mà nói dối cùng chồng

    Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

    10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

    Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

    11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

    Măng mọc có lứa người ta có thì

    Chơi xuân kẻo hết xuân đi

    Cái già sòng sọc nó thì theo sau

    Phần I từ A tới G

    100. Áo anh đứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

    B

    Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

    C

    78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

    Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

    80. Bực mình chẳng muốn nói ra

    Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

    79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

    75. Bươm bướm mà đậu cành bong

    Đã dê con chị, lại bồng con em

    76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

    Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

    77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

    73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

    Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

    74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

    Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

    C

    Đi buôn cau héo có buồn hay không

    43. Chén tình là chén say sưa

    Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

    VẦN D VẦN Đ

    Đánh bạc quen tay

    Ngủ ngày quen mắt

    Ăn vặt quen mồm

    Đánh chết, mà nết không chừa

    Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

    Đàn bà nói có là không

    Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

    Đàn bà tốt tóc thì sang

    Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

    Đàn đâu mà gảy tai trâu

    Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

    Đàn kêu tích tịch tình tang

    Ai đem công chúa lên thang mà về

    Đàn ông đi biển có đôi

    Đàn bà đi biển mồ côi một mình

    Đàn ông không râu vô nghì

    Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

    Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

    Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

    Anh về học lấy chữ nhu

    Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

    Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

    Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

    Rút gươm đâm họng máu trào

    Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

    Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

    Lửa nhà máy hết cháy thành than

    Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

    Kể từ khi em biết được chàng

    Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

    Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

    Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

    Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

    Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

    Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

    Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

    Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

    THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

    Đèn treo ngang quán

    Tỏ rạng bờ kinh

    Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

    Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

    Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

    Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

    Đêm khuya ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Đêm khuya thắp chút dầu dư

    Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

    Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

    Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

    Đêm khuya trăng dọi lầu son

    Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

    Bển qua đây đàng đã xa đàng

    Dầu tui có lâm nguy thất thế

    Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

    Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

    Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

    Đêm nằm tàu chuối có đôi

    Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

    Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

    Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

    Bây giờ chàng đã nghe ai

    Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

    Bây giờ sự đã nhạt nhùn

    Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

    Cá lên mặt nước, cá khô

    Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

    Đêm qua nguyệt lặn về Tây

    Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

    Trúc với mai, mai về trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không

    Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

    Đêm thanh cảnh vắng

    Thức trắng năm canh

    Một duyên, hai nợ, ba tình

    Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

    Đến đây đất nước lạ lùng

    Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

    Đến ta mới biết của ta

    Trăm nghìn năm trước biết là của ai

    Đề huề chồng vợ

    Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

    Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

    Đi chùa lạy Phật cầu chồng

    Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

    Đi đâu cho thiếp theo cùng

    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

    Thủng thỉnh như chúng anh đây

    Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

    Đi cho biết đó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

    Đi qua nhà nhỏ

    Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

    Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

    Đó đây trước lạ sau quen

    Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

    Đói lòng ăn đọt chà là

    Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

    Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Đói lòng ăn nửa trái sim

    Uống lưng bát nước đi tìm người thương

    Đói lòng nuốt trái khổ qua

    Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

    Đôi ta chẳng được sum vầy

    Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

    Vì sương nên núi bạc đầu

    Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

    Đôi ta đã trót lời thề

    Con dao lá trúc đã kề tóc mai

    Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

    Đôi ta như loan với phượng

    Nỡ lòng nào để phượng lià cây

    Muốn cho có đó, có đây

    Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

    Đôi ta như thể con tằm

    Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

    Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quít, con trong con ngoài

    Đôi ta như thể con bài

    Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

    Đố ai biết luá mấy cây

    Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

    Đố ai quét sạch lá rừng

    Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

    Rung cây, rung cỗi, rung cành

    Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

    Đố ai lặn xuống vực sâu

    Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

    Đố anh con rít mấy chưn

    Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

    Mấy người bán áo con trai

    Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

    Đốt than nướng cá cho vàng

    Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

    Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

    Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

    Muốn ăn bôn súng mắm kho

    Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

    Đồng tiền Vạn lịch

    Thích bốn chữ vàng

    Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

    Bây giờ cô lấy chồng đâủ

    Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

    Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

    Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

    Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

    Anh gặp em đây không cửa không nhà

    Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

    Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

    Đờn cò lên trục kêu vang

    Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

    Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

    Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

    Chiều nay qua phản bạn hồi hương

    Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

    Ghe tui tới chỗ cắm sào

    Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

    Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

    Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

    Anh thấy em tốt mã anh lầm

    Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

    Đưa nhau đổ chén rượu hồng

    Mai sau em có theo chồng đất xa

    Qua đò gõ nhịp chèo ca

    Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

    Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

    Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

    Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

    Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

    Đứt tay một chút còn đau

    Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

    Đ Đất lành chim đậu.

    E

    VẦN E

    Em có chồng sao em không nói?

    Để anh theo anh chọc em hoài

    Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

    Em đeo chiếc kim hườn

    Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

    Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

    Em liều một cái bánh bò

    Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

    Em liều một chén dầu chanh

    Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

    Em liều một trái sầu giêng

    Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

    Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

    Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

    Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

    Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

    Em ơi, anh bảo em này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

    Em ơi, em có thương anh

    Em ra canh lính cho anh leo tường!

    Em ơi em ở lại nhà

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương

    Mẹ già một nắng hai sương

    Chị đi một bước trăm đường xót xa

    Cậy em em ở lại nhà

    Em thấy anh em cũng muốn chào

    Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

    Em chấy anh em cũng muốn chào

    Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

    Dao trong mình, gươm anh cặp nách

    Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

    Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

    Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

    Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

    Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

    Em về hỏi mẹ cùng cha

    Có cho em lấy chồng xa hay đừng

    Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

    Én bay cao, mưa rào lại tạnh

    Em nghe tiếng hát đâu xa

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ê

    Êm như ru

    Ếch ngồi đáy giếng

    VẦN G

    Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

    Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

    Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

    Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

    Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

    Trai bạc tình một cẳng về quê

    Gái lấy trai đứng là gái dại

    Trai lấy rồi trai lại bán rao

    Gái đâu có thứ hỗn hào

    Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

    Gà đẻ, gà cục tác

    Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

    Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

    Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

    Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

    Saigon vui lắm em ơi

    Lấy chồng về đó một đời sướng thân

    Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

    Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

    Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

    Gẫm xem sự thế nực cười

    Một con cá lội mấy người buông câu

    Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

    Gập ghềnh nước chảy qua đèo

    Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

    Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

    Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

    Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

    Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

    Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

    Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

    Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

    Mật đường dù chẳng đi đôi

    Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

    Ghe lên ghe xuống dầm dề

    Sao anh không gởi thơ về thăm em?

    Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

    Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

    Già thì đặc bí bì bì

    Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

    Ngoài xanh trong trắng như ngà

    Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

    (Đố là gì? – cau dầy)

    Giàu cha giàu mẹ thì ham

    Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

    Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

    Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

    Giàu từ trong trứng giàu ra

    Giàu út ăn, khó út chịu

    Giả đò mua khế bán chanh

    Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

    Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

    Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

    Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

    Giấy hồng đơn bán mấy

    Cho anh mua lấy một tờ

    Viết thơ quốc ngữ

    Dán trên trái bưởi

    Thả xuống giang hà

    Bớ cô gánh nước bên bờ

    Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

    Giận chồng xách gói ra đi

    Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

    Gieo gió gặp bão

    **************************************

    Toàn bộ từ vần A đến Y

    -B-

    -C-

    Ca Li đi dễ khó về

    Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

    Cao su đi dễ khó về

    Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

    ================================================== =======

    Có công mài sắt, có ngày nên kim

    ================================================== ========

    Chân cứng đá mềm

    ================================================== ========

    Có chí thì nên

    ================================================== ========

    Cô kia bới tóc đuôi gà

    Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

    Nhà tôi ở trước đám dâu

    Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

    Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

    Đ-

    Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

    Ếch ngồi đáy giếng

    ================================================== ========

    -G-

    -H-

    -I-

    ================================================== ========

    -K-

    -L-

    -M-

    -N-

    Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

    ================================================== ========

    Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

    ================================================== ========

    Nhất quỷ nhì ma

    Thứ ba học trò …. )

    ================================================== ========

    Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng

    ================================================== ========

    No bụng đói con mắt

    ================================================== ========

    -O-

    Ở đâu cũng có anh hùng

    Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

    ================================================== ========

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

    ================================================== ========

    Ớt nào là ớt chẳng cay,

    Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

    Vôi nào là vôi chẳng nồng

    Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

    ================================================== ========

    Ở hiền gặp lành

    ================================================== ========

    -Q-

    Quả cau nho nhỏ

    Cái vỏ vân vân

    Nay anh học gần

    Mai anh học xa

    Tiền, gạo là của mẹ cha

    Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

    Lấy chàng từ thuở mười ba

    Đến năm mười tám thiếp đà năm con

    Ra đường thiếp hãy còn son

    Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

    ================================================== ========

    -R-

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    ================================================== ========

    -S-

    Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người

    ================================================== ========

    Sá gì một nải chuối xanh

    Năm bảy người giành cho mủ dính tay

    ================================================== ========

    -T-

    -U-

    ================================================== ========

    -V-

    Vì sông nên phải lụy thuyền

    Chứ như đường liền ai phải lụy ai

    ================================================== ========

    Vải thưa che mắt thánh

    ================================================== ========

    -X-

    ========

    -Y-

    Yêu nhau cởi áo cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

    ========

    Yêu nhau thì ném miếng trầu

    Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

    Yêu nhau cau bổ làm ba

    Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

    Xem Thêm Cập nhật 2022:

      Mèo khen mèo dài đuôi.

      N Năm nắng mười mưa

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Stt Buồn: Hay, Cảm Xúc, Tâm Trạng, Chất Và Độc Đáo Nhất 2022
  • Chia Sẻ Những Stt Hay Về Tình Bạn Trên Facebook Độc Đáo Nhất
  • Tổng Hợp Những Lời Chúc Buổi Tối Ngọt Ngào Nhất
  • Những Lời Chúc Buổi Sáng Ngọt Ngào, Ý Nghĩa Nhất
  • Con Gái Ế Thì Đã Sao?
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn
  • Ẩm Thực Xa Xưa Qua Ca Dao Tục Ngữ
  • Lời Ăn Tiếng Nói Trong Ca Dao
  • Tìm Hiểu Những Yếu Tố Triết Học (Hay Triết Lý Dân Gian) Trong Tục Ngữ Việt Nam :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Buôn Bán Kinh Doanh Hay Nhất
  • 2. Ca dao và dân ca:

    Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt. Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta

    tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta

    thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao. Có thể nói, ranh giới giữ ca dao và

    dân ca không rõ.

    Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu. Còn dùng một bài ca dao để hát, thì bài

    ca dao sẽ biến thành dân ca. Vì hát yêu cầu phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm.

    Vậy có thể nói, ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác

    và có thể xây dựng thành các điệu ca dao.

    Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu. Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

    nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng.

    Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn

    cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Dân ca thường mang tính chất địa phương,

    còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào,

    thì nó vẫn đươc phổ biến rộng rãi

    “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa

    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

    Hay:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga.

    Còn dân ca thì nhiều khi chỉ có dân địa phương mới biết, và mới hát được..

    Nội dung của dân ca cũng nhue nội dung của ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện

    cái nội tâm của tác giả trước ngoại cảnh.

    Cũng như tục ngữ, ca dao – dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể,

    được lưu truyền bằng miệng và / được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Trong tất cả

    những tính chất chung của văn học dân gian (trong đó có tục ngữ – ca dao – dân ca) :

    tính nhân dân, tính hiện thực, tính lãng mãn, tính phổ biến, tính khuyết danh,

    tính truyền miệng, tính tập thể ….thì tính tập thể là tính chất cơ bản nhất

    B. Thời kỳ xuất hiện:

    So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ tưởng như mới hơn. Nhưng theo kết quả nghiên cứu, tục ngữ, ca dao cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Trong quá trình lao động, xuất hiện những câu hò, kiểu như “Dô ta”, như vậy ca hát đã có từ rất sớm, nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ, và được sửa đổi qua các thế hệ của loài người.

    Xét nội dung những câu ” Năm cha, ba mẹ“, hay ” Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông“, ” Con dại, cái mang”, “con mống, sống mang“.. ta có thể biết được thời điểm xuất hiện câu đó, đólà thời kỳ tạp giao, hay tình trạng chồng chung vợ chạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ, rồi đến Phụ hệ…

    Ca dao, tục ngữ cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ.

    C. Nội dung và hình thức của tục ngữ – ca dao – dân ca:

    1. Nội dung của tục ngữ:

    Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm. tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời. Ở tục ngữ, tính chất phản phong là mạnh hơn cả.

    Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người.

    VD:

    Quá mù ra mưa

    Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa

    Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

    Cái sảy nảy cái ung

    Cõng rắn cắn gà nhà

    2. Hình thức của tục ngữ:

    Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi ta, hợp lý, sau dần mới trở thành những câu đối có vần vè, gọn gàng hơn

    Làm phúc phải tội

    Gà què ăn quẩn cối xay

    Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận

    Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm

    Tục ngữ không nhất thiết, nhưng phần lớn đều có vần vè, hay có đối

    No nên bụt, đói nên ma

    Bút sa, gà chết

    Có tật giật mình

    Còn có những câu vần cách, cách hai chữ, ba chữ

    May tay hơn hay thuốc

    Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

    Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm

    Hoặc thể lục bát

    Cá tươi thì xem lấy mang

    Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai

    Tóm lại xét về sự phong phú cả về mặt nội dung cũng như hình thức, ta có thể thấy tục ngữ đã phát triển trước ca da rất nhiều. Còn nữa, ca dao thiên về tình cảm, biểu lộ tính tình của con người…nên chỉ có thể phát triển khi mà đời sống xã hội đã phức tạp.

    3. Nội dung của ca dao:

    Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắ m thiết và sâu sắc đến cỡ nào…thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được.

    Ca dao Việt nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta.

    Ca dao thể hiện tình yêu: tình yêu đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên, hoà bình…

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

    Gió đưa cành trúc la đà

    Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương

    Tuyệt mù khói toả ngàn sương

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…

    Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên, với xã hội.

    Có thể nói nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình. Tìm hiểu được cái tình trong ca dao chúng ta sẽ thấy được tính chiến đấu, tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa chứa đựng trong ca dao.

    4. Hình thức nghệ thuật của ca dao:

    Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu, hoặc tám câu., âm điệu lưu loát và phong phú.

    Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị, và tươi tắn. Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Có thể nói về mặt tả cảnh , tả tình không có một hình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao.

    Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt, nhưng cũng có khi để nói về những cái xấu, nhưng không nói thẳng. Nhờ phương pháp hình tượng hoá, nên lời của ca dao tuy giản dị, mà rất hàm súc.

    Người con gái không được chủ động trong việc hôn nhân, đã ví mình như hạt mưa:

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Hay để tả một tình yêu trong trắng mới chớm nở của đôi lứa, ca dao noi:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Đến như tả hạng người ngu đần, ca dao cũng đã đưa ra những hình ảnh táo bạo:

    Mặt nạc đóm dày

    Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn Cơm trắng ăn với chả chim

    Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no

    Trên trời có đám mây vàng

    Bên sông nước chảy có nàng quay tơ

    Nàng buồn nàng bỏ quay tơ

    Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành

    MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NGHỆ TĨNH

    Tiếng giặm có nghĩa là ghép vào, điền vào, đan vào một chỗ thiếu….xuất hiện ở Nghệ Tĩnh cách đây khoảng ba , bốn trăm năm.

    Về nội dung, có nhiều bài hát giặm rất tình tứ, cũng có nhiều bài có tính chất chống giai cấp phong kiến.

    Về hình thức, phần nhiều các bài hát dặm đều gồm những câu năm chữ và cước vận, tức vần ở cuối câu: cứ hai câu cuối mỗi đoạn lại lấy một ý, điệp cả về ý, lẫn lời:

    vd:

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    hay:

    Thấy những lời kêu trách

    Nghe những lời kêu trách

    Bài hát có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu lần điệp lại như vậy, nghe đọc thì thấy vướng, nhưng khi hát, nólàm nổi ý của câu hát, của cả bài.

    Hát giặm cũng có ba lối trình diễn: nam nữ đối đáp, có lối vài ba người hát kể lên một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, lại có lối kể một sự tích gì có tình tiết nội dung, và hình thức đều được trau chuốt.

    Hát giặm Nghệ Tĩnh không hoàn toàn do dân sáng tác, có khi do một số nho sĩ sáng tác, được nhân dân ưa thích và phổ biến rộng rãi

    VD:

    Trai:

    Tiết thanh nhàn thong thả

    Muốn thăm hỏi vài câu

    Cuốc thánh thót kêu sầu

    Gió phảng phất mùa sâu

    Nhớ trong sách đã lâu:

    Chuyện “Tư mã phượng cầu”

    Thương thì mũi tìm trâu

    Trâu đâu tìm chạc mũi

    Gái:

    Trời mở rộng phong quang

    Giã ơn trời mở rộng phong quang

    Em đánh tiếng đua sang

    Đêm tàn canh vò võ

    Tay em cầm con bấc đỏ

    Mong bỏ đĩa dầu đầy

    Mời bạn ở lại đây

    Đôi ta giở lời rày

    Tình đó với nghĩa đây

    Trai:

    Giống như đọi nác đầy

    Bưng nhẩn nhẩn trên tay

    Không khuy sơ một hột

    Gió nỏ triềng một hột

    Công đôi ta thề thốt

    Kể đã mấy niên rồi

    Lòng đã quyết lứa đôi

    Ngãi đã quyết thề bồi

    Nhất ngôn nói hẳn lời

    Đừng bốn chốn ba nơi

    Đừng trăn gió chào mời

    Trăng nhiều trăng rạng rỡ

    Trăn nhiều đèn rạng rỡ

    Gái:

    Em đã có chồng rồi

    Em đã có lứa rồi

    Vung úp đã vừa nồi

    Đũa ghép đã thành đôi

    Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!

    Tôi lấy chân khoả lại

    Tôi lấy bàn khoả lại

    Trai:

    Têm một quả trầu không

    Bỏ vô hộp con rồng

    Đi băng nội băng đồng

    Qua năm bảy khúc sông

    Qua chín mười đỗi đồng

    Nghe tin em đã có chồng

    Anh quăng lắc vô bụi

    Bạn gạt tùa vô bụi.

    Anh thương em một tháng hai kỳ

    Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày

    Năm rộn mà chầy

    Có hai mươi bốn miện (Miện = kỳ)

    Xuân qua rồi hè /đến

    Thu đã muộn, đông rồi

    Nhớ bạn cũ chưa nguôi,

    Sang lập xuân vũ thuỷ

    Đêm em nằm em nghĩ

    Nghĩ kinh trập, xuân phân,

    Lòng tưởng sự ái ân

    Sang thanh minh, cốc vũ

    Đêm dêm nằm nỏ ngủ

    Nhớ bạn mãi thường thường

    Tiết lập hạ nhớ thương

    Bước sang tuần tiểu mãn

    Trông ra ngoài chán chán

    Tiết mang hiện lại gần

    Người đập đất, gánh phân

    Để mùa màng gặt hái

    Anh thương em mãi mãi

    Sang hạ chí tiết hè

    Em nghe tiếng sầu ve

    Em buồn trong gia sự

    Bạn buồn trong gia sự

    ***

    Tiết tiểu thử, đại thử

    Trời nắng sốt lắm thay!

    Ra ngồi tựa cột cây

    Anh với em than thở

    Bạn với mình than thở

    ***

    Tiết lập thu, xử thử

    Ai diều sáo mặc ai

    Vàng lác đác giếng tây

    Ta thương người bạn cộ (Cộ = cũ)

    Nhớ mãi người bạn cộ

    ***

    Vừa đến tiết bạch lộ

    Bầy chim trắng bay sang

    Cây heo hắt lá vàng

    Sang thu phân hàn lộ.

    ***

    Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)

    Tiết sương giáng lại kề

    Trông bạn cũ ta về

    Sang lập đông giá rét

    Tiết tiểu tuyết, đại tuyết

    Trời giá rét lắm thay

    Sang đông chí cấy cày

    Dạ bồi hồi nhớ bạn

    Tiết tiểu hàn chưa dạn

    Đã bước sang đại hàn

    Dạ tưởng nhớ người ngoan

    Vừa năm cùng tháng tận

    Vừa cuối mùa cuối tận.

    ***

    Phận lại ngồi trách phận

    Phận nỏ giám trách phận

    Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp

    6. Hát ví Nghệ Tĩnh:

    Hát Ví Nghệ Tĩnh là những loại dân ca xuất hiện trong nghề nông và nghề thủ công. Có nhiều điệu hát ví như: hát phường vải, hát phường cấy, hát đò đưa, hát phường buôn…. Trong những điệu hát này, hát phường vải và hát phường cấy có tổ chức và phổ biến hơn cả.

    1. Hát phường vải:Giai đoạn 1:

    Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tình của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên, và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng.

    Hat phường vải gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: hát dạo, hát mừng, hát chào và hát hỏi. Giai đoạn thứ hai: hát đố và hát đối. Giai đoạn thứ ba: hát mời và hát xe kết. Giai đoạn thứ tư: hát tiễn.

    Hát dạo

    Bấy lâu thức nhắp mơ màng

    Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng

    *

    Bấy lâu nghe hết tiếng nàng

    Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng

    Nghe tin anh cũng vội mừng

    Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang

    *

    Bấy lâu anh mức chi nhà

    Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu

    *

    Đồn rằng cá uốn thân vây

    Đồn em hay hát, hát hay anh tìm

    *

    Chốn này vui vẻ, tưng bừng

    Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi

    *

    Đêm khuya trời tạnh sương im

    Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

    *

    Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!

    Hình như có khách viễn phương tới nhà

    *

    Đi qua nghe tiếng em reo,

    Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

    *

    Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

    Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu

    *

    Đi ngang thấy búp hoa đa`o

    Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai

    *

    Đồn đây là chốn Đao` Nguyên

    Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi

    *

    Lạ lùng anh mới tới đây,

    Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng

    *

    Đến đây vàng cũng như son

    Ai ai thời cũng như con một nhà

    Khi nháy mắt, khi nhện sa

    Khi chuột rích trong nhà

    Khi khách kêu ngoài ngõ

    Tay em đưa go đủng đỉnh

    Tay em chìa khoá động đào

    Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

    *

    Mừng rằng bạn đến chơi nhà

    Cam lòng thục nữ gọi là trao tay

    Hát hỏi

    Em có chồng rồi, em nói rằng chưa

    Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

    *

    Em chưa có chồng, em mới đến đây

    Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà Anh về chẻ lạt bó tro

    Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.

    Em về đục núi lòn qua,

    Vắt cổ chày ra nước, thì ta làm chồng

    *

    Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,

    Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây

    Hai ta tình nặng nghĩa dày,

    Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

    *

    – Đến đây hỏi khác tương phùng

    Chim chi một cánh bay cùng nước non?

    -Tương phùng nhắn với tương tri,

    Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

    *

    – Lá gì không nhánh, không ngành?

    Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

    – Lá thư không nhánh, không ngành,

    Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

    *

    – Nghe tin anh hoc có tài

    Cha thầy Mạnh Tử là ai rứa chàng?

    – Thầy Mạnh, cụ Mạnh sinh ra

    Đù mẹ con hát, tổ cha thằng bày!

    *

    – Người Kim Mã cưỡi co ngựa vàng

    Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

    – Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong

    Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

    *

    Nghe anh bôn tẩu bấy lâu

    Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

    – Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu

    Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi

    Cầu danh, cầu lợi, cầu tài

    Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

    *

    Nhớ em nhất nhật một ngày

    Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

    – Chờ em nửa tháng ni rồi

    Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

    *

    – Nghe tin anh giỏi, anh tài

    Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

    – Thiên thai là của nàng Kiều

    Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

    Lê Thị Thu Hoài @ 12:57 03/03/2012

    Số lượt xem: 21143

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Hay Về Cuộc Sống
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Quê Hương Đất Nước ❤️ Hay Nhất
  • Những Câu Ca Dao Kháng Chiến Hào Hùng Của Dân Tộc
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Anh Em, Chị Em Hay Nhất ❤️ 1001 Câu
  • Ca Dao, Tục Ngữ Chế Về Tình Yêu ( Vào Đọc Ngay Nào)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100