Xem Nhiều 11/2022 #️ Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lời Nói, Lời Ăn Tiếng Nói, Xưng Hô / 2023 # Top 14 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 11/2022 # Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lời Nói, Lời Ăn Tiếng Nói, Xưng Hô / 2023 # Top 14 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lời Nói, Lời Ăn Tiếng Nói, Xưng Hô / 2023 mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giao tiếp ăn nói là những kỹ năng cơ bản nhất của con người, tuy nhiên giao tiếp cũng là 1 nghệ thuật đòi hỏi chúng ta cần trau dồi thêm rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân để ngày 1 hoàn thiện hơn vì giao tiếp là 1 việc cực kỳ quan trọng trong việc phát triển bản thân không chỉ trong giao tiếp hằng ngày mà có thể giúp bạn rất nhiều trong công việc và thành công hơn rất nhiều. Ngoài ra giao tiếp lời ăn tiếng nói khi sử dụng với những người xung quanh bạn bố mẹ ông bà bạn bè cũng cần phải có 1 chút khôn khéo để luôn được lòng tất cả mọi người. Những câu ca dao tục ngữ về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô đặc sắc nhất

Các bài viết liên quan tới chủ đề lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô đáng chú ý:

Trong cuộc sống, lời ăn tiếng nói của con người rất quan trọng, những lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô được thể hiện cách ứng xử đối với mọi người. lời ăn tiếng nói là một hình thức thể hiện tình cảm, tính cách và nhân cách của con người trong cuộc sống cũng như trong xã hội. khi con người có lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô đúng mức, đúng chuẩn thì con người sẽ được yêu thương, sẽ được mọi người xung quanh quan tâm và có những đối xử tốt đẹp. còn đối với những người không có lời ăn tiếng nói, lời nói, xưng hô không đúng mực thì bị mọi người xa lánh, bị mọi người không tôn trọng.

Một trong những cách thể hiện về cách xưng hô, về lời nói, lời ăn tiếng nói chính xác, đúng đắn nhất là những câu ca dao tục ngữ về lơi nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô. Những câu ca dao tục ngữ có những cách thể hiện riêng của những câu ca dao tục ngữ, những lời nói trong những câu ca dao tục ngữ được thể hiện rõ ràng, cụ thể và chính xác. Để hiểu rõ hơn về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô chúng ta cùng đi tìm hiểu những câu ca dao tục ngư về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô.

Những câu tục ngữ về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô:

Câu 1:

Trong cuộc sống, lời ăn tiếng nói vô cùng quan trọng, nó thể hiện nhân cách, đạo đức của một con người. câu tục ngữ trên nói rằng khi ăn chúng ta phải nhai thì thức ăn trong bụng mới có thể no lâu, mới có thể hấp thu hết. còn đối với lười ăn tiếng nói, chúng ta cần có những suy nghĩ để có được những lời nói chính xác và phù hợp.

Câu 2:

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời

Lời ăn tiếng nói của con người trong cuộc sống rất quan trong, đó là thước đo để đo nhân cách một con người. câu tục ngữ trên nói rằng cái chuông muốn biết tốt hay không phải thử tiếng kêu, còn con người muốn biết người đó có ngoan hay không là cần phải dựa vào lời nói, xưng hô trong cuộc sống.

Câu 3:

Một câu nhịn bằng chín câu lành

Đây là câu tục ngữ nói về lời ăn tiếng nói, về cách nói chuyện của con người trong cuộc sống. khi cuộc nói chuyện lên cao trào, không có điểm dừng thì chúng ta nên dừng lại, có những sự im lặng để đảm bảo tính an toàn cho cuộc nói chuyện.

Dưới đây, tổng hợp những câu tục ngữ về lời nói, lười ăn tiếng nói, xưng hô:

Lời nói, gói vàng

Có đi có lại mới toại lòng nhau

Kính lão đắc thọ

Tôn trọng người khác cũng là tôn tọng chính mình

Lời chào cao hơn mâm cổ

Kính trên, nhường dưới

Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

Ăn có nhai, nói có nghĩ.

Ăn bớt bát, nói bớt lời.

Đa ngôn, đa quá.

Lưỡi sắc hơn gươm.

Lời nói đọi máu.

Lời nói, không cánh mà bay.

ăn đàn sóng, nói đàn gió

Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Học ăn học nói học gói học mở

Nói một đàng làm một nẻo

Lời nói không đi đôi với việc làm

Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

Một câu nhịn bằng chín câu lành

Những câu ca dao về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô:

Câu 1:

Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

Con người thường bị thuyết phục bởi những lời ăn tiếng nói dịu dàng, những lời nói ngọt ngào. Câu ca dao trên đã thể hiện nên điều đó, con người thương những người ăn nói mặn mà, ăn nói dịu dàng có duyên. Những người có lời ăn tiếng nói thường được lòng mọi người.

Câu 2:

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe

Lời ăn tiếng nói được xem là thước đo nhân cách con người trong cuộc sống, thước đo ấy được sử dụng mọi lúc mọi nơi. Chim khôn thi kêu tiếng rảnh rang, người khôn thì nói tiếng dịu dàng,dễ nghe sẽ được mọi người quý mến và yêu thương.

Câu 3:

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Lời nói là một hành động để đánh giá một con người, lời nói ấy giữa con người với con người với nhau rất dễ, nhưng đôi khi cũng xảy ra những xung đột chính vì thế mà chúng ta cần lựa lời nói cho toại lòng tất cả mọi người.

Dưới đây, tổng hợp những câu ca dao về lời nói, lời ăn tiếng nói, xưng hô:

Đất tốt trồng cây rườm rà

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

Người thanh tiếng nói cũng thanh

Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Nói chín thì phải làm mười

Nói mười làm chín kẻ cười người chê

Người khôn ăn nói nửa chừng

Để cho người dại nửa mừng nửa lo

Rượu lạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

Sảy chân, gượng lại còn vừa,

Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

Người ngu ăn nói chua lè mắm tôm

Hoa thơm ai chẳng nâng niu

Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Ngày thường chả mất nén hương

Đến khi gặp chuyện ôm lưng thày chùa

Cười người chớ vội cười lâu

Cười người hôm trước hôm sau người cười

Hoa thơm ai chẳng nâng niu

Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

Đất tốt trồng cây rườm rà

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

Thổi quyên, phải biết chiều hơi,

Khuyên người, phải biết lựa lời khôn ngoan.

Rượu nhạt, uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

Roi song đánh đoạn thời thôi,

Một lời xiết cạnh, muôn đời chẳng quên.

Ăn lắm, thì hết miếng ngon,

Nói lắm, thì hết lời khôn hóa rồ.

Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều,

Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

Người khôn, tiếc lời.

Vàng thời thử lửa, thử than,

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

Người thanh, tiếng nói cũng thanh,

Chuông kêu, khẽ đánh bên thành cũng kêu.

Sảy chân, gượng lại còn vừa,

Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

Vàng sa xuống giếng, khôn tìm,

Người sa lời nói, như chim sổ lồng.

Đất xấu, trồng cây ngẳng nghiu,

Những người thô tục, nói điều phàm phu.

Nói người, chẳng nghĩ đến ta,

Thử sờ lên gáy, xem xa hay gần

Lời nói không mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Lên xe nhường chổ bạn ngồi

Nhường nơi bạn dựa nhường lời bạn thưa

Trong giao tiếp ăn nói thì việc xưng hô cũng rất quan trọng, vấn đề này thì chúng ta cần phải sử dụng kinh nghiệm để sử dụng sao cho hợp lỳ sao cho vừa tôn trọng mọi người nhưng cũng làm vui lòng người nói. QUa những câu tục ngữ ở trên các bạn cũng có thể hiểu hơn về nghệ thuật cũng như những nguyên tắc cơ bản của giao tiếp trong cuộc sống ở các trường hợp khác nhau trong cuộ sống. CŨng có rất nhiều cuốn sách khác nhau về nghệ thuật ăn nói giao tiếp trong công việc trong môi trường hằng ngày mà các bạn cũng có thể tìm đọc. Việc giao tiếp thì chúng ta sẽ cần phải thực hành rất nhiều mới có thể hoàn chỉnh hơn. Nếu có thêm các câu tục ngữ ca dao nào về giao tiếp các bạn vui lòng commetn phía dưới để wikivui bổ sung thêm vào bài viết để mọi người cùng biết nhé.

Lời Ăn Tiếng Nói Trong Tục Ngữ Ca Dao / 2023

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÂN TỪnhiệt liệt chào mừng các thầy cô giáo và các em học sinh về dự chuyên đềMôn ngữ vănGiáo viên thực hiện: Lê Thị Như HoaLời ăn tiếng nóitrong tục ngữ – ca daoA. Lời ăn tiếng nói là vẻ đẹp của con người, là phương tiện thể hiện nội tâm.” Một thương tóc bỏ đuôi gàHai thương ăn nói mặn mà có duyên.Bảy thương nết ở khôn ngoanTám thương ăn nói lại càng thêm thương”Gió đưa mười tám lá meMặt rỗ hoa mè, ăn nói có duyênThương chàng lắm lắm chàng ơiNhớ miệng chàng nói, nhớ lời chàng than ” Nói gần nói xa chẳng qua nói thật”.* Lời nói đẹp là lời nói thanh ( không tục )* Lời nói đẹp là lời nói đúng sự thật , không ba hoa tô vẽ, không vòng vo , rắc rối.” Người thanh tiếng nói cũng thanhChuông kêu sẽ đánh bên thành cũng kêu”* Lời nói đẹp là lời nói dịu dàng.* Lời nói đẹp là lời nói có duyên.” Chim khôn kêu tiếng rảnh rangNgười khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe “.” Một thương tóc bỏ đuôi gàHai thương ăn nói mặn mà có duyên “.ii. Những ảnh hưởng của lời nói trong cuộc sống* Lời nói làm cho người ta si mê:Chim khôn chết mệt vì mồiNgười khôn chết mệt vì lời nhỏ to.* Lời nói đem lại niềm phấn khởi: ” Được lời như cởi tấm lòng” hoặc gây ra nỗi xót xa:” Dao vàng cắt ruột máu rơiRuột đau chẳng mấy bằng lời em than.”* Lời nói có thể đem lại lợi ích vật chất, hoặc cũng có thể gây xích mích bất hòa:– Một lời nói quan tiền thúng thóc.– Một lời nói dùi đục cẳng tay.* Ghê gớm hơn, nó có thể gây thù chuốc oán, có khi gây bùng nổ can qua:– Một lời nói một đọi máu.– Khẩu thiệt đại can qua.* Trong đời sống tình cảm,lời nói tác động sâu sắc dai dẳng suốt chiều dài thăm thẳm của đời người:” Dế kêu cho giải cơn sầu Mấy lời em nói bạc đầu chưa quên”III. Lời nói – phương tiện giáo dục hiệu quả.” Người khôn không nỡ roi đònMột lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay” ” Sẩy chân còn hơn sẩy miệng”. ” Sẩy chân gượng lại cho vừaSẩy miệng còn biết đá đưa đường nào”* Thay cho roi vọt và những lời thét mắng thô lỗ cục cằn– ” Học ăn, học nói, học gói, học mở”– ” Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” ” Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”– ” Ăn nhai nói nghĩ “iv. Phương châm nói năng trong tục ngữ – ca dao.* Trong nói năng cần chú ý tính chất ngắn gọn, cô đọng, súc tích. Kiệm lời là phương châm hết sức quan trọng. Ăn bớt bát, nói bớt lời. Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời Miếng ngon ăn ít ngon nhiềuNgười khôn dẫu nói nửa điều cũng khôn.* Nói thừa – một điều tối kị trong giao tiếp– Nói dài, nói dai, nói dại Ăn lắm thì hết miếng ngonNói lắm thì hết lời khôn hóa rồ. Rượu nhạt uống lắm cũng sayNgười khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.Cái răng cái tóc là góc con người. Lời ăn tiếng nói cũng là góc con người, một góc rất quan trọng nữa. Do vai trò to lớn của nó cho nên từ bao đời nay nó đã được quan tâm, được đúc kết và gìn giữ trong những câu ca dao tục ngữ. Với chúng ta ngày nay, biết ăn nói lịch sự văn minh là yêu cầu quan trọng của con người có văn hóa. Dù làm nghề nghiệp gì, dù ở cương vị nào của xã hội mỗi người không thể không chú ý nói ý đẹp lời hay. Lời ăn tiếng nói là của mỗi cá nhân, nhưng nó lại góp vào trình độ văn hóa nói chung của dân tộc. Muốn nâng cao văn hóa của lời nói phải học ăn học nói.” Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được”Hồ Chí MinhKính chúc các thầy cô giáo và các em mạnh khoẻ

Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ Về Chữ Ăn / 2023

Các Câu Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ về chữ ĂN

Ăn Bắc nằm Nam

Ăn bánh trả tiền

Ăn bánh vẽ

Ăn bát cháo chạy ba quãng đồng

Ăn bát cơm đầy nhớ ngày gian khổ

Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi

Ăn bát cơm nhớ công ơn cha mẹ

Ăn bát mẻ nằm chiếu manh

Ăn bát Đại Thanh nằm chiếu miếng Ăn bất thùng chi thình Ăn bậy nói càn

Ăn bền tiêu càn

Ăn biếu ngồi chiếu cạp điều Ăn biếu ngồi chiếu hoa Ăn bơ làm biếng

Ăn bốc ăn bải

Ăn bòn dòn tay

Ăn mày say miệng

Ăn bóng nói gió

Ăn bớt bát nói bớt lời Ăn bớt cơm chim

Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày Ăn bữa hôm lo bữa mai Ăn bừa mứa (bừa bứa) Ăn bữa sáng dành bữa tối (lo bữa tối) Ăn bữa trưa chừa bữa tối Ăn bún thang cả làng đòi cà cuống Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước. Ăn cá bỏ lờ

Ăn cả cứt lẫn đái

Ăn cà ngồi cạnh vại cà Lấy anh thì lấy đến già mới thôi Ăn cá nhả xương ăn đường nuốt chậm Ăn cái rau trả cái dưa Ăn cầm chừng

Ăn cam nằm gốc cây cam Lấy anh thì lấy, về Nam không về Ăn cám xú

Ăn cận ngồi kề

Ăn càn nói bậy (nói bừa) Ăn canh cả mặn

Ăn canh không chừa cặn Ăn cắp ăn nẩy

Ăn cắp như ranh

Ăn cắp quen tay Ngủ ngày quen mắt Ăn cắp vặt

Ăn cáy bưng tay

Ăn cây nào rào cây nấy Ăn cây sung ngồi gốc cây sung Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm Ăn cây táo rào cây sung (xoan) (táo) (nhãn) Ăn cay uống đắng

Ăn chắc để dành

Ăn chắc mặc bền (mặc dày) Ăn chẳng (Ăn chả) bõ nhả Ăn chẳng có khó đến mình (đến thân) (đến lần) Ăn chẳng đến no lo chẳng đến phận Ăn chẳng hết thết chẳng khắp Ăn chẳng nên đọi nói chẳng nên lời Ăn chanh ngồi gốc cây chanh Khuyên cội, khuyên cành, khuyên lá, khuyên bông Khuyên cho đó vợ đây chồng Đó bế con gái, đây bồng con trai

Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (2) Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3) Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà. Bây giờ chê xấu chê xa, Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn. Ở đâu yểu điệu thanh tân, Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả, Cầm cân đi lừa lại phải thau năm! Thau năm đánh lẫn vàng mười Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn.

Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (4) Lấy anh thì lấy, về Thanh không về Ăn cháo báo hại cho con Ăn cháo đá bát (đái bát) Ăn cháo để gạo cho vay Ăn cháo lá đa

Ăn cháo lú (cháo thí) Ăn chắt để dành

Ăn châu chấu ỉa ông voi Ăn chay nằm đất

Ăn chay niệm Phật

Ăn cho buông so

Ăn chó cả lông Ăn hồng cả hột

Ăn cho đều tiêu cho sòng (cho khắp) Ăn cho no đo cho thẳng Ăn chơi cho đủ mọi mùi Khi buồn thuốc phiện, khi vui nhơn tình Ăn chơi cho hết tháng Hai Để làng vào đám cho trai dọn đình Trong thời trống đánh rập rình Ngoài thời trai gái tự tình cùng nhau

Ăn chơi khắp bốn phương trời Cho trần biết mặt, cho đời biết tên Ăn chưa no lo chưa tới Ăn chưa sạch bạch chưa thông Ăn chưa tàn miếng trầu Ăn chực đòi bánh chưng Ăn chực nằm chờ

Ăn chung mủng riêng Ăn chung ở chạ (ở lộn) Ăn chuối không biết lột vỏ Ăn có chỗ đỗ có nơi Ăn có chủ ngủ có công đường Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau) Ăn có giờ làm có buổi Ăn có mời làm có khiến Ăn cỗ muốn chòi mâm cao Ăn có nhai nói có nghĩ Ăn cỗ nói chuyện đào ao Ăn có nơi làm (ngồi) có chốn Ăn cỗ phải lại mâm

Ăn có sở ở có nơi

Ăn có thời chơi có giờ Ăn coi nồi ngồi coi hướng Ăn cơm ba chén lưng lưng (*) Uống nước cầm chừng để dạ thương em Ăn cơm chưa biết trở đầu đũa Ăn cơm chúa múa tối ngày Ăn cơm chùa ngọng miệng Ăn cơm có canh như tu hành có bạn Ăn cơm có canh tu hành có vãi Ăn cơm gà gáy, cất binh nửa ngày Ăn cơm hom ngủ giường hòm Ăn cơm hớt

Ăn cơm hớt thiên hạ Ăn cơm không rau Như đánh nhau không người gỡ Ăn cơm không rau như đau không thuốc Ăn cơm làm cỏ chăng bỏ đi đâu Ăn cơm lừa thóc ăn cóc bỏ gan Ăn cơm mới nói chuyện cũ Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài (nhà sau) Ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ Ăn cơm nhà nọ kháo cà nhà kia Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng Ăn cơm nhà vác bài ngà cho quan Ăn cơm nhà vác ngà voi Ăn cơm Phật đốt râu thầy chùa Ăn cơm Phật lật đật cả ngày

Ăn cơm nhà bay thẳng tay mà ngủ Ăn cơm sao đặng mà mời Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm Mình ơi đừng đặng cá quên nơm Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời Cóc nghiến răng còn động đến lòng trời Sao mình chẳng tưởng mấy lời em than

Ăn cơm tấm ấm ổ rơm Ăn cơm Tàu ở nhà Tây lấy vợ Nhật Ăn cơm trên nói hớt Ăn cơm với cáy thì ngáy o o… Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy Ăn cơm với mắm phải ngắm về sau Ăn cơm với rau phải ngắm sau ngắm trước Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy Ăn của Bụt thắp hương cho Bụt (thờ Bụt) Mía sâu có đốt nhà dột có nơi Nghèo hèn giữa chợ ai chơi Giàu sang trong núi nhiều người tới thăm

Ăn của chùa phải quét lá đa Ăn của ngon mặc của tốt Ăn của người phải làm việc cho người Ăn của người ta rồi ra phải trả Ăn của người vâng hộ người Ăn của rừng rưng rưng nước mắt Ăn cùng chó ló xó cùng ma Ăn cướp cơm chim

Ăn cứt không biết thối Ăn đã vậy múa gậy làm sao (thì sao) Ăn đã vậy múa gậy vườn hoang Ăn đã vậy nói làm sao Ăn dầm nằm dề

Ăn đàn anh làm đàn em Ăn đằng sóng nói đằng gió Ăn đầu sóng nói đầu gió Ăn đấu trả bồ

Ăn đầy bụng ỉa đầy bồ Ăn đây nói đó

Ăn dè dặt

Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn Ăn dè xẻng

Ăn đến nơi làm đến chốn Ăn đều tiêu sòng

Ăn đi trước lội nước theo sau Ăn đổ ăn vãi

Ăn đỡ làm giúp

Ăn đổ làm vỡ

Ăn dơ ở bẩn

Ăn dò sau cho dò trước Ăn độc chốc đít

Ăn đói mặc rách

Ăn đợi nằm chờ

Ăn đói nằm co

Ăn đời ở kiếp

Ăn đồng chia đủ

Ăn đong cho đáng ăn đong Lấy chồng cho đáng hình dong con mgười! (tấm chồng) Ăn đua cho đáng ăn đua Lấy chồng cho đáng (để gánh) việc vua việc làng Ăn dùa thua chịu (thua giựt) Ăn dưng ở nể

Ăn được ngủ được là tiên Ăn ngủ không được là tiền vứt đi (mất tiền thêm lo) Ăn đứt thiên hạ

Ăn gạo tám chực đình đám mới có Ăn già ăn non

Ăn giả vạ thật

Ăn gian nói dối

Ăn gian nói dối đã quen Nhút nhát như thỏ, bao phen dối người Ăn gio bọ trấu

Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau (theo sau) Ăn gió nằm sương

Ăn gỏi chẳng cần (không cần) lá mơ Ăn gởi nằm nhờ

Ăn ha hả trả ngùi ngùi Ăn hại đái nát

Ăn ham chắc mặc ham dày Ăn hàng con gái đái hàng bà già (bà lão) Ăn hết cả phần cơm chó Ăn hết cả phần con phần cháu Ăn hết đánh đòn ăn còn mất vợ Ăn hết mâm trong ra mâm ngoài Ăn hết nạc vạc đến xương (tới xương) Ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu Ăn hết nước hết cái Ăn hết phần chồng phần con Ăn hiền ở lành

Ăn hóc học nên

Ăn hối lộ

Ăn hơn hờn thiệt Đánh thiệt đuổi đi Làm chi thì làm

Ăn hơn nói kém

Ăn hương ăn hoa

Ăn ít mau tiêu ăn nhiều tức bụng Ăn ít ngon nhiều Ăn đều tiêu sòng

Ăn ít no dai, Ăn nhiều tức bụng

Ăn ít no lâu ăn nhiều mau đói Ăn ít no lâu hơn ăn nhiều chóng đói Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa nghĩ Ăn không biết chùi mép (chùi miệng) Ăn không biết dở đầu đũa (trở đầu đũa) Ăn không biết lo của kho cũng hết

Ăn không biết no lo chẳng tới Ăn không biết no vô lo vô nghĩ Ăn no ngủ kỹ chổng tỷ lên trời Cây cao bóng cả chẳng ngồi Ra đứng chỗ nắng trách trời không râm

Ăn không biết trở đầu đũa Ăn không được đạp đổ Ăn không được phá cho hôi Ăn không được thì bảo rằng hôi Ăn không kịp nuốt

Ăn không kịp thở

Ăn không nên đọi nói không nên lời Ăn không ngồi rồi

Ăn không ngồi rồi lở đồi lở núi Ăn không nói có

Ăn không ra bữa

Ăn không rau như đau không thuốc Ăn không thì hóc chẳng xay thóc cũng bồng em Ăn kiêng ăn khem

Ăn kiêng cữ

Ăn kiêng khem

Ăn kiêng nằm cữ

Ăn kỹ làm dối

Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt đất Ăn kỹ no lâu cày sâu tốt lúa (tốt ruộng) Ăn la ăn lết

Ăn la ăn liếm

Ăn lắm đau bụng

Ăn lắm hay no cho lắm hay phiền Ăn lắm hết ngon nói lắm hết lời khôn Ăn lắm ỉa nhiều

Ăn làm sao nói làm vậy Ăn lắm thì hết miếng ngon Nói lắm thì hết lời khôn, hóa rồ Ăn lắm trả nhiều

Ăn lạt mới biết thương mèo Ăn lấy chắc mặc lấy bền Ăn lấy đặc mặc lấy dày Ăn lấy đời chơi lấy thì Ăn lấy được

Ăn lấy hương lấy hoa Ăn lấy no mặc lấy ấm Ăn lấy thảo

Ăn lấy thơm lấy tho chứ không lấy no lấy béo Ăn lấy vị chứ ai lấy bị mà mang Ăn lấy vị không phải ăn lấy bị mà đong Ăn lỗ miệng liệng lỗ trôn (tháo lỗ trôn) Ăn lời tùy vốn bán vốn tùy nơi Ăn lông ở lỗ

Ăn lúa tháng năm xem (trông) trăng rằm tháng tám Ăn lúa tháng mười xem trăng mồng tám tháng tư Ăn lúc đói nói lúc say Ăn lường ăn quịt vỗ đít chạy làng Ăn mặc như đồ ba gà Ăn mặc như em quần áo lam lũ Thiên hạ cười chê anh vẫn cứ thương Ăn mắm lắm cơm

Ăn mắm mút dòi

Ăn mắm phải nhắm chén cơm Ăn mắm phải ngắm về sau Ăn mặn hay khát nước Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối Ăn mận trả đào

Ăn mảnh

Ăn mảnh khảnh

Ăn mật trả gừng

Ăn mày ăn xin

Ăn mày cầm tinh bị gậy Ăn mày chẳng tày giữ bị Ăn mày chính thực là ta Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày Ăn mày còn đòi sang, Ăn mày công đức

Ăn mày cửa Phật

Ăn mày đánh đổ cầu ao Ăn mày đòi xôi gấc

Ăn mày hoàn bị gậy Ăn mày không tày giữ bị Ăn mày mà đòi xôi gấc Ăn mày nơi cả thể làm rể nơi nhiều con Ăn mày quen ngõ

Ăn miếng chả trả miếng (giả miếng) nem (bùi) Ăn miếng ngon chồng con trả người Ăn miếng ngon nhớ chồng con ở nhà Ăn miếng ngọt trả miếng bùi Ăn miếng trả miếng

Ăn mít bỏ xơ

Ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng Ăn một bát hát một câu Ăn một bữa một heo Không bằng ngọn gió ngoài đèo thổi vô. Ăn một đền mười

Ăn một đời chơi mội thì Ăn một đọi nói một lời Ăn một lại muốn ăn hai Ăn một mâm nằm một chiếu (một giường) Ăn một miếng tiếng để đời Ăn một nơi nằm một chốn Ăn một nơi ngủ một nẻo Ăn một thời chơi một thì Ăn muối còn hơn ăn chuối chát Ăn mướp bỏ xơ

Ăn nạc bỏ cùi

Ăn năn thì sự đã rồi Ăn nay lo mai

Ăn nên đọi nói nên lời Ăn nên làm ra

Ăn nên nợ đỡ nên ơn Ăn ngang nói ngược Ăn ngập mặt ngập mũi Ăn ngấu ăn nghiến

Ăn ngay nói thẳng chẳng sợ mất lòng Ăn ngay nói thật mọi tật mọi lành Ăn ngay ở thẳng

Ăn ngon lành

Ăn ngon ngủ kỹ

Ăn ngọn nói hớt

Ăn ngọt trả bùi

Ăn ngủ bận như thợ nề Chỗ ăn chỗ ở như dê nó nằm Hẹn ngày hẹn tháng hẹn năm Bao giờ hết hẹn thì nằm mới yên

Ăn ngủ đụ ỉa

Ăn ngược nói ngạo

Ăn nhà chú ngủ nhà cô Ăn nhai không kịp

Ăn nhạt mới biết thương mèo Ăn nhiều ăn ít Ăn bằng quả quít cho nó cam Ăn nhiều ở chẳng bao nhiêu Ăn nhịn để dè

Ăn nhỏ nhẻ

Ăn nhỏ nhẻ như mèo Ăn nhờ ở đậu (ở trọ) (ở đợ) Ăn nhờ sống gởi

Ăn nhồm nhoàm

Ăn nhồm nhoàm như voi ngốn cỏ Ăn như bò ngốn cỏ

Ăn như cũ ngủ như xưa Ăn như gấu ăn trăng Ăn như hộ pháp ăn nẻ Ăn như hủi ăn thịt mỡ Ăn như hùm như hổ Ăn như kễnh đổ đó

Ăn như mèo

Ăn như mõ khoét

Ăn như Nam Hạ vác đất Ăn như quỷ phá nhà chay Ăn như rồng cuốn Làm như cà cuống lội ngược

Ăn như tằm ăn dâu (ăn lẽn) (ăn rỗi) Ăn như thần trùng đổ đó Ăn như thúng lủng khu Ăn như thủy tề đánh vực Ăn như thuyền chở mã như ả chơi trăng Ăn như tráng làm như lão Ăn như xáng xúc làm như lục bình trôi Ăn no ấm cật rậm rật mọi nơi Ăn no bò cỡi

Ăn no cho tiếc

Ăn no đến cổ còn thèm Ăn no giậm chuồng

Ăn no hôm trước lo được hôm sau Ăn no lại ngồi mười đời không khá Ăn no lo được

Ăn no mặc ấm ngẫm kẻ cơ hàn Ăn no ngủ kỹ

Ăn no ngủ kỹ chẳng nghĩ điều gì Ăn no ngủ kỹ chổng tĩ lên trời Ăn no phè phỡn

Ăn no ra ngả

Ăn no rồi lại nằm khèo Thấy giục trống chèo bề bụng đi xem Ăn no rồi lại nằm quèo Thấy giục trống chèo vội vã đi xem Ăn no rửng mỡ

Ăn no tận cổ còn thèm Ăn no tức bụng

Ăn no vác nặng

Ăn nói ác khẩu

Ăn nồi bảy quăng ra Ăn nồi ba đưa vào

Ăn nồi bảy quăng ra nồi ba quăng vào Ăn nói bộp bộp tộp

Ăn nói bộp chộp

Ăn nói chanh chua

Ăn nói chảnh lỏn

Ăn nói chết cây gẫy cành Ăn nói chua ngoa

Ăn nói chững chạc

Ăn nói có duyên

Ăn nói dịu dàng

Ăn nói dóng đôi

Ăn nói giọng một

Ăn nói hồ đồ

Ăn nói hớ hênh

Ăn nói hỗn xược

Ăn nói khiêm tốn

Ăn nói khúc chiết

Ăn nói lấp lững

Ăn nói lễ độ

Ăn nói luộm thuôm

Ăn nơi nằm chốn

Ăn nói ra vẻ

Ăn nói rành mạch

Ăn nói thô tục

Ăn nói từ tốn

Ăn nói vớ vẩn

Ăn nói xấc láo

Ăn nói xấc xược

Ăn ở có giời

Ăn ở có thủy có chung Ăn ở hai lòng

Ăn ở thất đức

Ăn ở thiện thì có thiện thần biết Ăn ở ác có ác thần hay

Ăn ở thủy chung

Ăn oản của chùa phải quét lá đa Ăn ốc nói mò

Ăn ốc nói mò Ăn măng nói mọc Ăn cò nói bay

Ăn ớt nói càn

Ăn ớt rủi cay, hít hà chịu vậy Chớ nhăn mặt nhăn mày, họ thấy cười chê. Ăn phải đũa

Ăn phải mùi chùi phải sạch Ăn phải nhai nói phải nghĩ Ăn phùng má trợn mắt Ăn quả cây táo rào cây thầu dầu Ăn quà cho biết mùi quà Bánh đúc thì dẻo bánh đa thì dòn Ăn quả nhả hạt (nhả hột) Ăn quả nhớ kẻ làm vườn Uống nước phải nhớ nước nguồn chảy ra Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (2) Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (3) Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông Đường đi cách bến cách sông Muốn qua giòng nước, nhờ ông lái đò!

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (4) Uống nước sông nầy nhớ suối từ đâu Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (5) Nào ai vun xới (tưới) cho mầy ngồi (được) ăn Ta đừng phụ nghĩa vong ân Uống nơi nước lã nhớ chừng nguồn kia

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (6) Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa Ăn quà như mõ khoét Ăn quả trả vàng

Ăn quả vả trả quả sung Ăn quẩn cối xay

Ăn quán ngủ đình

Ăn quen bén mùi

Ăn quen chồn đèn mắc bẫy Ăn quen nhịn không quen Ăn rá cơm ỉa rá cơm Ăn ráy ngứa miệng

Ăn rồi cắp đít đi chơi Hễ mó đến việc, mong trời đổ mưa Ăn rồi dắt vợ lên rừng Bẻ roi đánh vợ bảo đừng theo trai. Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng Có ai lấy (muốn) tớ thì khiêng tớ về Ăn rồi quẹt môi

Ăn rươi chịu bão cho cam Không ăn chịu bão thế gian cũng nhiều Ăn sạc nghiệp

Ăn sạch bát sạch dĩa Ăn sao cho được mà mời Thương sao cho được vợ người mà thương Ăn sao đền vậy

Ăn sạt nghiệp

Ăn sau đầu quét dọn Ăn sâu ngập cánh

Ăn se sẻ đẻ ông voi Ăn sổi ở thì

Ăn sóng nói gió

Ăn sống nuốt tươi

Ăn sung mặc sướng Ăn sung ngồi gốc cây sung Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành Ăn sung ngồi gốc cây sung (2) Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng! Ăn sung ngồi gốc cây sung (3) Thân gái lạ lùng trông cậy vào ai? Ăn sung ngồi gốc cây sung (4) Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm. Ăn sung trả ngáy

Ăn tái ăn tam

Ăn tại phủ ngủ tại công đường Ăn tàn ăn mạt ăn nát cửa nhà Con gà nuốt trộng, cá bống nuốt tươi Ăn tàn phá hại

Ăn táo trả hột

Ăn tay ăn túi

Ăn tham chắc mặc tham dày Ăn tham lam làm trốc mép Ăn thanh cảnh

Ăn thanh nói lịch

Ăn thật làm dối

Ăn thật làm giả

Ăn thất nghiệp trả quan viên Ăn theo thuở ở theo thì (theo thời) Ăn thì ăn (lựa) những món ngon Làm thì chọn việc cỏn con mà làm Ăn thì ăn trước ngồi trên Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ. Ăn thì có mó thì không Ăn thì có ó thì không Ăn thì cúi trốc đẩy nốc thì van làng Ăn thì em chả kém ai “Hễ cất gánh nặng vai em “”số thờ””” Ăn thì ha hả trả thì hu hu Ăn thì mau chân việc cần thì đủng đỉnh Ăn thì nhanh chân khó đến thân thì chạy Ăn thì nhiều chứ ở có bao nhiêu Ăn thì no cho thì tiếc Ăn thì nồi bẩy nồi ba Làm thì nống một, nống ba kéo dài Có làm cũng chẳng bằng ai Nói thì ra vẻ, lai rai suốt ngày!

Ăn thì vùa thua thì chạy (thì chịu) Ăn thiệt làm dối

Ăn thịt người không tanh Ăn thịt thì thối ăn đầu gối thì trơ Ăn thịt trâu không có tỏi Như ăn gỏi không có lá mơ

Ăn thịt trâu không tỏi Như ăn gỏi không rau mơ

Ăn thô nói tục

Ăn thô tục nói thô lỗ Ăn thóc tìm giống

Ăn thừa mứa

Ăn thừa nói thiếu

Ăn thủng nồi trôi rế (trôi trã) Ăn thúng trả đấu

Ăn thuốc bán trâu ăn trầu bán ruộng Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm. Hỡi người quân từ trăm năm Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

Ăn tìm đến đánh tìm đi Ăn to như đầu beo Làm việc như đuôi chuột.

Ăn to nói lớn

Ăn to uống đậm

Ăn tối lo mai

Ăn tôm cấu đầu Ăn trầu nhả bã

Ăn trái nhớ kẻ trồng cây Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (2) Uống nước nhớ người đào giếng Ăn trái nhớ kẻ trồng cây (3) Ăn cơm nhớ Thần Nông cày ruộng Ăn trắng mặc trơn

Ăn trầu chọn lấy cau khô Trèo lên Ba Dội (Rọi) có cô bán hàng Cô bán hàng lòng cô buồn bã Bóng xế chiều bóng ngả về tây Đợi cô ba bẩy hai mốt năm nay

Ăn trầu không có vỏ sao cho đỏ môi Ăn trầu mà có vỏ chay Vôi kia có lạt (nhạt) cũng cay được mồm Ăn trầu nhà trai

Ăn trầu phải mở trầu ra Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi Ăn trầu thì bỏ quên vôi Ăn cau, bỏ hạt, nàng ơi hỡi nàng! Ăn trầu thì phải có vôi Cúng rằm thì phải có xôi có chè Ăn trên ngồi trốc Ăn trên ngồi trốc hưởng lộc dài dài Ăn trên ngồi trước (nói trước) Ăn tro bọ trấu

Ăn trộm ái tình

Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành Tiên Đi chùa đi chiền, bán thân bất toại. Ăn trộm chê vải hẹp khổ Ăn trộm có tang chơi ngang có tích Ăn trộm của trời

Ăn trông nồi ngồi trông hướng Ăn trông xuống uống trông lên Ăn trứng thì đừng ăn con Ăn trước bước không nổi Ăn trước trả sau

Ăn từ dần chí dậu

Ăn từ đầu bữa tới cuối bữa Ăn từ đầu dần tới cuối dậu Ăn từ giờ Dần đến giờ Tỵ Ăn tục nói phét

Ăn tươi nuốt sống

Ăn tùy chốn bán vốn tùy nơi Ăn tùy chủ ngủ tùy nơi Ăn tùy nơi chơi tùy chốn Ăn tuyết nằm sương (uống sương) Ăn uống thì tìm đến đánh đầm thì tìm đi Ăn uống tìm đến đánh nhau tìm đi Ăn uống vô độ

Ăn vãi đầu vãi đuôi

Ăn văng đổ vãi

Ăn vặt quen miệng làm biếng quen thân Ăn vặt quen mồm

Ăn vay từng bữa không cửa không nhà Ăn vi chủ ngủ vi tiên Ăn vô điều độ

Ăn vô độ (vô hậu)

Ăn vóc học hay

Ăn vóc học nên

Ăn vừa ở phải

Ăn vung bỏ vãi

Ăn vụng chóng no

Ăn vụng không biết chùi mép Ăn vụng ngon miệng Ăn vụng xó bếp

Ăn xì xà xì xụp

Ăn xin cho đáng ăn xin Lấy chồng phải chọn dễ nhìn dễ ưa Ăn xó bếp chết gầm chạn (ngủ gầm chạn) Ăn xó bếp uống nước ao Đái bờ rào, ỉa chuồng lợn

Ăn xô bồ

Ăn xó mó niêu

Ăn xôi chùa ngậm họng Ăn xôi chùa quét lá đa Ăn xôi không bằng đôi đĩa Ăn xôi nghe kèn

Ăn xổi ở thì

Ăn xong hạch sách vỗ đách ra đi Ăn xong không biết chùi mép Ăn xong quẹt mỏ

Ăn xưa chừa nay (sau) Ăn xuôi nói ngược

Ngoài ra trong kho tàng văn chương có bài sau đây của Hàn Lệ Nhân cũng khá thú vị:

Chữ Ăn: Cái thú đoạn trường

Hàn Lệ Nhân (Sưu tầm, lược soạn)

Ăn mới thực văn nhân tài tử, Ăn nguyên là văn tự quốc gia. “Trăm năm trong cõi người ta”, Không ăn thiên hạ cho là dở hơi. (Đào Trọng Đủ)

Trong loạt bài Miệng lưỡi đa sự ký, tôi đã tản mạn qua-loa-rơ-măng về chữ Ăn. Trong bài Tiếng Việt tình tôi, khi trích lại bản sơ kết về chữ Cả trong tiếng nước ta, tôi đã đã nhưng chợt nghĩ lại chữ Ăn, so với chữ Cả, sự kỳ diệu của nó thật thụ gấp vài trăm lần, nên có bài này. Tôi e chữ Ăn trong tiếng Việt là thêm một quái chiêu đáng khoe ra với thiên hạ – ngoài hào quang trong chiến tranh, phở Hà Nội, bún bò Huế, nước mắm Phú Quốc và hai chữ triệu phú dĩ nhiên.

Mở đầu :

Ai mở cuộc thi

[ Vào khoảng tháng 5 tháng 6 năm 1951, một tuần báo xuất bản tại Sài-Gòn tổ chức một cuộc thi Trau giồi tiếng Việt. Bài thi có bốn câu hỏi:

1. Tìm một chữ Việt Nam rất thông thường, dùng được rất rộng và có hàng chục nghĩa và giảng hết nghĩa của chữ ấy. Cắt nghĩa tường tận hai bài thơ của Hồ Xuân Hương mà ban tổ chức gọi là Bà Chúa thơ nôm: bài Chùa Quán sứ và bài Hờn duyên (Tự tình 2)

2. Tiếng Việt Nam có tính cách tượng thanh nên có nhiều trạng từ rất hay, đọc lên đủ làm cho người ta tưởng tượng được nghĩa của nó. Tỉ dụ: say chuếnh choáng, treo tòn ten, cúi lom khom, trắng phau phau…

3. Xin các bạn tìm những trạng từ tiếng gấp đôi (như các tỉ dụ trên) có thể dùng sau các hình dung từ hay động từ sau đây: Nhai, nỗi, gõ, vỗ, rộng, tròn, sâu, cười, dài, treo, lo, quạt, gầy, mừng, vừa, kêu, khấn, rét, im, chối, tươi, say, chạy, đứng, cao, nhiều, gọi, đi, yêu, thơm.

Nếu tìm được nhiều trạng từ khác 30 tiếng trên, các bạn có thể ghi thêm vào càng hay.

4. Vấn đề thống nhất Việt ngữ: Thí sinh phải đọc bài : Vài đề nghị thống nhất Việt ngữ (*) của Phan Hữu và giả nhời ba câu hỏi sau: a/ Có nên thống nhất triệt để ? b/ Nên đặt nguyên tắc theo đề nghị của ban tổ chức hay không ? c/ Nếu không nên thì cần thay đổi nguyên tắc thế nào cho tiếng Việt thống nhất hoàn toàn ?]

********************

Tôi (tác giả Cô Đào Đào Trọng Đủ) yêu tiếng Việt, lẽ tất nhiên là phải dự thi. Bài tôi làm cũng chia làm 4 đoạn, nhan đề của mỗi đoạn có 4 chữ, ghép 4 câu thành ra bài Tứ ngôn như sau:

Ai mở cuộc thi để tôi kiêu ngạo, tôi trêu giám khảo, tôi nhạo chàng Phan.

Cuộc thi không thành, vì được ít lâu tờ Điện Báo phải đình bản. Thế là bài thi hài hước của tôi cứ việc nghỉ ngơi trong tủ sách.

Rồi đến một Tết nào đó, lâu ngày tôi quên, tôi trích ra 2 đoạn nói về chữ Ăn và chữ Đánh, được một tờ báo Xuân xuất bản ở Nam vang đăng, nhưng lại bị kiểm duyệt… Mãi về sau, Cam-pu-chia cho tự do thêm, một báo tiếng Việt mới được phép đăng cả bài. Rồi tuần tự nhi tiến, bài thơ Ăn của tôi đi đến đài Pháp-Á, rồi ra tới Hà Nội, lại được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho đăng vào tạp chí Văn Hoá… Sau cùng, vào năm 1964-1965, khi báo Trung Lập ra đời tại Nam Vang, bài thơ Ăn lại được đăng một lần nữa và do đó, được theo một bạn yêu thơ đem sang tận Pháp cho nhiều đồng bào thưởng thức… Tôi cũng phấn khởi và trẻ lại được phần nào, rồi đem bản sao ra chép lại cho khỏi thất lạc. Mà cũng may có chép lại, tôi mới nhận thấy 28 năm về trước, tôi ngây thơ…không đoán ra chữ nhà báo đã in nhầm là Nỗi (dấu Ngã) cho nên dạo ấy tôi đã viết :

Còn chữ Nỗi văn chương quá Nỗi Khuya rồi mà nghĩ mãi không ra !

Thì ra, tôi đợi 28 năm giời mới nhận thấy chính là chữ Nổi (dấu Hỏi) mà thợ xếp chữ đã xếp lầm ra chữ Nỗi (dấu Ngã). Vậy câu thơ ngày trước xin đổi lại như sau :

Còn chữ Nổi lênh đênh quá nỗi Khuya rồi mà nghĩ mãi mới ra !

Sửa lại có thế thôi, còn cả bài thơ 28 năm trước thế nào, bây giờ vẫn thế ấy, mặc dầu bản thân tôi có đổi, cũng như quan niệm tôi đối với đời cũng có khác trước một phần nào… Tôi chắc mười mươi các bạn cũng thừa hiểu rằng 55 {tuổi} phê bình thế nào chả khác 83 {tuổi}.

Antony ngày 28-6-1979 Cô Đào

Để tôi kiêu ngạo

Ca Dao Tục Ngữ Hay Về Giao Tiếp, Lời Nói / 2023

Tỗng hợp những câu ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, lời nói

Có câu ca dao tục ngữ nào hay về giao tiếp, lời nói nhỉ?

Trong cuộc sống, biết bao điều phức tạp nảy sinh và lời ăn tiếng nói có tầm quan trọng hàng đầu Một trong những thước đo tiêu chuẩn hàng đầu của vẻ đẹp con người làăn nói phải mặn mà, phải có nét duyên. Ca dao, tục ngữkhông chỉ là tiếng nói chứa đựng tâm tư, tình cảm của người lao động mà còn là những kho tàng kinh nghiệm sống quý giá của muôn đời. Lời ăn tiếng nói của con người trong giao tiếp luôn được người xưa coi trọng. Và bài viết này vforum sẽ đề cập đến ca dao, tục ngữ là Ca dao tục ngữ hay vềgiao tiếp, lời nói? Sau đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

Ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, lời nói

1.

Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà, có duyên

Đây là 2 câu ca dao nói về tầm quan trọng của lời nói khi giao tiếp của người con gái, đầu tiên quan trọng nhất là tóc đuôi gà và thứ hai là ăn nói.

2.

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe

Ca dao còn nhắc nhở, khuyên nhau khi nói phải lựa lời, chọn lời, cân nhắc ý tứ. Lời nói luôn có sẵn, đối với từng trường hợp cụ thể mà chúng ta dành những “lời hay ý đẹp” cho nhau. Có niềm vui nào hơn khi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được nghe những lời nói đẹp, những lời nói hay, sâu sắc, để cho con người sống thương nhau hơn, gần gũi nhau hơn

3.

Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Câu ca dao nói về thái độ, lời nói của mỗi chúng ta khi giao tiếp: cần phải nhẹ nhàng, nói những lời lẽ đúng mức, lịch sự, để không gây khó chịu cho đối phương.

4.

Đất tốt trồng cây rườm rà Những người thanh lịch nói ra dịu dàng

Câu tục ngữ có mối tương quan giữa đất trồng cây và cây trồng trong việc trồng trọt là đất tốt,cây sẽ tốt, đất rắn cây khẳng khiu. Từ thực tế đó, câu tục ngữ phản ánh một hiện tượng trong sinh hoạt xã hội lời ăn tiếng nói là sự thể hiện phong cách sống của mỗi người.

5.

Người thanh tiếng nói cũng thanh Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu

Câu ca dao trên người xưa muốn nhắn nhủ với người đời về hình thức và nội dung của một con người hoàn hảo, đó là: người càng đẹp, càng lịch sự, càng tế nhị thì phải biết mềm dẽo, lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, làm ngược lại thì dẫu đẹp đến dâu cũng dễ thất bại trong giao tiếp và quan hệ xã hội.

6.

Nói lời phải giữ lấy lời Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Nói ra thì phải đảm bảo lời nói của mình là đúng,là chân thật ,là có đạo lý,là đảm bảo có văn hóa.Đặc biệt phải đảm bảo cho người khác tin tưởng tuyệt đối vào lời nói của mình.

7.

Nói chín thì phải làm mười Nói mười làm chín kẻ cười người chê

Ý nghĩa của câu nói trên là: Nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị dư luận cười chê.

8.

Người khôn ăn nói nửa chừng Để cho người dại nửa mừng nửa lo

Người khôn theo nghĩa lớn là để giúp đời, theo nghĩa nhỏ thì chí ít phải có ý tưởng minh bạch về bất kể việc gì đó. Nhưng cách khôn của người Việt không vậy! Mục đích của cái khôn không phải thể trình ra quan niệm hay trí tuệ, mà là: để sống ưu thế hơn.

9.

Rượu lạt uống lắm cũng say Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Câu này chuẩn nghĩa là rươu nhạt uống lắm cũng vẫn say. Người du có khôn nói lắm thì vẫn mắc lỗi như thường, chớ có nói lắm..năng nói là năng lỗi

10.

Kim vàng ai nỡ uốn câu Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời

Đúng vậy, nói nhau làm chi nặng lời bởi trong tình huống nào cũng rất cần chữ”nhẫn”

11.

Phê phán điều đầu tiên phải xuất phát từ cái tâm, nhưng chỉ cái tâm thì không đủ, cần phải có kiến thức về loại hình mà mình muốn phê phán, còn cái kiểu phê phán nói lấy được, hoặc nói cho sướng miệng, thì quả thật… không còn gì để nói.

12.

Một câu nhịn bằng chín câu lành

Trong mọi sự mâu thuẫn, xích mích với người khác, biết nhịn nhục là điều tốt nhất, vì nó sẽ mang đến mọi sự an ổn thay vì là hiềm khích, tranh chấp.

13.

Khôn ngoan, chẳng lọ nói nhiều, Người khôn, nói một vài điều cũng khôn.

Người xưa quan niệm, nói nhiều chưa chắc là người có hiểu biết mà đôi khi làdo “thùng rỗng kêu to”

14.

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người qua câu ca dao trên.

15.

Sảy chân, gượng lại còn vừa, Sảy miệng, biết nói làm sao bây giờ.

Câu ca dao muốn nói chúng ta nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói, một khi vạ miệng thì rút lại không được nữa

16.

Chim ngu ăn mận ăn me Người ngu ăn nói chua lè mắm tôm

Câu thơ ý muốn châm biếm những người ăn nói không lịch sự, tế nhị

17.

Hoa thơm ai chẳng nâng niu Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề

Hai câu ca dao với ý nghĩa là hoa thơm thì được nhiều người yêu thích, giống với hình ảnh con người nói năng dịu dàng, lịch sự sẽ được nhìu người yêu mến.

18. 19.

Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Lời nói là công cụ giao tiếp, lời nói thể hiện phẩm chất, trình độ của mỗi con người. Biết dùng lời nói thích hợp sẽ tạo được hiệu quả tốt trong giao tiếp. Vì vậy, chúng ta phải tự rèn luyện cách nói năng văn minh, lịch sự để đạt được mục đích như mong muốn.

20.

Một lời nói dối, sám hối bảy ngày.

Câu này khuyên răn chúng ta không nên nói dối, vì khi bị lộ sẽ hối hận.

Trên đây là bài viết về Ca dao tục ngữ hay về giao tiếp, lời nói? Mong rằng sẽ giúp ích các bạn có thêm nhiều kiến thức hay và bổ ích của ca dao, tục ngữ Việt Nam ta.

Xem thêm:Những câu ca dao tục ngữ hay về dân chủ và kỉ luật

Bạn đang xem bài viết Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Lời Nói, Lời Ăn Tiếng Nói, Xưng Hô / 2023 trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!