Xem Nhiều 2/2023 #️ Những Đứa Con Của Chị Út Tịch… # Top 8 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 2/2023 # Những Đứa Con Của Chị Út Tịch… # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Đứa Con Của Chị Út Tịch… mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NTT: “Chị Út Tịch” được nhiều người biết đến qua truyện ký Người mẹ cầm súng và truyện ngắn Mẹ vắng nhà của nhà văn Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) với câu nói nổi tiếng “Còn cái lai quần cũng đánh!”. Chị Út và nhà văn Nguyễn Thi đều hy sinh năm 1968 tại chiến trường và đều được phong Anh hùng lực lượng vũ trang. Truyện của Nguyễn Thi được đạo diễn Nguyễn Khánh Dư dựng thành phim năm 1979 và đoạt giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1980 và giải thưởng Lọ hoa pha lê tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary (Tiệp Khắc) năm 1980. Sau chiến tranh, 6 người con của chị Út và anh Tịch vẫn còn sống, nhưng ít người biết đến cuộc sống của họ. Và câu chuyện gặp lại những con cháu Út Tịch được tác giả Nguyễn Viễn Sự kể lại được đăng trên Tuổi Trẻ thật xúc động lòng người…

Những đứa con chị Út Tịch, 45 năm sau…

NGUYỄN VIỄN SỰ TT – 45 năm sau ngày chị Út Tịch – “người mẹ cầm súng” đất Tam Ngãi (Cầu Kè, Trà Vinh) – hi sinh, những đứa trẻ hồn nhiên, biết bảo ban nhau khi mẹ vắng nhà qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Thi năm nào đã lớn lên, trưởng thành.

Chúng tôi tìm về miệt vườn Tam Ngãi, nơi đang có bốn trong sáu người con của vợ chồng chị Út Tịch sinh sống, để tìm hiểu tiếp câu chuyện Mẹ vắng nhà mà Nguyễn Thi đã thôi kể từ năm 1968 – năm chị Út hi sinh và cũng là năm nhà văn qua đời.

Trong căn nhà đối diện nghĩa trang liệt sĩ huyện Cầu Kè, nơi chị Út và anh Tịch (Lâm Văn Tịch, chồng chị Út) đang an nghỉ, một người đàn ông ngũ tuần, dáng người khắc khổ trò chuyện với chúng tôi.

Đó là Hiển “ngọng” – Lâm Thanh Hiển, cậu bé lủn củn với cái miệng “ngọng líu ngọng lô” trong tác phẩm của Nguyễn Thi.

“Sao ba không đón chị em mình?”

Đó là câu nói mà anh Hiển và người chị thứ sáu Kim Anh vẫn nhắc lại trong ngày giỗ, trong những dịp chị em sum họp. Câu nói ấy hai chị em từng thốt lên trong những ngày mòn mỏi chờ ba cuối năm 1975 ở Sài Gòn, khi vừa được đưa về từ miền Bắc.

Mấy tháng ròng, hai chị em cứ nhìn hết gia đình này đến gia đình khác đến đón những học sinh miền Nam trở về sum họp nhưng vẫn không thấy ba đến đón. Hai chị em đâu hay ba đã hi sinh từ năm 1974.

Lát cắt đẫm nước mắt ấy chỉ là một đoạn ngắn trong hành trình 45 năm vắng mẹ của những đứa con chị Út Tịch. Từ cuối năm 1965, vì yêu cầu công tác, mẹ Út dẫn các con về Gò Quao (Kiên Giang) dựng chòi sinh sống, còn ba Tịch cùng người chị thứ tư là Lâm Thị Mỹ Thanh vẫn ở lại Tam Ngãi.

Để rồi như một định mệnh, chị Út Tịch hi sinh ngay tại căn chòi ở Gò Quao trong lần sum vầy hiếm hoi, sau nhiều năm đàn con chia đôi ngả theo má, theo ba đi đánh giặc.

Đợt đó là tháng 11-1968, chị Út nghỉ công tác để sinh bé út (Lâm Thị Xuân Hồng), anh Tịch cắt phép qua thăm, cả nhà sum vầy chỉ còn thiếu mỗi Mỹ Thanh vẫn ở lại Tam Ngãi. Nhưng buổi sáng đó, khi bé Ba đang luộc hành cho má ăn dưỡng sinh, anh Tịch đang hâm lại cá kho cho bữa sáng của đàn con thì loạt bom B52 cắt ngay giữa chòi.

Chị Út chết ngay trong loạt bom đầu tiên đó, với một miểng bom làm bay mất chóp trán và cắt nát phần ngực trái. Vừa dứt loạt bom đầu, anh Tịch gom đàn con tính đưa xuống hầm bí mật thì một loạt bom nữa lại cắt xuống.

Lần này, người con gái thứ năm Lâm Thị Mỹ Tho gục ngay bên thi thể mẹ. Hiển lồm cồm bò dậy cũng bị một miểng bom cắt ngang bụng, lòi cả ruột ra ngoài.

Riêng bé út, mới sinh được 14 ngày, dù bị hơi bom quăng xa hơn chục mét, vùi trong đống cây lá nhưng nhờ có “mụ đỡ”, khóc ré lên và được ba đến moi lên, thoát chết.

Trận B52 oan nghiệt không chỉ bắt “người mẹ cầm súng” phải vắng nhà vĩnh viễn, mà từ đó những đứa trẻ con người mẹ ấy phải chia lìa mỗi người một phương. Hiển “ngọng” được ba đưa về Thứ 11 (nay thuộc huyện An Minh, Kiên Giang), rồi sau đó vô căn cứ R20 (Kiên Giang) năm 1970.

Năm 1971, Hiển lại về An Giang rồi được đưa qua Campuchia, theo đường Trường Sơn đi bộ ra đến miền Bắc vào cuối năm 1972.

Lúc này, người chị thứ sáu Kim Anh cũng được ra Hà Nội, nhưng hai chị em mỗi người đi theo một tuyến nên ra đến nơi mới mừng tủi gặp lại nhau kể từ sau ngày mẹ mất.

Chín người con còn lại sáu. Những người con còn lại của chị Út Tịch đứa ngược về Cần Thơ, đứa xuống Bạc Liêu, Cà Mau… cơm nhờ, bú thép trong những cơ sở cách mạng mà mấy chị em vẫn gọi là ông bà nội, ngoại. Tứ tán và bặt tin nhau cho tới ngày thống nhất.

Tiếp nối 45 năm mẹ vắng nhà

Làng quê Tam Ngãi giờ yên bình, xanh mướt cây trái từ nhà ra tới mé sông Hậu. Những người già ở Tam Ngãi cùng thời với chị Út thiệt thà nói rằng cái “vật đổi sao dời” lớn nhất của xứ này chính là con đường mang tên Nguyễn Thị Út (tên thật của chị Út Tịch) chạy cắt qua trước ngôi nhà của địa chủ Hàm Giỏi khi xưa.

Nơi đó, chị Út đã đi ở đợ “từ khi chưa biết mặc quần”. Biết nung nấu căm thù, đánh trả sự áp bức của nhà Hàm Giỏi với câu nói “nó đánh mình, mình đánh nó”, rồi được mấy chú, mấy cô “chấm” cho vô cách mạng.

Bầy con sáu đứa còn lại của chị Út, sau những tháng năm ly tán đã trở về đây. Bốn người dựng nhà ở Cầu Kè, chị Bé Ba và chị Kim Anh cũng ở Vĩnh Long ngay cạnh, có chuyện ới nhau cái là về Tam Ngãi.

Anh Lâm Thanh Hùng, người con thứ tám của chị Út Tịch, kể sau ngày hòa bình, mấy chị em phải gom nhau từ tứ xứ mới đủ mặt.

Trở về Tam Ngãi, không có nổi cục đất chọi chim, căn nhà với cây dừa cao, có dây trầu quấn quanh trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thi là ở nhờ người cậu họ.

Bởi vậy, mỗi người cứ chọn lấy một góc đất hoang cạnh những nơi ngày xưa ba má hay lại qua mà dựng chòi. Chị sáu Kim Anh dựng chòi sát khu mộ ông Hàm, em gái út Xuân Hồng cất nhà sát mé chùa Ông Bổn, anh Hùng về lại khu đất ruộng bên nội.

Còn anh Hiển dựng căn chòi hai tấm lá trên miếng đất hoang đối diện nghĩa trang liệt sĩ huyện Cầu Kè để tiện chăm sóc mộ phần ba má đã cất về đây.

Đời ba má đi đánh giặc, đời con lít nhít đi ăn nhờ, bú thép, cái ơn đó mấy đứa con nhà chị Út Tịch không ai nhắc mà tạc dạ.

Ở nghĩa trang liệt sĩ huyện Cầu Kè, mộ phần của chị Út và hai anh hùng khác trong huyện được dành một góc riêng trang trọng, vừa được xây lại to đẹp đều nhau.

Tất cả đều do những đứa con của chị Út Tịch làm lấy. Anh Hùng nói: “Đất này đâu chỉ có má tôi là anh hùng, mình phải chăm lo cho các đồng đội của má như mấy cô bác năm nào từng lo cho chị em tôi”.

Anh Hiển kể sau ngày thống nhất, mấy chị em đã tổ chức nhiều chuyến xuôi ngược về miệt thứ ở Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau… tìm lại những ông bà nội, ông bà ngoại đã cưu mang sáu chị em.

Nhiều quá, không nhớ hết vì khi ở còn quá nhỏ, không tìm hết vì thời gian và chiến tranh, chỉ tìm được sáu gia đình, để lâu lâu mấy chị em và đám cháu lui tới nhận ông bà.

45 năm mẹ vắng nhà, những người con của chị Út Tịch nói những tháng ngày có mẹ, có cha trong trang sách của nhà văn Nguyễn Thi mãi mãi là một câu chuyện đẹp, một ký ức đẹp của cuộc đời mình.

Một ký ức đẹp có lẽ không chỉ của riêng những người con của chị Út Tịch mà cả những ai từng cắp sách đến trường, từng đọc những dòng văn dung dị về những tháng năm vắng nhà của người mẹ cầm súng.

Thuộc lòng từng chữ

Truyện ký Người mẹ cầm súng và truyện ngắn Mẹ vắng nhà được Nguyễn Thi viết lần lượt vào năm 1965 và 1966. Nhưng mãi đến năm 1977, lần đầu tiên những đứa con của chị Út Tịch mới được đọc tác phẩm viết về mẹ mình.

“Cả hai truyện có hơn trăm trang sách nhưng tôi đọc đến hơn một tháng mới xong. Lần đầu đọc được mấy trang tim đã quặn lại…” – anh Hiển kể về thời khắc “gặp lại” má Út, gặp lại chính mình và mấy chị em khi đọc tác phẩm của Nguyễn Thi.

Nhưng sau đó anh thuộc lòng từng chữ của tác phẩm. Ngồi nói chuyện với anh Hiển, đến đoạn nào cần trích dẫn từ tác phẩm anh đều có thể đọc vanh vách, nhớ từng dấu chấm câu.

Anh Hiển cũng là cố vấn nghệ thuật cho đoàn làm phim Mẹ vắng nhà của đạo diễn Nguyễn Khánh Dư bấm máy vào năm 1979 tại huyện Long Hồ, tỉnh Cửu Long cũ (nay thuộc Vĩnh Long).

Suốt mấy tháng làm phim, cứ mỗi chiều sau khi quay xong về nơi ở tại công trường công nông Long Hồ, anh Hiển lại xem từng phân đoạn vừa quay và góp ý cho thật giống bối cảnh mẹ vắng nhà.

Phim đoạt giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1980 và giải thưởng Lọ hoa pha lê tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary (Tiệp Khắc) năm 1980.

*

“Còn cái lai quần cũng đánh”

Câu nói này của chị Út Tịch đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất trong kháng chiến chống Mỹ của người dân miền Nam.

Chị sinh năm 1931, tham gia cách mang từ năm 12 tuổi với vai trò giao liên. Năm 1954, chị cùng chồng là anh Lâm Văn Tịch (người Khmer) không tập kết ra Bắc mà ở lại hoạt động binh vận, đánh nhiều trận, tuyên truyền vận động nhiều binh lính đối phương bỏ ngũ.

Năm 1965, chị Út Tịch được cử đi dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang toàn miền Nam tại Hà Nội, được gặp Bác Hồ và được bầu là Nữ anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

Nhà văn Nguyễn Thi sinh năm 1928 ở Nam Định, tên khai sinh Nguyễn Hoàng Ca. Tuy nhiên, ông được biết đến nhiều nhất với tên Nguyễn Ngọc Tấn, cái tên được khắc lên bia mộ (thực chất là mộ gió khi hài cốt của ông vẫn chưa tìm được) tại nghĩa trang liệt sĩ chúng tôi

Năm 9 tuổi, ông phiêu bạt theo một gánh hát đồng ấu, rồi vào Sài Gòn năm 15 tuổi. Sau đó, ông tham gia cách mạng, vừa cầm súng chiến đấu vừa tham gia hoạt động văn nghệ.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc để công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, đến năm 1962 tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu.

Ông hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong cuộc tổng tấn công xuân Mậu Thân đợt hai vào ngày 24-5-1968. Năm 2000, Nguyễn Thi được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật và đến năm 2011 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguồn: Tuổi Trẻ

Con Chị Út Tịch Bây Giờ Ra Sao?

TP – Đã có mấy thế hệ học sinh từng đọc và nhớ nằm lòng tác phẩm nổi tiếng “Người mẹ cầm súng” của nhà văn Nguyễn Thi. Ba mươi lăm năm sau ngày đất nước thống nhất, có không ít người tự hỏi rằng: Những người con của anh hùng Út Tịch bây giờ ra sao?

Một ngày cuối năm 2009, tôi tìm về xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè (Trà Vinh) để tìm gặp mấy người con của nữ anh hùng Út Tịch.

Suốt con đường dài trên 60 km từ Vũng Liêm (Vĩnh Long) xuôi về Cầu Kè, tự dưng tôi lại nhớ cái anh Hiển ngọng–nhân vật đặc biệt ấn tượng trong “Người mẹ cầm súng”. “Thằng Hiển, hai tuổi rưỡi, ôm súng của mẹ, ngọng líu hát:

Anh eng ta như ạn con ùi…

Nhà Lâm Thanh Hiển ở đối diện cổng nghĩa trang liệt sĩ huyện Cầu Kè và đây cũng là nơi hai vợ chồng Nguyễn Thị Út- Lâm Văn Tịch an nghỉ vĩnh hằng.

…Ngồi trước mặt tôi là “thằng Hiển ngọng” bằng da, bằng thịt giờ đã là một trung niên ngấp nghé tuổi 50. Màu da ngăm đen sạm nắng, rất ấn tượng, lại thêm khuôn mặt hơi lạnh lầm lì ít nói, khác hẳn với “thằng Hiển ngọng” líu ngày xưa từng khiến người đọc cười rũ rượi.

Tôi phục anh Hiển sát đất vì thuộc làu làu đoạn nói về cha mẹ cưới nhau trong tác phẩm Người mẹ cầm súng: “Một buổi sáng, Út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt mũi hiền khô đến nhà nói với má:

– Con Út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng được, chị gả cho nó đi. Út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi. Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ-me. Sau đó cả tiểu đội anh Tịch đến đóng nhà Út, Út rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đánh banh, vật lộn cho anh Tịch chê, vì đàn bà con gái mà chơi những trò đó thì quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn không chê”.

Năm 1961, người con thứ năm là Lâm Thanh Hiển ra đời.

Chị Út Tịch. Ảnh: T.L

Kể cũng lạ, một phụ nữ gan dạ, như chị Út Tịch vừa đánh giặc vừa đẻ con sòn sòn đúng là xưa nay hiếm. Cô con gái lớn nhất là Lâm Thị Bé (Bé Ba)- nhân vật chính, thay mẹ ẵm  bồng, chăm sóc cho một đám em, từng công tác tại Quân y viện 121, giờ là bà chủ khách sạn ở thành phố Vĩnh Long. Cô kế Lâm Thị Mỹ Thanh sống ở TX Trà Vinh kinh doanh buôn bán. Cô Lâm Thị Kim Anh sinh sống ở Hòa Ân –Cầu Kè quê nội. Trước đây, Kim Anh từng công tác ở Hội phụ nữ huyện Cầu Kè.

Em của Hiển có Lâm Thanh Hùng và cô út Lâm Thị Xuân Hồng. Còn có một cô Lâm Thị Đồng Xuân đã mất từ nhỏ. Vợ của Hùng là cô Phạm Thị Rết, cô chủ đưa đò qua sông Rạch Lá nối bến Bà Mi với ấp Ngãi Nhì- Tam Ngãi.

Chính tại bến Bà Mi năm xưa, mẹ chồng cô đã viết nên những kỳ tích lịch sử. Nhìn thấy cô Rết đưa đò, lại nhớ đến hình ảnh những con sóng như con bò chồm lên,  Út Tịch bị đắm đò, tay nắm đứa con nhỏ đưa lên cao, tay đẩy xuồng cho hai đứa lớn bám vào. Lên bờ còn chọc lét cho con cười…

Hai vợ chồng Hùng có hơn sào đất trồng bưởi, cam, nuôi cá và chạy thêm xe ôm nên cuộc sống cũng tạm ổn. Căn nhà anh đang ở là nhà tình nghĩa, di ảnh của ba mẹ, mấy chị em ai cũng thờ không riêng gì Hùng.

Nếu như ngày xưa, Bé Ba thay mẹ ẵm bồng các em, rồi còn đi giao liên thì ngày nay, cũng chính Bé Ba là người “đỡ đầu” cho các em và cháu là con của Hiển, Hùng, Kim Anh làm việc tại Vĩnh Long.

Xuân Hồng (đã có gia đình ở tại Cầu Kè), là cô bé út sinh ra được 14 ngày, thì mẹ hy sinh tại Gò Quao- Kiên Giang do bom B.52 Mỹ ném ngày 27-11-1968.

Anh Hiển cùng Hùng với hai con gái

Năm 1970,  Hiển và Kim Anh được Quân khu 9 bí mật đưa ra Hà Nội. Trước khi đi hai chị em không hề biết gì cả, mãi đến khi tập trung tại trường học sinh miền Nam số 8 ở Tam Đảo, mới gặp nhau.

Ngày 14-5-1974, huyện đội phó Cầu Kè, anh Lâm Văn Tịch hy sinh tại quê nhà- hai con của anh đang ở Hà Nội được Đảng và Nhà nước cho sang Liên Xô để học không hay tin cha mất. Còn các người con khác ở quê nhà, gởi tứ tán các cơ sở nuôi nên cũng không hay biết tin cha hy sinh.

Anh  Hùng kể lại: Từ khi sinh ra, má tui “như mèo tha con đi gởi” khắp nơi. Có gần hai chục nơi tôi đã ở, nửa đêm thức dậy có người đưa xuống xuồng đi nơi khác. Trong đầu lúc nào cũng nhớ câu mấy cô chú dặn: “đây là ba, đây là mẹ, đây là bà ngoại, ông nội… nuôi”.

Tui có đến mấy chục ba má, ông bà không thể nào nhớ hết được. Sau ngày giải phóng, tìm được có mấy nhà ba má nuôi, còn lại không tìm ra nổi.

Anh Hiển là nhân vật “kè kè bên má” mà anh ví như “băng đạn quấn quanh thắt lưng má Út”. Anh kể lại : Má tui thường để cho con ngủ say vùi nửa đêm, mới lén xuống vỏ lãi chạy đi đánh giặc.

“Kỷ niệm sâu sắc nhất về má trong đời tôi cũng là kỷ niệm cuối cùng mà không bao giờ tôi quên được:  Lần đó, hai má con ngủ chung đến nửa đêm, má lén dậy hun tui một cái rồi nhẹ nhàng lấy đai thắt lưng, cắp súng nhảy xuống vỏ lãi. Tôi tỉnh dậy, chạy băng băng theo bờ kinh đón đầu. Đến cây cầu khỉ, tui nắm hai tay vào thanh cầu, thả người thòng xuống kinh, thế nào má tui thấy cũng dừng lại.

Quả nhiên khi vỏ lãi băng qua, nghe tiếng khóc kêu của con trai, Út Tịch dừng lại, bế con chạy quay trở lại nhà. Hai mẹ con ôm nhau khóc suốt, rồi  dỗ dành, năn nỉ con ngủ để mẹ đi đánh giặc, mấy hôm lại về. Ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng, mẹ ra đi vĩnh viễn không bao giờ về nữa…” kể đến đây, đôi mắt của Hiển đỏ hoe.

Tháng 9-1975,  Kim Anh và  Hiển từ Liên Xô trở về, mấy chị em gom nhau lại vì có người chưa nhớ, chưa biết mặt nhau bao giờ. Bỗng dưng nhớ lại câu nói của Hùng: má tui như mèo tha con gởi khắp nơi… mà thấy đắng lòng.

Cuộc đời của nữ Anh hùng Út Tịch đi đánh giặc triền miên, đàn con tứ tán, tìm hơi ấm trong vòng tay những đồng chí, đồng đội.

Năm 1977, Hiển và Hùng tiếp tục học trường Thiếu sinh quân Quân khu 9. Rời trường Thiếu sinh quân, Hiển làm việc ở Thuế vụ tỉnh Cửu Long cũ, rồi làm cảnh sát giao thông  đến khi tách tỉnh anh nghỉ việc.  

Căn nhà Hiển đang ở là chỗ tạm, vợ anh Hiển là Nguyễn Thị Mỹ Thu bán nước giải khát và kinh doanh mấy cái phòng trọ kế bên nhà. Anh Hiển bảo: Thu nhập gia đình đủ nuôi mấy đứa con qua ngày.

Đã có dự án Khu tưởng niệm chiến tích oai hùng của nữ Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Út và Đảng bộ nhân dân Tam Ngãi trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Tam Ngãi, Cầu Kè.

Công trình dự kiến xây dựng trên diện tích 14.300m2 với 15 hạng mục với tổng kinh phí 12,6 tỷ đồng.

Thế nhưng đến nay, dự án vẫn còn nằm trên giấy.

Và câu chuyện về mấy người con của anh hùng Út Tịch mỗi người, mỗi cảnh cứ chung chiêng như chiếc vỏ lãi trên sông nước thuở nào.

Trân Châu

Những Stt Hay Về Nỗi Nhớ Quê Hương Da Diết Của Đứa Con Xa Quê

Tôi xa quê tìm tự do cuộc sống, tưởng mau quên những năm tháng đọa đày. Nhưng nỗi đau nhắc nhở hoài ác mộng, kéo tôi về với quá khứ chua cay.

“Quê hương” hai tiếng thân thương mà khi đi xa thấy nhớ, khi gần lại chẳng nỡ xa. Tôi chẳng định nghĩa chính xác được hai tiếng Quê hương, chỉ biết rằng với tôi Quê hương như tiếng gọi đầu lòng. Nơi có người thân tôi đang sống, nơi đầy ắp kỉ niệm của Tuổi thơ tôi mỗi chiều lộng gió.

Quê hương xinh đẹp và nên thơ khiến những người con xa quê luôn phải thổn thức tình yêu quê với nỗi nhớ, nhớ từng cành cây, ngọn cỏ, nhớ con kênh đục màu phù sa, nhớ hàng hàng những cánh đồng màu mạ non xanh mươn mướt kéo xuống cả bầu trời trong xanh, hòa quyện ánh mai của một ngày hè tươi sáng…

Gió cứ mang cánh diều lên cao, thời gian cứ vô tình mang tôi đi xa Tuổi thơ, và rồi ở một phương trời mới nỗi nhớ trong lòng tôi trào dâng bất tận. Tôi nhớ Quê hương…

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Ấm áp làm sao, khi ta được đứng giữa những gì tươi đẹp nhất, tự do nhất, gần gũi nhất. Và dường như ta đang say bởi chính ta đang được hít hà những men hương đồng gió nội mà có lẽ từ rất lâu rồi ta có như một mảnh ghép đã gắn chặt trong trái tim này…

Sáng nay, nỗi nhớ chợt trào dâng, Nhớ quê, ừ thì là nhớ, mà nhớ quê, nhớ nhà, nhớ tất cả những gì thuộc về gia đình, nơi có “men say” của đời tôi – mỗi lần trở về lại gợi bao nhớ bao thương, bao nỗi niềm thổn thức… Nhớ!

Mọi thứ đều thay đổi theo thời gian, cảnh vật con người và mọi thứ xung quanh ta đều thay đổi. Duy chỉ có tấm lòng yêu thương quê hương là mãi mãi không thay đổi theo thời gian. Và hôm nay tôi nhớ quê hương, nhớ gia đình nhỏ của mình.

Nhớ quê hương, nơi có những người mà ta yêu thương, là cha mẹ, là anh chị em rượt thịt, là người yêu ta hằng thương nhớ. Ở quê hương, là tất cả những người mang tình cảm của mình đặt trong tâm ta, dù đi đâu về đâu, ta vẫn luôn nhớ đến.

Xa quê, thấm đượm nỗi nhớ da diết khi nhìn thấy hình ảnh cánh đồng quê phát trên truyền hình nơi xa xôi này, muốn ngửi lại một chút mùi thơm ngòn ngọt, ấm ấm của hạt lúa non mà trước đây ngày ngày đi học về lúc nào cũng xông ngào ngạt vào mũi tưởng chừng như quá quen thuộc.

Thương đêm trăng rằm soi lối

Âm thanh dầm giã gạo chày đôi

Đẹp lắm quê hương thôn trăng tuyệt vời

Câu hát thay lời tình quê ngọt bùi

Dù xa xôi nhớ ngày trong nôi

Nghe tình quê hương gọi mãi trong đời

Hôm nay, ta nhớ nhà, nhớ cái cảm giác ngồi bên bếp lò ấm lửa khi đông về. Có lẽ ngày đó còn nghèo nên nhà nào cũng có cả một gầm giường đầy khoai, ngô.

Cái mùi của quê hương hôm nay, cứ thoang thoảng trong nỗi nhớ của tôi. Tôi thấy nó trên những chiếc xe ba gác cùng những nồi ngô, khoai nướng đỏ rực bên lề Hà Nội. Hà Nội đẹp là thế, thanh lịch là thế, nhưng cũng không thể phủ nhận cái làm cho Hà nội trở nên khác lạ, chính lại là mùi quê của tôi thoang thoảng bên vỉa hè.

Hôm nay, khi cơn gió lạnh đầu đông vừa về, làm tôi thấy nhớ quê tôi lắm. Tôi nhớ ngày cùng mẹ tắm nắng đầu đông bằng vài ba gánh ‘Phân’ bón ruộng. Nó khiên tôi như điên dại với sức nặng đè lên đôi vai gầy. Không hiểu sao, khi đó tôi mệt nhưng vẫn thích lắm.

Ôi, ước ao được ăn những chiếc chân gà khi có khách. Thích được ngồi ghế trên với các cụ, thích được nhấm nháp những ly rượu cay nồng mà Ba vẫn khen ngon, chà chép, rượu à khi nếm trải.

Xa nhà, ta lại càng trân quý hơn những giờ phút được ở gần gia đình mình trong những ngày ngắn ngủi “nhảy” xe về thăm quê. Mỗi chúng ta hiểu hơn những lo toan, những yêu thương, những quan tâm của bố mẹ… Ta xót xa hơn khi nhìn thấy một sợi tóc bạc trên mái đầu cha, thấy buồn lòng hơn trước một nếp nhăn trên gương mặt mẹ…

Ra đi cánh gió phương trời lạ

Vẫn nhớ non sông một mái nhà

Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp

Quê nhà một góc nhớ mênh mang.

Tôi yêu Quê hương vì đó là nơi tôi sinh ra và lớn lên, nơi gắn bó với tôi suốt cả một đời, nơi chất chứa cả một miền kí ức bất tận. Bởi vậy mà khi đi xa người ta thường nhớ Quê hương. Vì nhớ về Quê hương là nhớ về những gì thân thương nhất.

Hai tiếng Quê Hương sao mà thân thương, lớn lao quá đỗi. Thương biết bao những mái nhà ngói cũ phủ rêu xanh, những bếp tranh nghèo mỗi buổi chiều khói nghi ngút. Rồi thời gian cứ thế lặng lẽ trôi. Quê hương như dòng máu nóng, thấm sâu vào huyết quản, bằng hơi thở tình yêu và sức sống, quê hương là nơi nuôi chúng ta khôn lớn.

Quê hương là nhà, là nơi chứa đựng kỉ niệm, là nơi ở của những người thân yêu nhất của ta. Quê hương là gốc gác, là cội nguồn của mỗi người. Có gốc thì mới thành nhân. Do đó, nỗi nhớ quê hương cao vượt hơn hết thảy, là điểm không thể quên ở mỗi người.

Quê hương không phải chỉ là những điều lớn lao. Quê hương còn là nơi chứa đựng những kí ức nhỏ bé mà thân thương. Quê hương đôi lúc cũng chưa đựng cả những nỗi khổ cực vất vả ngày xưa. Tuy nhiên, dù thế nào, quê hương vẫn là nơi đẹp nhất của mỗi người.

Lời kết: Quả thực, thế gian rộng lớn, bao la, ở đâu đâu ta cũng có thể chọn làm điểm đến. Tuy nhiên, trong lòng ta, dù đi xa đến đâu, đi nhiều nơi như thế nào, thì chỉ có một nơi được gọi là nhà – đó là nơi mà ta sinh ra, là nơi chứa đựng kí ức tuổi thơ. Quê nhà là nơi duy nhất mà ta dù đi đâu đi nữa cũng sẽ chọn để quay về.

Stt Buồn Của Đứa Con Xa Nhà Không Được Về Quê Đón Tết Cùng Gia Đình

Một mùa xuân nữa lại đến rồi. Những ngày này chắc hẳn quê mình đông vui và nhộn nhịp sắm tết phải không mẹ? Nhiều lúc con thèm được cái cảm giác giá buốt nơi đầu ngón tay trong những ngày mẹ đi cấy, thèm những bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm bên bếp lửa mùa đông những lúc xế chiều, thèm nghe tiếng gọi của mẹ, mà sao thấy khó quá mẹ ơi!

Cha mẹ ơi! Con nhớ nhà lắm, con cố gắng không khóc nhưng sao nước mắt lại rơi, đôi mắt cay xè. Con không biết phải bao nhiêu năm nữa mình mới được cảm nhận không khí Tết ở quê nhà. Nơi đây, con chẳng biết tết là gì, một ngày ở đây cũng giống như bao ngày bình thường khác, chỉ có công việc thôi.

Thời gian trôi nhanh thật, lại sắp sửa đón tết. Thủ Đô những ngày này cũng thật an yên đến lạ. Người người vội vã nhảy chuyến xe cuối để nhanh chóng về quê đón tết cùng gia đình. Các cửa hiệu cũng đã đóng cửa để cho nhân viên nghỉ tết. Một không gian trầm tĩnh, một con đường quen thuộc. Và những bước chân lẻ loi cô đơn dạo bước. Cứ thế mải miết đầy vô định. Năm nay phải trực mà chẳng thể về quê đón cái khoảnh khắc giao thừa với gia đình. Những phút giây thế này lòng con yếu đuối đến bất tận. Chỉ muốn òa lên khóc, khóc cho thỏa nỗi lòng cay đắng, nhọc nhằn. Cuộc sống mưu sinh vất vả khiến con phải đánh đổi quá nhiều. Nghẹn lòng đến xót xa.

Mẹ ơi hãy cho con thất hứa một lần này. Ở nơi đây không khí tết tưng bừng khiến con nhớ mẹ nhiều hơn. Nhưng vì nhiệm vụ công tác xuân này con không về được với mọi người. Nơi đất khách quê người một tấm thân gầy mải miết mưu sinh, tất bật đón tết, chuẩn bị sao cho khỏi chạnh lòng. Cơm ấy, gà ấy, xôi ấy hành ấy bánh trưng nữa đủ cả nhưng sao con vẫn thấy thiếu, thiếu tình thương ấm áp quê nhà. Con nhớ những khi giao thừa được bố mẹ mừng tuổi chúc may mắn, nhớ mùi gạo nếp mẹ đồ. Con nhớ mọi người, nhớ cả các em nhưng lại chẳng thể về được. Ngồi cô đơn nơi đây con chỉ biết lấy nước mắt làm động lực cố gắng để năm sau sớm được đoàn tụ còn mọi người. Con yêu mọi người.

Tết này con chẳng về được. mẹ ơi! Muốn lắm mà con không thể Xót lắm nỗi nhớ xa quê Mỗi ngày trong trái tim càng da diết Nhớ quá không khí trong nhà Nhớ quá tiếng pháo giao thừa Nhớ lúc thức khuya cùng nồi bánh chưng của bà. Nhớ quá câu chúc câu cười Của những ngày đầu năm mới Tết này con chẳng về được, mẹ ơi!

Mẹ hỏi con Tết này có về không?Con ngậm ngùi vài giây rồi tắt máyMẹ biết không con sợ nghe câu này, sợ biết mấyKhi chúng bạn được về, con lủi thủi một mình đón Tết xa quê.Con muốn được về cùng mẹ lắm mẹ ơiCùng đứa em tước lá mai, sửa sang nhà cửaCon sẽ phụ ba dọn lại mảnh sân vườn mà hôm nào con hứaVậy mà con đành lỡ hẹn, chắc mẹ buồn lắm đúng không?

Với người ta ba ngày Tết là để đoàn tụ quây quần bên nhau, còn gia đình mình li tán, lẻ loi. Mấy Tết rồi, đâu còn đông đủ tiếng nói cười của cả nhà? Anh chị con cũng vì cuộc sống mưu sinh mà bỏ lỡ biết bao giây phút quý giá những ngày Tết đầm ấm. Con sẽ xót lắm, ánh mắt chiều ba mươi của mẹ muộn phiền. Mặc dù biết mỗi Tết, ít nhất một đứa không về nhưng mẹ cứ đi vào đi ra, trông ngóng. Nhớ ngày trước khi anh con không về Tết, ăn món gì ngon ngon một chút mẹ lại nhắc tới anh rồi nước mắt chảy ròng. Và Tết này lại là con nữa. Mẹ ơi, tim con đau quá!

Càng đến ngày tết, con càng nhớ ba nhớ mẹ, nhớ những ngày tết quây quần bên gia đình. Miền trung quê mình khí hậu khắc nghiệt nên kinh tế còn nhiều khó khăn. Nhưng tình người rất ấm áp. Mùa đông hơi se lạnh có mưa phùn nhưng không khí Tết vẫn rất rộn rã, trẻ con thì xúng xính trong những bộ quần áo mới, người lớn quây quần bên nhau với nhiều chuyện vui, thật đầm ấm…Ở đây, con có cây mai vàng, có câu đối đỏ, có bánh chưng, có bánh tét cũng an ủi con rằng hương vị ngày tết cũng có, chỉ là thiếu cái tình, cái ấm áp bên gia đình mình mà thôi.

Con biết không về mẹ chờ, em trông. Nhưng nếu con về bạn bè thương mong. Bao đứa trai cùng chào xuân chiến trường Không lẻ riêng mình êm ấm? Mẹ ơi, con xuân này vắng nhà.

Đi xa rồi mới thấy thấm, thấy nhớ cái hương vị Tết quê. Mùi thơm ngậy của những chiếc bánh chưng mới vớt ra khói còn bay nghi ngút. Mùi của các loại mứt mẹ làm từ ngày 28 được mang ra bày. Mùi củ hành, củ kiệu trong mâm cơm… Những hương vị giản dị nhưng quen thuộc với mỗi người Việt vào ngày Tết.

Lời kết: Có lẽ, những người con xa quê mới cảm nhận được nỗi nhớ nhà da diết, nhất là trong những ngày lễ tết. Chỉ cần một câu nói, một hành động cũng có thể khiến trái tim họ nhức nhói. Nhưng hoàn cảnh đưa đẩy phải sống xa quê, phải tha hương cầu thực vì một cuộc sống no đủ hơn. Vì vậy, hãy hi vọng cho những người con xa quê một năm mới may mắn, thành công để năm sau có thể sum họp và ăn cái tết thật vui bên tổ ấm có cha có mẹ và những người thân yêu của mình.

Bạn đang xem bài viết Những Đứa Con Của Chị Út Tịch… trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!