Xem Nhiều 5/2023 #️ Tìm Hiểu Sách Châm Ngôn # Top 14 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 5/2023 # Tìm Hiểu Sách Châm Ngôn # Top 14 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Sách Châm Ngôn mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Written by Super User

Sách Châm ngôn còn cho chúng ta cái nhìn lạc quan về cuộc sống, cái nhìn ấy có được là nhờ xác tín rằng vũ trụ có trật tự và nhờ ơn Chúa ta có thể sống theo trật tự đã an bài để được an bình và hạnh phúc.

Lẫn trong các giáo huấn đó có những đoạn văn trong đó Đấng khôn ngoan nói với loài người (1,20-33; 9,1-6…) Nhưng sự khôn ngoan được nhân cách hóa đó là ai? Từ đâu những suy tư của mình con người thấy rằng có qui luật điều khiển vũ trụ, cách cư xử của con người, các kỹ thuật lao động. Từ đó rút ra rằng: có một trật tự nào đó điều khiển thế giới, thế giới không phải một thứ hỗn mang không đọc được ý nghĩa nhưng có một ý nghĩa. Khám phá trật tự đó, ý nghĩa đó là tạo cho mình cơ may tốt để thành công trong lao động, trong gia đình và việc cai trị quốc gia. Đó là một người khôn ngoan, là khôn ngoan. Dân Israel chia sẻ ý tưởng đó với các dân tộc lân bang. Nhưng để trả lời câu hỏi sự khôn ngoan từ đâu đến, do đâu mà cuộc sống con người và của vũ trụ có một ý nghĩa? Dân Israel trả lời: Từ Đức Chúa mà có. Trước khi bắt đầu công trình sáng tạo, Đức Chúa đã “sinh ra” sự khôn ngoan, điều đó mang lại ý nghĩa cho vũ trụ thụ tạo, bảo đảm cái đẹp và sự hài hòa của vũ trụ (8,22-31). Như vậy sự khôn ngoan kia là một ngôn ngữ phổ quát mọi người có thể hiểu sứ điệp ngay lúc con ngưới đi tìm ý nghĩa cuộc đời mình và của thế giới (1,20-23; 8,1-21; 9,1-6).

Đọc sách Châm ngôn ta thấy những lời giáo huấn ở đây có vẻ thấp so với giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng cũng đừng quên rằng tôn giáo đích thực bao giờ cũng được triển khai dựa trên đời sống lương thiện, nhân bản. Đã có những châm ngôn báo trước luân lý của Tin mừng (14,31; 15,8; 20,22…) Mời gọi ta làm điều tốt vì yêu tha nhân. Tân ước trích dẫn Châm ngôn 14 lần và nhiều lần lấy lại tư tưởng hoặc nội dung dù không trích dẫn trực tiếp. Đức Giêsu được gọi là sự khôn ngoan của của Thiên Chúa (1Cr 1,24); Người khôn ngoan hơn cả Salomon (Lc 11,31). Trong các chương 11-22 cụm từ Đức Chúa xuất hiện nhiều. Đức Chúa được coi như Đấng tạo thành con người (14,31; 17,5; 20,12). Người hướng dẫn mọi bước đi của con người (16,9; 20,24); mắt Người thấu suốt mọi tư tưởng, hành động của nó (5,21; 16,2). Người cũng là Đấng thưởng phạt người lành kẻ dữ nơi trần gian (22,4; 24,12). Người lành được hạnh phúc, mạnh khoẻ… kẻ dữ sẽ bị phạt. Sách Châm ngôn chưa có được quan niệm về sự thưởng phạt đời sau, chưa tin vào sự phục sinh của người chết như Đn 13,2. Đó là một thiếu sót vì mạc khải của Cựu ước còn phải qua nhiều giai đoạn tiệm tiến trước khi tới chỗ hoàn toàn và sáng tỏ trong Tân ước. Vì thế luân lý của Châm ngôn cần phải được bổ túc qua mạc khải Tân ước.

Vì thế, lẽ khôn ngoan thật của chúng ta là lòng kính sợ Chúa (1,7). Theo Thánh kinh từ ngữ đó có nghĩa là lòng đạo đức sốt sáng, nhiệt tình với Chúa. Đừng quên câu đầu sách đã giới thiệu “cách ngôn của Salomon, con của David”. Câu này ngụ ý rằng nội dung sách do một tín đồ nhiệt tình với đạo Chúa răn dạy cách sống, cách lãnh đạo, không phải theo thói khôn ngoan của người đời, nhưng theo lẽ khôn ngoan của người sống có kết ước với Thiên Chúa. Dạy khôn là dạy cho biết “Kính sợ Giavê” (15,16).

Ngay trong chương đầu 1,20-33, theo một số nhà chú giải, khôn ngoan được mô tả như một phụ nữ đi tìm môn đệ trong thành. Bà này tương phản với bà thứ hai – khờ dại (9,13). Cả hai cố lôi kéo con người vào đường của mình. Có lẽ đây là lối nhân cách hóa thường thấy trong thơ Hipri (Is 52,9; Tv 98,8).

Sách Châm ngôn không chỉ gồm những câu châm ngôn mà còn có những văn thể khác bằng tiếng Hipri mang ý nghĩa rộng hơn. Mashal là một văn thể lớn, nó có thể là một bài thơ, bài châm biếm như (Is 14,4-21) hay một dụ ngôn (Ed 17,2-8; 24,3-6), một lời sấm (Ds 23,7-10) hay một diễn từ dài (G 29,1-31,37) chứ không chỉ là một câu châm ngôn gồm hai vế. Sách Châm ngôn có nhiều văn thể, nhưng tất cả đều nằm trong văn thể Mashal này. Có những văn thể chính sau đây.

Đây là sưu tập thứ hai của Salomon gồm 127 câu do những người của Ezekia vua Giuđa thu tập, hình thức giống như sưu tập hai với những nhận xét rất thực tế về nhân tình thế thái, đôi khi châm biếm và khôi hài (người biếng nhác 19,24; 20,4; 22,13) người đàn bà hay cãi lộn (21,19; 27,15…) luân lý đơn giản: ăn ngay ở lành sẽ được thành công, sẽ được sống, còn kẻ làm điều ác sẽ dẫn tới diệt vong. Theo quan niệm của sách Châm ngôn cũng như sách Cựu ước thời xưa sự thưởng phạt đó xảy ra ngay ở đời này. Nhiều câu trong phần hai và phần 4 giống với tục ngữ ca dao Việt Nam. Riêng đoạn 25-27 vận dụng lối ví nhiều hơn như 26,20.

Là bộ sưu tập những lời của các nhà khôn ngoan. Theo các nhà chuyên môn thì Cn 22,17-23 giống với các điều dạy khôn trong tập Amen-em-ope của Ai-cập. Trong đó có khúc châm biếm người say rượu rất hóm hỉnh (23,29-35).

Bố cục của sách không có hệ thống chặt chẽ, sách gồm 9 sưu tập gộp lại (TOB/ 1514) tất cả đều xoay quanh 2 sưu tập chính 10-22,16 và 25-29. Sưu tập gồm các đoạn 10-22,16 được gọi là cách ngôn của Salomon. Sưu tập gồm các đoạn 25-29 được giới thiệu đây là những cách ngôn của Salomon do những người của Ezekia, vua Giuđa thu thập (25,1). Sưu tập một có thêm phần phụ lục “lời hằng khôn ngoan”. Đó là sưu tập các lời hiền nhân vô danh xưa được truyền lại: (22,16-24). Hết sưu tập thứ hai thêm phần phụ lục lời của A-gua (30,1-14) và của Lơ-mu-en (31,1-9) là những vay mượn của ngoại quốc, trong đó dân Chúa nhận ra được mối thao thức của mình về sự công bình với người xung quanh (30,14-31…) Giữa hai sưu tập đó chen vào những châm ngôn được ghi bằng số (30,16-31) gọi là châm ngôn số vì được xây dựng theo lối tiến cấp số mà chúng ta gặp nơi Amos (1,3-2,6).

Sách Châm ngôn “sưu tập những bộ sưu tập” rất khó xác định thời gian soạn thảo từng phần của sách này. Trước khi các châm ngôn được viết lại thì chúng đã phải trải qua giai đoạn truyền khẩu, sau đó trong gia đình, hay cộng đoàn xuất hiện những bộ sưu tập châm ngôn rồi dưới thời Salomon và các vị kế tiếp thì chúng được viết ra. Chín đoạn đầu có lẽ do một số ký lục biên soạn vào sau thời lưu đày. Từ đó ta có thể nói được rằng sưu tập hiện nay được hoàn thành quãng năm 480.

Như vậy, chúng ta có thể coi hai phần chính 10-12 và 25-29 là do Salomon soạn hoặc do các ký lục trong triều đình lấy cảm hứng từ ý nhà vua mà soạn ra, phần còn lại, ta có thể hiểu vua là soạn giả tinh thần.

Cách ngôn của Israel ngày xưa cũng thuộc loại văn như thế họ gọi là Mashal. Về hình thức văn học thì khởi đầu Cách ngôn của Israel là những câu ngắn gọn, về sau phát triển thành những câu thơ có hai hay nhiều vế, có hai ý nghịch nhau với dụng ý làm nổi bật điều muốn răn dạy (28,1). Cũng có thể là những câu dài có lý luận (30,20), có khi ở dạng câu đố (30,15) và câu ví (25,16). Có thể do những đặc tính này mà bản Vulgatha dịch là Parabolae Solomonis (1,1).

More in this category:

« Khái Lược Về Sách Gióp

Tìm Hiểu Sách Khôn Ngoan »

Tìm Hiểu Những Châm Ngôn Sống Sâu Sắc Của Người Nhật

1. Nếu một vấn đề có thể giải quyết được, vậy không cần phải lo lắng về nó nữa. Nếu nó không thể giải quyết được, vậy thì có lo lắng cũng chẳng ích gì.

2. Dùng thời gian để suy nghĩ, lá gan để hành động. Khi đã hành động rồi thì đừng suy nghĩ.

3. Đừng níu giữ những thứ đã xa, đừng xua đuổi những điều đang đến.

4. Nhanh nghĩa là đi chậm mà không bị ngắt quãng.

5. Thà làm kẻ thù của một người tốt còn hơn làm bạn của một kẻ xấu.

6. Không có con người vĩ đại nào mà không sở hữu những người bình thường bên cạnh mình.

7. Người có khát vọng vươn lên sẽ nghĩ về cách tạo ra cho mình một chiếc thang.

8. Vợ chồng giống như tay và mắt: khi tay đau thì mắt khóc; còn khi mắt khóc, tay lau đi những giọt lệ.

9. Mặt trời không biết ai đúng ai sai. Nó chiếu sáng không cần mục đích và đem lại hơi ấm cho tất cả mọi người.

10. Ếch ngồi đáy giếng thì không biết được sự bao la của biển cả.

11. Một hành trình dài luôn bắt đầu từ một hành trình ngắn.

12. Kẻ uống rượu không biết sự nguy hiểm của rượu, người không uống rượu không hiểu được lợi ích của nó.

13. Thanh kiếm dù chỉ cần dùng một lần trong đời, nhưng lúc nào cũng nên mang bên người.

14. Những đóa hoa đẹp không sinh ra trái ngọt.

15. Nỗi sầu, như bộ đồ rách, lúc nào cũng nên bỏ ở nhà.

16. Khi người ta yêu, thậm chí cả vết sẹo ghê tởm nhất cũng trở nên xinh đẹp như má lúm đồng tiền.

17. Chẳng ai vấp ngã khi đang nằm trên giường.

18. Một lời tốt có thể giữ ấm cho bạn trong ba tháng mùa đông.

19. Luôn tránh xa những gã khờ và những thằng điên.

20. Nếu muốn sơn một nhánh cây, phải nghe được hơi thở của gió.

21. Kiểm tra lại bảy lần trước khi nghi ngờ một ai đó.

22. Làm tất cả những gì bạn có thể và để mọi chuyện còn lại cho số phận.

23. Sự thật thà quá mức thường nằm sát cạnh sự ngu xuẩn.

24. Tiền tài luôn đến với những ngôi nhà có tiếng cười.

25. Người có thể chịu đựng được chỉ hơn nửa giờ so với đối thủ của mình là người có thể đạt được chiến thắng.

26. Khi nào đá biết bơi, thì lá sẽ chìm.

27. Ngay cả khỉ cũng có thể ngã từ cây của chúng.

28. Trà nguội hay cơm nguội đều có thể chịu được; thứ không thể chịu được là cái nhìn nguội và lời lẽ cục cằn.

29. Không vào chuồng cọp, sẽ không bắt được cọp con.

30. Nếu một người phụ nữ muốn một điều gì, cô ta sẽ leo qua cả một ngọn núi để có được nó.

31. Đặt một câu hỏi và bạn chỉ cảm thấy xấu hổ trong thoáng chốc. Không hỏi và không biết nghĩa là bạn sẽ thấy xấu hổ cả đời.

32. Người thợ thủ công tệ không bao giờ làm ra một chiếc bình hoàn hảo.

33. Đất luôn cứng lại sau mưa.

34. Những con sông sâu nhất trôi rất êm đềm.

35. Nếu quyết định có một hành trình khác biệt, bạn sẽ phải một mình trong hàng ngàn ki-lô-mét.

Nguồn: internet.

Quyển I: Dẫn Nhập – Sách Châm Ngôn – Sách Ông Gióp

Giới thiệu nền văn chương khôn ngoan

trong Thánh kinh Cựu ước

 

  

Loạt bài về nền văn chương khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước gồm các bài viết đã được phát cho mục ”Tìm hiểu Kinh Thánh” của Chương Trình Việt Ngữ Đài Chân Lý Á châu Manila.

   Tài liệu chính được sử dụng là phần dẫn nhập các sách khôn ngoan của bộ chú giải Kinh Thánh tiếng Ý ”La Bibbia. Nuovissima versione dai testi originali”, Vol. II, Antico Testamento, Ed. Paoline Milano 1991. Đây là một trong các bộ chú giải phổ thông nổi tiếng của các chuyên viên kinh thánh Italia.

   Cầu mong loạt bài này giúp chúng ta lãnh hội được các giáo huấn tinh túy trong kho tàng khôn ngoan của Thánh Kinh Cựu Ước và đặc biệt trở nên giống Chúa Giêsu Kitô, hiện thân sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa.

 Roma 26-7-2013

LM Giuse Hoàng Minh Thắng

 

 

MỤC LỤC

NỀN VĂN CHƯƠNG KHÔN NGOAN TRONG THÁNH KINH CỰU ƯỚC

 

 Quyển I

 DẪN NHẬP, SÁCH CHÂM NGÔN, SÁCH ÔNG GIÓP (Bấm tam giác bên trái từng mục để nghe – Bấm dòng chữ để lưu vào máy)

 

Chương I: Nền văn chương khôn ngoan trong Thánh Kinh Cựu Ước

 

Chương II: Sách Châm Ngôn: kết cấu, nội dung, từ vựng

8.

9.

10.

11.

12.

13.

14.

15.

 

Chương III: Các giáo huấn của sách Châm Ngôn

16.

17.

18.

19.

20.

21.

22.

23.

24.

25.

26.

27.

28.

29.

30.

31.

 

Chương IV: Sách ông Gióp: nội dung, cấu trúc, văn thể, tác giả và thời gian sáng tác

32.

33.

34.

35.

36.

 

Chương V: Sứ điệp thần học sách ông Gióp

 37.

 38.

 39.

 40.

     Quyển II (sẽ đăng đợt sau)

SÁCH GIẢNG VIÊN (QOHELET), SÁCH HUẤN CA (BEN SIRA), SÁCH KHÔN NGOAN

Tìm Hiểu Về Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

TÌM HIỂU VỀ CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAMCa dao than thân , yêu thương tình nghĩa Bài liên quan : Tìm hiểu về Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa Ca dao ra đời từ ngàn xưa, gắn với cuộc sống trăm đắng ngàn cay nhưng đậm tình nặng nghĩa. Những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lí dân gian sâu sắc.Những đề tài ca dao bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động. Chính vì thế, những hình ảnh ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình, những nỗi niềm thân phận. Toát lên từ những lời ca là ý thức về phẩm giá, nhân cách, là những tình cảm thương nhớ đợi chờ, là khát vọng được sẻ chia, là ước ao về cuộc sống thủy chung mặn nồng.Ta hãy nghe những lời tình tự trong mô-tip thân em quen thuộc của ca dao:Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay aiKhông ngẫu nhiên đâu, khi những ví von về người phụ nữa lại gắn với hình ảnh “tấm lụa đào”gợi cảm, vừa mềm mại dịu dàng như bản tính cố hữu của người phụ nữ, vừa tươi tắn sắc đào tươi như sức sống mãnh liệt của tâm hồn. Thế nhưng tấm lụa cao quí ấy đã trở thành món hàng trao đổi – phất phơ giữa chợ. Thân phận người phụ nữ ngày xưa là thế, mỏng manh, phụ thuộc không biết đi đâu về đâu giữa dòng đời trong đục khó phân. Bởi thế, lời ca dao như một tiếng than, ngậm ngùi trong câu hỏi vọng lên biết vào tay ai? Dẫu phải rơi vào những nghịch cảnh như vậy, những lời ca về thân em vẫn toát lên một niềm kiêu hãnh về phẩm giá:Thân em như củ ấu gaiRuột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đenAi ơi, nếm thử mà xemNếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.Trong lời ca dao này, chứa đựng cái nhìn dân gian quanh việc đánh giá hình thức – nội dung, hiện tượng – bản chất qua một so sánh trực quan với củ ấu gai nhỏ bé. Vẫn là cách nói nhún nhường thân em, nhưng kín đáo bộc lộ vẻ đẹp “ruột trong thì trắng” đối lập với vẻ bề ngoài đen đủi xấu xí. Lời nhắn nhủ “ai ơi nếm thử mà xem” vừa như trách móc, vừa như thiết tha mong mỏi ai ơi kia sẽ đến với nhau vì cái “ngọt bùi” nồng nàn tình nghĩa. Không chỉ là tiếng nói tỏ bày tấm lòng, bài ca dao còn ẩn chứa nỗi niềm cay đắng thân phận, bởi lẽ người đời đôi khi lại phũ phàng thờ ơ với những vẻ đẹp thực chất mà đuổi theo cái hào nhoáng bề ngoài. Bởi thế, những tâm tình cất lên như một sự cảnh tỉnh, một lời nhắc nhở con người đến với nhau bằng tấm lòng.Ca dao có khả năng chắt lọc nghệ thuật sống từ chính những cái cụ thể gần gũi trong đời sống hàng ngày để tạo ra những liên tưởng gắn với thế giới tâm hồn phong phú tinh tế, với những tình cảm phức tạp của con người. Một vị khế chua mang theo bao xót xa cho tình duyên không trọn vẹn. Những nghịch cảnh bất công trong cuộc đời cũ luôn là lực cản khiến cho đôi lứa phải chia lìa. Trong những trái ngang ấy, lời ca dao cất lên bao thiết tha nhung nhớ:… Mặt trăng sánh với mặt trờiSao Hôm sánh với sao Mai chằng chằngMình ơi! có nhớ ta chăng?Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trờiTâm sự “mình -ta” biết bao quyến luyến! Mô-tip mình – ta bao giờ cũng đọng lại những ân tình sâu nặng trong đời sống tình cảm của người bình dân. Tình yêu đôi lứa được sánh với ánh sáng mặt trăng, mặt trời, đặc biệt là các liên tưởng gắn với sao Hôm sao Mai -tuy hai mà một thật khắng khít. Từ đó hướng tới những giá trị cao cả bất tử của tình nghĩa dành cho nhau. Và cũng thật thú vị biết bao khi ánh sao kia lại biến thành “sao Vượt” băng qua bao trở lực đón nhận tình cảm nồng nàn. Ca dao đã diễn tả nỗi lòng hướng về nhau thật tinh tế:Khăn thương nhớ aiKhăn rơi xuống đấtKhăn thương nhớ aiKhăn vắt lên vai…Ta nghe như có bao dùng dằng thương nhớ trong từng lời nồng nàn. Khăn thương nhớ ai, đèn thương nhớ ai… từng động tác, từng cái nhìn như mang theo cái bồn chồn lo lắng cho duyên tình trắc trở. Nhịp thơ dàn trải, mong manh. Có thể hình dung ra từng cử chỉ, từng động tác dồn nén nhớ thương. Lời ca dao gợi lên bao suy ngẫm về hoàn cảnh trớ trêu của người phụ nữ không tự định đoạt được duyên tình của mình. Bức tranh tâm trạng ấy vừa được tạo nên bằng những hình ảnh nối kết khăn – đèn – mắt, vừa là điệp khúc tâm trạng đầy day dứt “… thương nhớ ai” – hàm chứa trách móc giận hờn . Khoảnh khắc người con gái đối diện chính mình cũng là lúc ta nhận ra chiều sâu tâm hồn đằm thắm thủy chung, nhận ra nỗi lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Bài ca dao này cũng như một lời ca dao tương tự : đêm qua ra đứng bờ ao/ trông cá cá lặn trông sao sao mờ…. Mỗi vật được nhắc đến như chứa đựng trong đó cả tấm tình hướng về nhau. Nhịp lục bát khép lại tâm tư trĩu nặng:Đêm qua em những lo phiềnLo vì một nỗi không yên mọi bềLời ca dao kín đáo như oán như than, hé mở bao bất công ngang trái, trắc trở tình duyên. Không gian cảnh vật như chứa đựng nỗi niềm con người, thành tâm trạng cất lên lời nhắn nhủ tha thiết. Nhưng có thể thấy cùng với niềm tin son sắt, tình cảm nhớ nhung, không bao giờ ca dao lại đem đến cảm giác ủy mị yếu đuối mà luôn đau đáu một tấm òng chung thủy.Ngay trong những hoàn cảnh đắng cay chua xót, trong sự cách xa chia lìa, tấm lòng người bình dân dành cho nhau thật bền bỉ:Muối ba năm muối đang còn mặnGừng chín tháng gừng hãy còn cayĐôi ta tình nặng nghĩa dàyCó xa nhau đi nữa ba vạn chín nghìn ngày mới xaHình tượng “muối mặn – gừng cay” từ lâu đã gắn với cuộc sống bình dị của người dân quê: “Tay bưng đĩa muối chấm gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”. Cái mặn nồng của ân tình, cái cay cực cùng nếm trải đã kết lại những tấm lòng. Thời gian dù có cách xa, vị đời có thể nhạt nhẽo, nhưng những ân tình đã thành gừng cay muối mặn thì không có một trở lực nào có thể làm lạt phai. Ân tình ấy được đo bằng thời gian đời người ba vạn chín nghìn ngày – trăm năm, đã trở thành lẽ sống đậm đà tình nghĩa thủy chung của dân tộc. Thật cụ thể và sâu sắc biết bao những lời lẽ mộc mạc mà chắc nịch chi li như vậy, Tình yêu, lòng chung thủy đã gắn kết nên đôi lứa, giúp con người vượt qua qui luật khắc nghiệt của tạo hoá. Độ nồng nàn của tình cảm, sức mạnh của tình yêu vượt lên cả cái chết.Tình nghĩa trong ca dao phong phú , tinh tế và sâu sắc, trở thành nền tảng đạo lý và vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc. Mỗi lời ca dao mang theo bao tâm tư, khát vọng, giúp con người vượt lên nghịch cảnh, sống với nhau trọn vẹn nghĩa tình. Cũng nhờ vậy, những vẻ đẹp cuộc đời đi vào ca dao đáng yêu, đáng quí biết bao. Sức sống ca dao mãi mãi trường tồn cùng dân tộc, gắn với vẻ đẹp của những tâm hồn nhân hậu, cao cả, trong sáng của người bình dân.Bài ca dao Khăn thương nhớ ai Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, 1 cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân Việt Nam . Bài ca diễn tả nỗi nhớ niềm thương của 1 cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà không dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi không có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu chohạnh phúc: Đêm qua em những lo phiềnLo vì một nỗi ko yên một bềMở đầu, chiếc khăn đc hỏi đến đầu tiên và đc hỏi nhiều nhất:Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Chiếc khăn thường là vật trao duyên, vật kỷ niệm gơi nhớ người yêu. Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại 3 lần câu “khăn thương nhớ ai” như 1 điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Cái khăn, tự nó không biết ” thương nhớ”, không biết tự “rơi xuống”, “vắt lên”, ” chùi nước mắt”, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đã hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo chiều hướng của ko gian (” khăn rơi xuống đất rồi lại ” khăn vắt lên vai”), cuối cùng thu lại trong cảnh khóc thầm (“khăn chùi nước mắt”). Nỗi nhớ trong 6 câu lan tỏa vào không gian, đến 4 câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian. Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:Đèn thương nhớ ai Mà đèn chẳng tắtVẫn là điệp khúc “thương nhớ ai”, nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ ” khăn” sang “đèn”. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng. Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hoá. Nỗi lòng của cô gái buộc phải bật ra trong cách nói trực tiếp:Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yênThuơng nhớ đến ko ngủ đc, cứ trằn trọc thao thức là cách thức biểu lộ quen thuộc trong ca dao:Đêm nằm lưng chẳng tới giường,Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”Tuy nhiên, cũng là 1 tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảmsâu xa hơn nhiều. “Mắt ngủ không yên” tạo nên 1 đối xứng rất đẹp với “đèn chẳng tắt” ở trên, gợi lên 1 khung cảnh rất thực: cô gái giữa đêm khuya 1 mình đối diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì “mắt ngủ chẳng yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn cũng chỉ là nói người mà thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi không nguôi.Mười câu thơ là 5 câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc ” thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào 1 nỗi niềm khắc khoải, da diết. Năm lần ” thương nhớ” và 5 lần từ ” ai” xuất hiện. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên 1 nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, không giới hạn. Từ “ai” không xác định cụ thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được “ai” ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực câu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ 1 cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt.Cách gieo vần của bài ca cũng rất đặc sắc. Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau (ai-ai,mắt-tắt), vần bằng vần trắc luân phiên, tất cả tạo nên 1 âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa nén lại, vừa như kéo dài ra mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc… Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô giá không hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền : Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề Từ nhịp thơ 4 chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo ây của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được nhắc đền 2 lần. Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng luôn lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh.Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh họat, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bvát cuối cùng… Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu đc diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của ngừơi bình dân xưa. Một số bài ca dao than thân bắt đầu bằng mô típ ” Thân em ” : Thân em như cá trong lờHết phương vùng vẫy biết nhờ nơi đâuThân em như cái cọc ràoMột thời anh đổi chớ sao anh phiền.Thân em như cái quả xoài trên câyGió đông, gió tây, gió nam, gió bắcNó đánh lúc la lúc lắc trên cànhMột mai vô tình rụng xuống, biết vào tay ai ?Thân em như cánh buồm trước gióNay đây mai đó thiệt khổ làm saoBiết đâu nhơn nghĩa đặng vào gởi thânThân em như hạt mưa sa (2)Hạt sa xuống biển, hạt sa lên rừng.Hạt sa gặp gió bay tungSa đâu ấm đấy oán cùng trách aịThân em như hạt mưa sa (3)Hạt vào đài các hạt ra ngoài đồng.Thân em như lá từ bi,Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sươngThân em như miếng cau khôKẻ thanh tham mỏng, người thô tham dàyThân em như tấm lụa đào (4)Phất phơ giữa chợ biết vào tay aiEm ngồi cành trúc, em tựa cành maiĐông đào tây liễu lấy ai bạn cùngThân em như thể bèo trôi Sóng dập gió dồi biết tựa vào đâuThân em như thể cánh bèoNgược xuôi xuôi ngược theo chiều nước trôịThân em như trái bần trôi,Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?Thân em vất vả trăm bềSớm đi ruộng lúa tối về ruộng dâuCó lược chẳng kịp chải đầuCó cau chẳng kịp têm trầu mà ănThân em vừa đẹp vừa giònBước chân đi làm mọn, vô cúi ra lòn khổ thayThân gái bến nước mười haiGặp nơi trong đục may ai nấy nhờ.Ca dao hài hước Bên cạnh mảng ca dao trữ tình, ca dao hài hước cũng phản chiếu một khía cạnh khác trong tâm hồn của người bình dân ngày xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng của nhân dân. Không những thế, tiếng cười trong ca dao cũng chính là những uất ức bất bình , những thái độ ứng xử , điều chỉnh hành vi , hướng tới một cuộc sống tốt đẹp công bằng hơn.Ca dao hài hước chứa đựng cái nhìn, thái độ, tình cảm của người bình dân trước các hiện tượng đời sống, mối quan hệ tình cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười còn là vũ khí tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười trào lộng dí dỏm, có khi là tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười đáng chán, cũng có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xã hội còn nhiều bất công ngang trái.Từ thực tại còn nhiều vất vả cay cực, người bình dân đến với nhau trong tiếng đùa vui, mượn tiếng cười ngỏ bày tâm tình một cách ý vị:Cưới nàng anh toan dẫn voiAnh sợ quốc cấm nên voi không bàn…Chàng trai ngỏ lòng với cô gái bằng lối nói khoa trương để cho thấy ngay rằng anh đang đùa. Nhưng liệu có phải hoàn toàn là một lời nói đùa không? Có thể hình dung ra hoàn cảnh của đôi nam nữ yêu nhau qua bài ca dao : họ sống nghèo khổ nhưng vô cùng lạc quan. Lời đối đáp có chút tinh nghịch nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khỏa lấp đi một sự thật mà người đời quen gọi là “nói khoác” thực ra đã mang một ý vị chua chát đả phá vào những hủ tục ngăn cách con người tìm đến với nhau. Chàng trai đã có những lễ vật dẫn cưới thật sang trọng: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò… nhưng cuối cùng lại là con chuột béo thật ấn tượng. Lí giải thật hợp tình hợp lẽ : con voi to đùng kia là hàng quốc cấm – phép nước luật vua không cho phép, dẫn trâu dẫn bò thì lo họ hàng nhà gái máu hàn, rút gân – chứng tỏ chàng trai là người “chu đáo” với đàng gái biết bao! Sợ cho nhà gái hay là một lời đay nghiến, mỉa mai những người đã nghĩ ra chuyện thách cưới ác nghiệt khiến cho đôi lứa phải chịu cảnh dở khóc dở cười. Con chuột béo là một thái độ đáp lại bằng cách giễu cợt cay chua. Nhưng lời đáp lại của cô gái dù đùa vui mà lại ẩn chứa một nỗi lòng đáng quí :Chàng dẫn thế em lấy làm sangNỡ nào em lại phá ngang như là…Người ta thách lợn thách gàNhà em thách cưới một nhà khoai lang…Ngầm chứa trong lời đáp là sự động viên chàng trai vững tâm để đi đến hạnh phúc. Vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của mình. Cái tinh tế trong lời cô gái vừa là phản ứng trước việc thách cưới phá ngang , vừa là mong mỏi chàng trai là người cần cù siêng năng xứng đáng với tấm tình của cô. Không những thế, cô còn đem tới lời nhắn nhủ về sự cần kiệm: củ to mời làng, củ nhỏ mời họ, và không bỏ sót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp khéo léo ấy đem lại niềm hy vọng và lạc quan về hạnh phúc.Ca dao hài hước còn mang theo những suy ngẫm về thực trạng xã hội phong kiến vốn dành ưu ái đặc quyền cho nam giới. Vẫn là mô típ làm trai cho đáng nên trai nhưng không phải là lời ca ngợi vào khả năng “vá trời lấp bể” mà chỉ là :Làm trai cho đáng sức traiKhom lưng chống gối, gánh hai hạt vừngTừ bản chất của những người yêu lao động, người bình dân phê phán và chế giễu những kẻ lười biếng mà huênh hoang. Ý nghĩahài hước toát ra từ hình ảnh đối nghịch : sức dài vai rộng mà lại khom lưng chống gối chỉ để gánh hai hạt vừng. Động tác kia chẳng khác nào mô phỏng hình ảnh các vị chức sắc quan lại chỉ giỏi khom lưng luồn cúi, chống gối quì lụy để tiến thân. Người bình dân chế giễu những kẻ vô tích sự ấy, mang tiếng là gánh vác sơn hà nhưng thực tế chẳng khác nào những bọn vô công rỗi nghề ăn bám người khác. Thật bất hạnh cho những ai vớ phải một ông chồng như thế! Ca dao cũng sẵn những lời ta thán của những người phụ nữ :Chồng người đi ngược về xuôiChồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèoTrong quan hệ gia đình, có lẽ phải gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ thì người vợ mới có chuyện so sánh chồng mình với chồng người. Hình ảnh anh chồng thật thảm hại trong tương quan đi ngược về xuôi với sờ đuôi con mèo. Bất cứ người phụ nữ nào cũng mong muốn chồng mình giỏi giang cáng đáng việc quốc gia đại sự hay chí ít cũng là trụ cột gia đình. Còn anh chồng trong bài ca dao này cứ quẩn quanh xó bếp, nhu nhược hèn kém. Nhưng lời than thở giận hờn ấy không thay đổi được số phận. Than thở thế thôi, dẫu gì cũng vẫn là chồng em , vẫn là nghĩa tình duyên nợ với nhau. Đàng sau lời ca dao ấy là nỗi lòng trĩu nặng, phản chiếu một mong mỏi chồng mình cũng được bằng anh bằng em, để người vợ có thể mở mày mở mặt.Trong ca dao không chỉ có tiếng cười chế giễu mà còn bao tiếng cười đầm ấm tình thương yêu gắn bó với nhau. Người bình dân biết cười đời và cũng biết cách cường điệu phóng đại những tật xấu của mình để tự cười mình. Không phải là tiếng cười thiên lệch dành cho nam giới mà cả giới nữ cũng có nhiều cái đáng cười. Điểm đặc biệt là tất cả những sự lệch chuẩn ấy đã thành cái đáng yêu trong một gia đình hạnh phúc:Lỗ mũi em mười tám gánh lôngChồng yêu chồng bảo râu rồng trời choĐêm nằm thì ngáy o o…Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhàĐi chợ thì hay ăn quàChồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơmTrên đầu những rác cùng rơmChồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!Chắc không người phụ nữ nào lại tự lôi ra tất cả những “thói hư tật xấu” của mình đầy đủ đến thế với một cách nói phóng đại tô đậm những cái ngược hoàn toàn với chuẩn mực “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” phong kiến. Không hề gò mình ép khuôn vào một cách sống giả tạo gò bó, điều mong muốn của người bình dân là có một gia đình hạnh phúc, một sự thông cảm chia sẻ trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng bảo… không hề che giấu niềm tự hào có một người chồng tuyệt vời. Có lẽ các triết lí của các học giả đáng kính cũng rút tỉa ra từ thực tại cuộc sống phong phú đáng yêu này mà thôi: “Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ tình si” (Kant). Người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xã hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những qui tắc cứng nhắc . Không những thế, đó chính là sự điều chỉnh hành vi của người bình dân bởi lẽ không người phụ nữ nào lại muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng. Cười vui là thế nhưng cũng có ý nghĩa cảnh tỉnh nhẹ nhàng cho việc giữ gìn hạnh phúc. Bởi lẽ chồng yêu thì hạnh phúc nhưng chồng ghét thì là tai họa, là tan vỡ.Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn khoẻ khoắn của những con người luôn ý thức giá trị bản thân, luôn mong muốn cuộc sống tốt đẹp công bằng.

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Sách Châm Ngôn trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!