Xem Nhiều 10/2022 ❤️️ Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của ❣️ Top Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 10/2022 ❤️ Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của ❣️ Top Trend

Xem 12,771

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của mới nhất ngày 03/10/2022 trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 12,771 lượt xem.

Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian

Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu

Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu

Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ

Ca Dao Tục Ngữ Chủ Đề Về Con Cò

(La Mai Thi Gia, Tạp chí Đại học Sài Gòn, tháng 8.2016)

Tóm tắt

Trong bài viết, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của những câu ca dao đã được sưu tầm cách đây 128 năm trong sưu tập Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của. Chúng tôi tìm và giải thích những từ Việt cổ, từ địa phương Nam Bộ xuất hiện nhiều trong các câu ca dao khác nhau bằng cách tra cứu nghĩa của các từ đó trong Đại Nam quấc âm tự vị cũng của Huỳnh Tịnh Của biên soạn. Chúng tôi tìm hiểu tính Nam Bộ trong ngôn ngữ ca dao dân ca Nam Bộ được sưu tập ở cuối thế kỷ 19 thể hiện như thế nào thông qua từ địa phương và cách xưng hô đậm tính Nam Bộ, đồng thời giải nghĩa những câu ca dao dân ca chứa nhiều từ Việt gốc Hán trong Câu hát góp.

                 Từ khóa: Huỳnh Tịnh của, Câu hát góp, Đại Nam quốc âm tự vị, tiếng Việt cổ, từ Nam Bộ.

1.MỞ ĐẦU

Ra đời cách đây hơn một thế kỷ, Câu hát góp (xuất bản năm 1897) và Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (xuất bản năm 1896) của Huỳnh Tịnh Của có thể được xem như là hai sưu tập văn học dân gian (cụ thể là ca dao và lời ăn tiếng nói dân gian) gần như đầu tiên về vùng đất Nam Bộ. Trước 2 sưu tập này của Huỳnh Tịnh Của đã có sáu “câu hát” được Trương Vĩnh Ký công bố ngay trong số đầu tiên của bộ Miscellanée (Imprimeric Commerciale Rey Curiol, 1988), những câu “tục diêu” dùng làm dẫn chứng trong bộ Đại Nam quấc âm tự vị (1895) và cuốn Câu hát An Nam của Trương Minh (Ký?) (1886) . Còn Câu hát góp là bộ sưu tập ca dao gồm 32 trang với 1011 câu lục bát. “Câu hát góp là góp nhặt, thu thập các câu ca dao như phụ đề tiếng Pháp là Recueil de Chansons populaires – Thu thập các bài ca dân gian” . Đây là một nỗ lực rất đáng trân trọng của nhà nghiên cứu, nhằm giữ gìn và giới thiệu lại hai sưu tập văn học dân gian Nam Bộ đầu tiên rất đáng giá của Huỳnh Tịnh Của.

Sau Nguyễn Khắc Xuyên một năm, nhà Nam Bộ học Huỳnh Ngọc Trảng cho xuất bản cuốn Ca dao – dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh (NXB Đồng Nai, 1998), ông làm việc này vì nhận thấy rằng sau “sáu câu hát” công bố trong Miscellanées của Trương Vĩnh Ký thì công việc sưu tầm ca dao dân ca được không ít người kế tục vào càng lúc càng có quy mô lớn hơn cũng như chất lượng hơn. Tuy nhiên, theo quan sát của mình từ các bộ sưu tập đó, Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng ca dao dân ca Nam Bộ trong những thập kỷ gần đây “thường hướng vào nỗ lực tìm kiếm từ bên trong thực tế bằng phương pháp sưu tầm điền đã và rất ít chú tâm đến các tài liệu sưu tập ca dao – dân ca được công bố từ những năm cuối thế kỷ XIX đến những năm 50 của thế kỷ này” .

Huỳnh Ngọc Trảng đã liệt kê ra được 17 bộ sưu tập ca dao dân ca xuất bản từ 1886 đến 1957 do các nhà in Xưa nay, Đinh Thái Sơn, Huỳnh Kim Danh, Đức Lưu Phương, Phạm Văn Tươi, Bốn Phương… xuất bản. Ông cho rằng đây là những bộ sưu tập hết sức có giá trị vì chúng đã là tài liệu tham khảo cho các nghệ nhân hò hát ngày ấy và đây là những tài liệu có tính xác thực lịch sử rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu về sau này muốn tìm hiểu về đặc điểm của ca dao dân ca Nam Bộ vào buổi đầu khai hoang mở cõi. Ông tập hợp lại và cho xuất bản cuốn Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh vào năm 1998, trong cuốn này là tập hợp của 6 cuốn sách sưu tầm ca dao dân ca của người đi trước, trong đó Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của được xếp ở vị trí đầu tiên vì đây là bộ sưu tập được xuất bản vào loại sớm nhất trong 6 cuốn sách kể trên (Bản Câu hát góp đầu tiên in năm 1987, NXB Ménard, Sài Gòn). Cuốn sách mà Huỳnh Ngọc Trảng dùng để sao chép và in lại trong Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh là cuốn Câu hát góp được tái bản lần thứ 4 năm 1901). Khi quyết định tập hợp và cho tái bản lại các sưu tập ca dao dân ca miền Nam của người đi trước, Huỳnh Ngọc Trảng mong rằng chính những câu hát câu hò này của người xưa đã từng hát, từng hát lưu truyền và do người xưa sưu tầm sẽ cung cấp cho chúng ta “nhiều dữ liệu văn học nghệ thuật cũng như các dữ liệu về kinh tế – xã hội và nhất là những nét riêng chung về cuộc sống tình cảm, những quan niệm về thẩm mỹ, đạo lý… của các thế hệ trước..”. Đặng là “tên họ, được, có thể, làm nên, gặp rồi, có rồi”, cho đặng là hầu cho, ngõ cho (tiếng ước, tiếng khiến), chẳng đặng là không được, cũng là tiếng cấm ngăn. Câu tục ngữ Ăn no lo đặng nghĩa là có cơm sẵn cho mà ăn nên mới làm được chuyện nó chuyện kia . Ba câu ca dao số 183, 465 và 45 đại ý nói về những thân phận trôi giạt khắp nơi như cánh bèo, chiếc bá hay chiếc thuyền tình trôi nổi trên mặt nước, dù có ở bất kỳ đâu thì cũng là trôi nổi, không ổn định và đầy phân vân. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu thơ tương tự như câu ca dao số 45, nhưng thay hai chữ “linh đinh” bằng “lênh đênh” nhằm chỉ số kiếp hồng nhan trôi nổi của nàng Kiều. Chiếc bá trong câu ca dao số 183 là chỉ chiếc thuyền bá, thuyền đóng bằng cây bá, “linh đinh chiếc bá giữa dòng” có ý ví von với số phận của cô gái chưa chồng hoặc mất chồng phải giữ tiết một mình .

– Canh tư cất bút thề nguyền/ Khứ lai miêng bạch cho tuyền thủy chung/ Canh năm cờ phất trống rung/ Anh gá tiếng cùng bậu chớ nghe ai (65, 66)

– Trách em một chữ vô nghì/ Chào anh một tiếng mất đi đường nào/ Chào anh em cũng muốn chào/ Sợ e chúng bạn nói điều chẳng miêng (663, 664)

Chữ miêng trong hai câu ca dao trên có nghĩa là rõ ràng, phân minh, miêng bạch là minh bạch (T2; tr.33). Nghì là cách đọc khác của ngãi, nghĩa, vô nghì nghĩa là chẳng có lễ phép gì . Câu ca dao có ý nói “cái nết đánh chết cái đẹp”, dù cô gái có xinh đẹp đến bao nhiêu đi nữa nhưng không đẹp nết thì cũng bị chê. Chữ bậu xuất hiện 130 lần và chữ qua xuất hiện 49 lần trong toàn bộ Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của, chứng tỏ đây là cách xưng hô hết sức phổ biến của người Nam Bộ thời kỳ trước.

2.3.

Trước mai, sum hiệp, hiệp vầy

-      Anh ở với em cho trước mai tàn/ Mai sau anh có thất vận lên ngàn cũng xinh (420)

-      Tưởng là mai trước lại vầy/ Hay đâu mai trước một ngày một xa (969)

-      Kể từ bạn với trước mai/ Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông (966)

-      Kể từ bạn với trước mai/ Xuân qua hè lại đã vài ba năm (102) 

-      Bao giờ sum hiệp trước mai. Lòng nguyền kết tóc lâu dài trăm năm (1012)

-      Ngó thấy em đành đà đành bụng/ Biết bao giờ hiệp phụng vầy loan (51)

-      Bây giờ hiệp mặt đôi ta/ Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao (924)

-      Bao giờ loan phụng hiệp vầy/ Thì anh mới đặng giải khuây cơn sầu (947)

-      Lỗi căn duyên như đờn lỗi nhịp/ Biết bao giờ cho hiệp phụng loan (85)

Từ trước là một từ Việt cổ dùng để chỉ cây trúc (tre), không thấy xuất hiện trong các bộ sưu tập ca dao gần đây nữa, chúng tôi tìm thấy được 5 câu ca dao trong Câu hát góp có chứa từ này. Theo ĐNQATV trước là trúc, tre (T2; tr.501), như vậy trước mai ở đây là trúc mai. Đây là cặp biểu tượng kép thường xuất hiện trong ca dao để chỉ cặp đôi nam nữ nhân vật điển hình, trúc là hình ảnh chỉ người quân tử, còn mai được dùng để chỉ người con gái đẹp. Biểu tượng trúc – mai thường đi chung để chỉ cặp đôi yêu nhau. Như câu ca dao “Hôm nay sum hiệp trước mai, tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm” nhằm chỉ sự gặp gỡ, gần gũi của đôi trai gái yêu nhau. Trong các câu ca dao số 1012, 51, 924, 947 và 85 còn có từ hiệp, theo ĐNQATV hiệp là họp hay hạp, sum hiệp là nhóm họp, sum vầy, hiệp vầy hoặc vầy hiệp là nhóm họp, chung cùng (T2; tr.420). Từ hiệp xuất hiện 9 lần trong Câu hát góp. Trong hai câu ca dao 947 và 85, ta thấy có xuất hiện cặp biểu tượng phụng – loan (đôi chim trống mái), cũng có ý nghĩa tượng trưng cho đôi nam nữ như cặp biểu tượng trước – mai ở trên.

2.4.

Dươn, quờn, dươn hài, lương dơn, căn dươn, vầy dươn

-   Chẳng qua là gió đưa dươn/ Nào ai cướp lộc dành quờn chi ai (317)

-   Nghinh hôn giá thú bất khả luận tài/ Trăm năm chẳng hiệp dươn hài/ Anh nằm lăn xuống bệ, anh lạy dài ông Tơ (918)

-   Lương dươn do túc đế/ Giai ngẫu tự nhiên thành/ Vì con trăng kia chỉ rối tơ mành/ chẳng nên chồng vợ cũng thành đệ huynh (132)

-   Lưu ly nửa nước nửa dầu/ Nửa lo cha mẹ, nửa sầu căn dươn (17)

-   Ngồi buồn giả chước đi câu/ Cá ăn không giựt, mảng sầu căn dươn (159)

-   Chiều nay anh thượng lộ hồi hương/ Xin bậu ở lại, đừng vầy dươn nơi nào (410)

Từ dươn được tìm thấy trong 6 câu ca dao của bộ sưu tập, dươn là duyên, lương dươn là lương duyên. Theo ĐNQATV thì dươn (doan, duyên) là số phận, cớ sự (251), duyên do, phận mạng, sự may mắn, ưa hợp (T1; tr.238). Quờn là quyền, quờn phép là quyền phép (T2; tr.234). Câu 317 ý nói sự may mắn là do trời cho chứ người gặp may không có tranh giành với ai. Câu 918 ý nói chuyện cưới xin vợ chồng không nên tính đến chuyện tiền bạc, nhưng vì “luận tài” nên duyên trăm năm không được hòa hiệp, ở đây nhân vật trữ tình có ý trách ông Tơ không khéo xe duyên nên đôi lứa yêu nhau mà không thành (“chẳng hiệp dươn hài”). Chữ dươn hài ở đây là duyên hài trong câu thành ngữ Duyên hài can lệ, nghĩa là hạp vợ chồng, phải đạo vợ chồng . Chớ vong, đừng vong trong câu 622 và 669 ý nhắc nhở đừng quên, đừng phụ bạc, vong trong câu 976 ý là thôi, là chấm dứt, là bỏ người tình (vong tình, phụ tình). Ở câu 669 có từ sóng là dùng để chỉ sóng chén, sóng bát, tức là đồ đựng bát chén đương bằng tre, cũng gọi là rế bát . Nghĩa của câu ca dao là cho dù bát trong sóng có rung rinh, cho dù có người đặt điều dèm pha thì đôi trai gái cũng nhớ giữ vững lòng tin và tình yêu của nhau mà đừng quên nhau, phụ tình nhau.

-            Cực lòng thiếp lắm chàng ơi/ Biết rằng: lên ngược xuống xuôi đàng nào (825)

-            Tưởng là đàng vắng hát chơi/ Hay đâu đàng vắng có người vãng lai (335)

-            Muốn vãng lai sợ nàng mang tiếng/ Giả khách qua đàng sớm viếng tối thăm (545)

-            Bạn cũ ta xưa nay đà biệt bộ/ Giả khách qua đàng thượng lộ hỏi thăm (346)

-            Ngọc còn ẩn bóng cây tùng/ Náu nương chờ đợi anh hùng vãng lai (223)

Chữ đàng xuất hiện đến 28 lần trong Câu hát góp và cùng chỉ chung một nghĩa, đàng là cách phát âm kiểu Nam Bộ của từ đường, theo ĐNQATV đàng (đường) là đàng sá, dấu rẽ hai hoặc nứt nẻ dài, đàng trong đàng sá, đàng đi, đàng cái, đàng lộ, đàng sứ, đàng quan, đàng thẳng, đàng tắt, đàng trường… . Còn vãng có nghĩa là qua, lai là lại, vãng lai là qua lại , là cách nói của người Nam Bộ để chỉ chữ hoa (bông hoa) mà ta ít gặp ở đâu trong các vùng miền khác, chữ hiếm hiệm cũng là một phương ngữ khá đặc biệt của vùng đất phương Nam, ĐNQATV giải nghĩa hiếm hiệm là nhiều lắm, dư dật .

-         Phải chia cải tử hườn sanh/ Mổ gan trao lại mới đành dạ qua (365)

-         Trồng hường bẻ lá che hường/ nắng mưa che đậy cho hường đơm bông (786)

-         Tiếc thay cây sứ nở bầm/ tiếc hường nhan bậu lấy nhầm đứa ngu (499)

-         Dầu hèn cũng ngựa nhà quan/ Kiều khấu rách nát hường nhan hãy còn (83)

-         Vai mang kiều khấu/ Tay giấu sợi dây cương dài/ Nặng nề anh không tiếc, anh tiếc tài con ngựa hay (930)

Từ hườn trong câu 365 là cách đọc khác của từ hoàn, theo ĐNQATV hườn là hoàn, nghĩa là về, trả lại, trở lại, hườn sanh là hoàn sinh, là sống lại . Ngày nay ta quen dùng chữ hồng nhan để nói về nhan sắc, chỉ người con gái đẹp. Trong câu 83 và 930 còn có từ kiều khấu, kiều là cái yên ngựa, kiều khấu là đồ trang sức cho ngựa, yên là mặt khấu , Cần quờn, cần quyền là siêng năng, ý chí . Ngãi hay ngỡi cũng là cách gọi của nghĩa. Tình xưa ngỡi cựu là tình xưa nghĩa cũ, tình mặn ngỡi nồng ý nói nghĩa tình mặn nồng, sâu nặng. Vậy nhơn ngãi, nhơn nghĩa ở đây là cách dùng mang tính địa phương Nam Bộ của từ gốc nhân nghĩa. Trong Câu hát góp, từ ngãi xuất hiện đến 43 lần và từ ngỡi xuất hiện 5 lần. Hai từ nhơn nghĩa ta còn bắt gặp trong rất nhiều câu ca dao trong Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của như:

-               Cỏ rơm tạm đỡ buông mền/ Biết là nhơn ngãi có bền cùng chăng (103)

-               Đàng xa nhơn ngãi nào xa/ Đi đâu anh cũng ghé nhà/ Trước thăm phụ mẫu sau là viếng em (195)

-               Phụ mẫu tình thâm/ Phu thê nhơn ngãi trọng/ Một mai anh có xa em rồi, thờ vọng mẹ cha (315)

2.7.

Chực tiết, thỉ chung

-         Cách mấy thu tưởng đà ly biệt/ Ai hay em còn chực tiết với anh (265)

-         Tại mẹ cha dứt tình tơ nguyệt/ Khuyên em đừng chực tiết uổng công (976)

Chực như chực chờ, theo ĐNQATV thì chực là đứng mà đợi, là tới cho có mặt, chực tiết là giữ tiết, giữ nết, không chịu cưới vợ lấy chồng , chung là sau rốt, chết, trọn vẹn, thỉ chung là trước sau, có trước có sau, chung cùng, thỉ chung như nhứt ý nói trước sau như một, không hề sai chậy (thường nói về việc nhơn nghĩa) . Từ âm can trong hai câu 345 và 838 có thể hiểu là trời không nắng, trời âm u, thời tiết không tốt. Dây chìu trong câu 345, theo ĐNQATV là tên một loại cây cỏ, lá nó nhám, người ta hay dùng mà trau chuỗi , từ vắn vỏi ở câu ca dao số 838 có thể hiểu là ngắn ngủi, đứt đoạn. Ý nói cơ trời dâu bể, số phận đa đoan và duyên nợ của hai người ngắn ngủi nên kết quả là phải chia xa. Chữ thoàn trong hai câu 842 và 307 là cách phát âm theo kiểu Nam Bộ của từ thuyền. Giống như phát âm chữ troàn (tức là truyền) trong câu ca dao số 728 Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng/ Ông tổ nào troàn mới trọng, cũ vong.

2.9.

Đương, can, can thường, cang thường

-         Chẻ tre lựa lóng đương sàng/ Chờ ba năm nữa cho nàng lớn khôn (270).

-         Bến đò xưa con bóng đương trưa/ Buông lời hỏi bạn kén lừa nữa thôi (854).

-         Em đương vút nếp xôi xôi/ Nghe anh có vợ bồi hồi ruột gan

-         Nàng như chim nọ đương bay/ Anh như con cá mắc rày lưới giăng . Như vậy từ “đương sàng” ở trong câu ca dao 270 là theo nghĩa đan lát, đan sàng.

Từ đương trong các câu ca dao còn lại là cách đọc theo âm Nam Bộ của từ đang, là tiếng chỉ sự hiện tại bây giờ, nhằm, vừa, đối với, chịu lấy, cân xứng

-            Đàng đi biết mấy dặm trường/ Hỏi em đã kết cang thường đâu chưa

-            Đầu thì cõng chúa/ Vai mang cốt mẹ/ Tay dắt cha già/ Gặp mặt em nước mắt nhỏ sa/ Anh lấy vạt áo dà anh chặm/ Điệu cang thường ngàn dặm chẳng quên . Câu 853, “kết can thường” nghĩa là kết tình chồng vợ, ý nhân vật chàng trai muốn hỏi mình từ xa xôi đến đây nên không biết cô gái đã có nơi chốn hôn ước nào hay chưa? Còn “đạo cang thường”, “điệu cang thường” trong các câu 730, 837 và 999 ý nói về cái lẽ phải, lẽ ăn ở tình nghĩa với nhau, dứt đạo can thường cũng như dứt cái tình cái nghĩa với nhau.

2.10.

Tằng văng, nằng nằng, khắn khắn, tri tri, hân hân, san san

-         Mục bất kiến nhĩ cũng tằng văn/ Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ (348)

Tằng (tầng) nghĩa là đã quen, đã trải qua, đã biết rồi . Câu ca dao này ý nói dù chưa được tận mắt nhìn thấy nhưng anh cũng đã được nghe nói nhiều về lối ăn ở trọng tình nghĩa của em rồi, vậy nên anh sẽ chờ để được kết nghĩa kết tình với em dù bao lâu đi nữa (trăng tức trăng tròn, thường dùng để chỉ tháng, một lần trăng tròn hay một con trăng nghĩa là một tháng, nhưng ở đây chỉ thời gian nói chung, mấy trăng có nghĩa là bao lâu cũng được).

-         Tiếc thay con thỏ nằng nằng/ Núp lùm chờ đợi bóng trăng bấy chầy (542).

-         Thuyền dời, bến cũ không dời/ Khắm khắm một lời quân tử nhứt ngôn (272)

Theo ĐNQATV nằng nằng (quyết một) là sóng sả cứ một bề, một lẽ, chí quyết không đổi dời , theo chúng tôi chữ tri trong 3 câu ca dao trên có nghĩa là đã hay, đã biết, đã tường tận.

-                  Thấy em hân hân má đào/ Thanh tân mày liễu, dạ nào anh chẳng thương (867)

ĐNQATV giải thích từ hân có nghĩa là vui vẻ, hân hân là điệu bộ vui vẻ , trong Kim Thạch kỳ duyên cũng có từ san san trong câu “mẫu từ thâm tình khổ tiết nan, chung thiên khấp vỏ lụy san san”. Vậy lụy san san là cụm từ rất cổ để chỉ việc khóc thương thay vì dùng cụm từ nước mắt chứa chan như bây giờ. Câu ca dao 428 ở trên ý nói khi tiễn người yêu xuống vịnh (đi thuyền?) chàng trai thương khóc rất nhiều và về nhà thì ốm tương tư.

3.

TẠM KẾT

Nhìn chung Câu hát góp – những câu tục diêu (ca dao) do Huỳnh Tịnh Của sưu tầm ở Nam Bộ cách đây hơn một thế kỷ là một bộ sưu tập ca dao mang đậm tính Nam Bộ trong đặc điểm ngôn ngữ của nó, và đó cũng là một bộ sưu tập từ Việt cổ đã từng được sử dụng từ rất lâu ở miền Nam, có nhiều từ cho đến bây giờ đã không còn thấy nữa.

Trong 1011 câu ca dao của bộ sưu tập, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xuyên đã liệt kê được 43 từ địa phương Nam Bộ, 27 từ chỉ địa danh và 26 từ chỉ nhân danh và 164 từ Việt cổ có thể tìm được giải nghĩa của nó trong ĐNQATV. Trong giới hạn của một bài viết ngắn, chúng tôi chỉ có thể chọn ra vài mươi từ địa phương Nam Bộ và tiếng Việt cổ xuất hiện trong bộ sưu tập theo tiêu chí ưu tiên những từ xuất hiện nhiều lần trong những câu ca dao khác nhau và những từ cổ cho đến nay hiếm thấy xuất hiện trong các bộ sưu tập ca dao dân ca gần đây nữa. Trong Câu hát góp, chúng tôi nhận thấy cũng có rất nhiều những câu ca dao đưa vào đó các câu châm ngôn, tục ngữ, thành ngữ, cổ ngữ, gia ngôn.. được viết bằng chữ Hán Việt mà các bộ sưu tập ca dao gần đây đã lượt bỏ (hoặc do bị mất đi trong quá trình lưu truyền do người đời sau không còn học chữ Hán nên không hiểu nghĩa của câu Hán Việt và đã tự động lượt bỏ khi lưu truyền). Chúng tôi thiết nghĩ cần có những chuyên gia Hán Nôm sưu tập, biên soạn và cắt nghĩa những câu ca dao như thế này để kho tàng ca dao dân ca Việt Nam thời sau không bị khuyết mất đi một mảng quan trọng và rất có giá trị này.

Chú thích:

Bắt đầu từ lúc này, con số trong ngoặc kép sau mỗi lời giải nghĩa là số trang trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, T1 và T2 là viết tắt của tập 1 và tập 2.

Con số trong ngoặc đơn sau mỗi câu ca dao là số thứ tự của chính câu ca dao đó trong Câu hát góp ở bản in đầu tiên, xuất bản năm 1897.

Tài liệu tham khảo

                        Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895); Đại Nam quấc âm tự vị; Tập 1; NXB Imprimerie Rey, Curol & Cie, Sài Gòn.

                        Nguyễn Phương Châm (2001), “Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 6.

                        Triều Nguyên (2000); Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt; NXB Thuận Hóa.

                        Trần Minh Thương (2011); “Cách nói của người miền Tây Nam Bộ qua ca dao”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (187).

                   Nguyễn Khắc Xuyên (1997); Những tác phẩm ca dao tục ngữ được xuất bản cách đây một thế kỷ; NXB KHXH, HN.

Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá

Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”

36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất

Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay

Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô

Bạn đang xem bài viết Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2563 / Xu hướng 2663 / Tổng 2763 thumb
🌟 Home
🌟 Top