Xem Nhiều 1/2023 #️ Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại # Top 9 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 1/2023 # Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU BIỂU THI CA VIỆT NAM

KỲ THỨ 5

NGUYỄN TRÃI

– NGƯỜI CON TOÀN THIỆN CỦA DÂN TỘC,

DANH NHÂN VĂN HOÁ NHÂN LOẠI

                                Kiều Văn

Trong thế kỉ XV, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra một con người toàn thiện: Nguyễn Trãi (1380 – 1442). Nếu lấy sự toàn thiện làm tiêu chí thì Nguyễn Trãi xứng đáng là con người ưu tú nhất của dân tộc ta kể từ khi lập quốc (thời đại Hùng Vương) đến nay.

Ông chính là mẫu người mà thi hào Anh Shakespeare đã ca ngợi trong vở kịch Hamlet:

Đây con người, một con người toàn vẹn Chẳng bao giờ tôi thấy kẻ sánh ngang.

Lê Thánh Tông, ông vua anh minh, có câu thơ ca ngợi Nguyễn Trãi:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo.

(Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê).

Tiên nho Nguyễn Năng Tĩnh ở nửa cuối thế kỉ XIX đã viết một câu nổi tiếng trong lời tựa sách Ức Trai di tập (do ông cùng Dương Bá Cung và Ngô Thế Vinh sưu tầm lại những tác phẩm của Nguyễn Trãi đã bị tán thất, rồi đem in thành sách năm 1868): “Những người có tài trí lỗi lạc, đức độ bao la, khi đem tài đức ấy thi thố ra việc làm thì đó là sự nghiệp, khi thổ lộ ra lời nói thì đó là văn chương”.

Nhận định ấy đã được chính sử Việt Nam và sự nghiệp văn chương trác tuyệt của Nguyễn Trãi xác nhận.

Chúng tôi xin phân tích những phương diện đã làm nên sự toàn thiện của Nguyễn Trãi như sau:

NGUYỄN TRÃI – NHÀ ÁI QUỐC VĨ ĐẠI, ANH HÙNG DÂN TỘC

Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn của một sự nghiệp anh hùng.

Trong những năm bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã kí thác niềm u uất và chí vọng của mình trong những bài thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian No nước uống, thiếu cơm ăn… Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian.

(Thủ vĩ ngâm)

… Một thân lẩn quất đường khoa mục, Hai chữ mơ màng việc quốc gia. Quân thân chưa báo, lòng canh cánh Tình phụ cơm trời, áo cha.

(Vô đề)

Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến. Một mình ông đảm trách cả một mặt trận quan trọng: mặt trận chính trị ngoại giao. Với sở học uyên bác, trí tuệ sắc bén, ông đã liên tiếp gửi thư cho bọn tướng giặc, đánh những đòn cân não làm tan rã tinh thần của chúng.

Cuối cùng Nguyễn Trãi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của ông: đánh đuổi được giặc Minh, mang lại độc lập cho đất nước. Chính ông đã thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo tổng kết chiến thắng oanh liệt của dân tộc:

Chẳng những mưu kế cực kì sâu xa Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy. Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới. Trời đất bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt mờ rồi lại trong. Để mở nền thái bình muôn thuở, Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toán thư)

Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông.

(Thuật hứng)

Làm quan dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, ông đã ra sức chèo lái con thuyền của triều đình nhà Lê đi đúng con đường chính đạo mà tinh thần căn bản là thực hành nhân nghĩa để yên dân. Điều đặc sắc ở vị đại quan Nguyễn Trãi là khái niệm ái quốc luôn được cụ thể hoá bằng khái niệm ái dân, cận dân. Nói cách khác, với ông, chính lòng ái dân là thước đo tuyệt đối của lòng ái quốc! Có lẽ chỉ trừ một người thứ hai là vua Lê Thánh Tông, không một vị vua quan nào của triều Lê đạt tới ý niệm tuyệt vời đó. Và cũng chính vì tư tưởng khuynh dân đó mà Nguyễn Trãi trở thành thù địch của bọn quan lại triều Lê – những kẻ ít nhiều đều mắc căn bệnh vị kỉ và viễn dân. Có thể nói Nguyễn Trãi đã tử vì… tinh thần khuynh dân đó!

Trọn cả cuộc đời cống hiến cho nước, cho dân, lập được những kì tích sáng chói, Nguyễn Trãi trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại, kế tục truyền thống của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… đời trước, sát cánh với người anh hùng cứu nước Lê Lợi đương thời.

Chủ nghĩa anh hùng yêu nước của ông thể hiện rất rõ nét trong nhiều trước tác văn chương của ông như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, thơ nôm và thơ chữ Hán mà sau đây là một bài tiêu biểu:

ĐỀ GƯƠM

Rồng ẩn Lam Sơn lúc đợi thời, Trong tay thế sự rõ mười mươi. Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài. Hận nước nghìn năm vừa rửa sạch, Hòm vàng muôn thuở chắc không phai. Giang sơn đổi mới từ đây nhỉ, Thử đếm anh hùng được mấy ai?

Xuân Thủy dịch

NGUYỄN TRÃI – NHÀ CHÍNH TRỊ KIỆT XUẤT, BẬC HIỀN TÀI QUỐC GIA.

Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cộng sự với triều đình nhà Lê với tư cách một nhà chính trị, một nhà mưu lược. Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế trên các mục tiêu chiến lược: đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh. Bên cạnh đó ông xây dựng một sự nghiệp văn chương kì vĩ.

Suốt cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ ông là một nhà chính trị kiệt xuất có tầm tư tuởng cao nhất của thời đại bấy giờ. Đánh giặc đương nhiên phải dùng tới vũ dũng. Nhưng đối lập với những kẻ hữu dũng nhưng vô mưu, vô trí, vô nhân, Nguyễn Trãi, với tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị quân sư của Lê Lợi, đã cống hiến và đặt nền móng tinh thần, tư tưởng cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng nhân nghĩa mà ông rút từ học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử nhưng được áp dụng một cách đầy sinh động và sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta lúc đó. Cao kiến ấy của Nguyễn Trãi, nhà Hồ cũng như nhà Hậu Trần trước đó đều không có được. Nó đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta đương thời, khiến cho tất cả mọi người Việt Nam từ bậc hào kiệt, giới sĩ phu, dân cày cuốc đến kẻ cùng đinh đều hướng về và quây quanh vị chủ tướng Lê Lợi. Muôn người cùng có chung một suy nghĩ lớn: NGHĨA, và một tình cảm lớn: NHÂN. Chính sự thống nhất cao độ về lí trí và tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh “chở thuyền lật thuyền”, khiến giặc Minh không thể nào chống lại nổi!

Tư tưởng nhân nghĩa trác việt ấy luôn luôn được Nguyễn Trãi triệt để cổ súy, nhấn mạnh ở mọi nơi, mọi lúc, trên chính trường, trên nghị luận và trong văn chương. Mở đầu Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam thế kỉ XV – ông viết:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Chỉ với hai câu văn, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng mục tiêu quang minh chính đại của cuộc kháng chiến chống Minh: đó chính là việc thực thi tư tưởng nhân nghĩa trong hoàn cảnh chống ngoại xâm. “Cẩm nang” nhân nghĩa là vũ khí tinh thần tối quan trọng cho nghĩa quân và nhân dân Đại Việt, đồng thời là độc tố làm rệu rã tinh thần của bọn giặc Minh xâm lược. Có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử… đúc kết mà bọn tướng Minh đều đã học thuộc nằm lòng, để quật lại chúng. Giặc Minh kéo sang An Nam với chiêu bài “chính nghĩa” là diệt nhà Hồ để khôi phục ngôi nhà Trần đã bị nhà Hồ thoán đoạt. Nhưng Nguyễn Trãi đã vạch rõ bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng chỉ bằng một từ duy nhất: “bạo”! Chiêu bài “chính nghĩa” bị xé toạc, bộ mặt bạo ngược, bất nhân phi nghĩa của giặc bị phơi bày trước trời đất, trước toàn thể sĩ phu và nhân dân ta: chỉ riêng điều đó cũng đã đủ khiến chúng vô cùng hoảng sợ. Đòn cân não ấy xuất phát từ một khối óc thiên tài: Nguyễn Trãi.

Khác với rất nhiều vị vua và các tướng lĩnh giỏi của các thời đại, trong nước và trên thế giới, Nguyễn Trãi – xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa – hiểu thấu hơn ai hết cái chân lí lớn máu người không phải nước lã. Chính vì vậy, ông ra sức dùng đòn bút, đòn cân não để đánh giặc, nhằm làm giảm bớt tối đa xương máu của nghĩa quân Lam Sơn. Việc quân ta chủ trương trường kì vây hãm Đông Quan mà không ồ ạt tiến công hạ thành cũng chính nhằm bảo toàn lực lượng của ta, và kết quả thật kì diệu: giặc Minh rốt cuộc phải đầu hàng, còn nghĩa quân Lam Sơn hầu như không mất một mũi tên, một mạng người!

Ở phần cuối Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức”. Tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với quân và dân ta nồng đượm biết chừng nào!

Là nhà tư tuởng tầm vóc nhân loại, Nguyễn Trãi chủ trương áp dụng nhân nghĩa cho tất cả những ai là con người chứ không riêng gì người An Nam. Một sáng kiến vĩ đại của ông là mang nhân nghĩa áp dụng ngay cả với kẻ thù! Ông chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng”. Ông chỉ muốn đánh vào tâm vào trí giặc khiến chúng bại vong rút về nước chứ không thích giết nhiều người. Ngay cả khi tính mạng giặc hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân, các lãnh tụ Lam Sơn đã hành động theo tinh thần “oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh”.

Khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng nhờ có tư tưởng nhân nghĩa làm kim chỉ nam, phần cuối của cuộc kháng chiến chống Minh đã diễn ra bằng hình thức “đàm phán hoà bình”. Giặc Minh ở các lộ được tự do đến các chợ mua “đồ lưu niệm”, rồi tất cả lục tục kéo về Đông Quan để rút hết về nước. Không ai khác, chính Nguyễn Trãi là tác giả của hình thức kết thúc chiến tranh hiếm thấy đó trong lịch sử chiến tranh phương Đông.

Hiệu quả của hành động kết thúc chiến tranh bằng tư tưởng nhân nghĩa ấy thật vô cùng to lớn: một trang sử mới hoà hiếu đã mở ra giữa hai nước An Nam – Trung Hoa và duy trì suốt hơn bốn trăm năm cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX (trừ một giai đoạn rất ngắn quân Thanh kéo sang nước ta theo lời kêu gọi của Lê Chiêu Thống nhưng lập tức bị vua Quang Trung tiêu diệt).

Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Họ chủ trương giải quyết những vấn nạn của nhân loại trên cơ sở lương tri cao cả của con người. Đối lập với họ là bọn bạo chúa của các thời đại (như phái pháp gia đời Tần hoặc Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt thời Nguyên Mông…) – những kẻ chủ trương xây dựng sự nghiệp trên xương máu và thảm hoạ của muôn dân mà thi hào Nguyễn Du đã mô tả bằng một câu “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Con đường nào đúng? Đó là một câu hỏi hóc búa đòi hỏi phải có những kiến giải tối ưu đặt ra cho những người muốn đi tìm chân lí của môn lịch sử.

Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tư tưởng nhân nghĩa trong thời bình, khi ông phụng sự dưới hai triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thông qua việc tổ chức triều chính, ban hành các chính sách kinh tế xã hội… Đằng sau các lệnh chỉ của vua, của triều đình, người đọc sử có thể thấy rõ mồn một cái hạt nhân trí tuệ và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Ví dụ các lệnh chỉ sau đây: tiến cử và tự tiến cử hiền tài; sát hạch trình độ của các quan văn võ trong toàn quốc; cấm rượu chè cờ bạc; đào tạo các con quan văn võ tại Trường quốc học; phân chia ruộng đất cho tất cả mọi người, từ quan đại thần đến người cùng đinh, đàn bà goá, trẻ mồ côi; cho phép các ngôn quan được dâng sớ vạch rõ những sai lầm khiếm khuyết của vua, đàn hặc những sai trái của các quan; cấm quan lại không được mở rộng đất đai ngoài mức triều đình qui định v.v…

Trong sớ tâu với vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã viết một câu bất hủ: “Xin bệ hạ yêu muôn dân để cho tận chốn thôn cùng xóm vắng không còn nghe thấy tiếng ta thán, thế mới là không mất cái gốc của nhạc”.

Những đóng góp của Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất, bậc hiền tài quốc gia – đã giúp cho triều đại Hậu Lê tiến bộ vượt bậc và đạt tới cực thịnh vào đời Lê Thánh Tông. Nguyễn Trãi xứng đáng sánh ngang với các nhà chính trị lỗi lạc của mọi thời đại.

NGUYỄN TRÃI – MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

Ngoài những cống hiến vô cùng lớn lao cho đất nước, Nguyễn Trãi được toàn thể dân tộc tôn vinh còn vì nhân cách cao cả của ông.

Con người có nhân cách là người biết tự trọng, quyết chí tu thân, có lí tưởng sống cao đẹp và suốt đời hành động theo lí tưởng đó.

Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời. Thiên tài của ông đã may mắn gặp được bậc minh quân, được trọng dụng trong công cuộc vĩ đại: đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Ông đã hào hứng viết:

Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.

(Đề gươm)

Tài năng và nhân cách của ông đã làm nên hình tượng người anh hùng của thời đại chống ngoại xâm.

Nhưng nhân cách ông càng thực sự sáng ngời trong những nghịch cảnh của đời ông diễn ra giữa thời bình nhưng đầy dẫy phiền lụy của một triều đại phong kiến. Ngay dưới triều Lê Thái Tổ, do những lời sàm tấu của lũ quan lại trong triều (vu cho ông tội âm mưu nổi loạn, cướp ngôi!), ông đã bị nhà vua hạ ngục. Trong nghịch cảnh ấy, ông đã nén lòng uất hận, đã đặt bi kịch cá nhân mình xuống dưới sự nghiệp lớn lao của nhà Hậu Lê, dưới nền thái bình của xã tắc:

Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười. … Trong lao “độc bối” cam mang nhục, Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

(Than nỗi oan) – Thạch Can dịch

Mang cốt cách đại trượng phu, Nguyễn Trãi không bao giờ thoả hiệp, về hùa với những tà kiến của một số triều thần. Vì vậy, ông trở thành cái gai trước mắt họ. Bị họ bài xích, cuối cùng ông đành phải xin vua Lê Thái Tông cho về trí sĩ ở Côn Sơn (những năm 1437 – 1438). Lâm vào một nghịch cảnh mới, ông đã xử sự như thế nào?

Trước hết, ông nhận thức được “trong cái rủi có cái may”! Vì bị xua đuổi mà ông có được một dịp tốt nhất để chính mình chiêm nghiệm cuộc sống ẩn cư, từng được coi là điều tuyệt thú của bao hiền sĩ đời xưa, trong đó có ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán. Không chịu để cho bi kịch của cuộc sống thế tục đè bẹp, ông vươn lên tầm cao, hoà nhập vào đại tự nhiên cực kì diễm lệ. Hình ảnh của ông khác nào một tiên ông, một thánh nhân giữa núi non, mây nước, cây cỏ, chim muông:

Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay, Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay…

hoặc:

Thiêu hương đọc sách quét con am Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm. Ánh cửa trăng mai lớp lớp, Kề song gió trúc nồm nồm…

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ẩn sĩ quay lưng lại với cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cá nhân của mình. Xét theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản, đó là một biểu hiện không những hợp lí mà còn tuyệt đẹp nữa. Vì vậy mà những ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Sào Phủ, Hứa Do, Lã Vọng, Khổng Minh, Nghiêm Quang hay bọn “bát tiên”, “lục dật” ở Trung Hoa, hoặc Trần Nguyên Đán, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam… đã đi vào huyền thoại và trở thành điển cố.

Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải quyết xong bài toán hành – tàng, xuất – xử:

Ngán vòng thế tục thân danh hão, Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ. Tính khí một đời nguyên nếp cũ, Lênh đênh há giảm chí hào xưa!

(Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)

– Ngô Linh Ngọc dịch

Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế, Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

hoặc:

Non lạ nước thanh làm náu, Đất phàm cõi tục cách xa. Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá (không chịu đổi).

Vận dụng triết lí Lão – Trang, sống thoát tục, Nguyễn Trãi càng nhận thức sâu sắc một chân lí của muôn đời:

Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầu dãi có phong lưu.

Và ông hướng tới một lí tưởng mới: nếu không còn điều kiện để làm một quốc sĩ thì hãy làm một con người thật sự trong sạch và thánh thiện. Đó không phải là điều đáng mơ ước cho chúng sinh trong vòng ô trọc sao:

Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước.

Tuy nhiên, đặc tính của một nhân cách lớn là tối kị lối sống “hư sinh” (sống thừa). nguyễn Trãi chính là biểu hiện rực rỡ của cái chân lí về người quân tử mà Kinh Dịch đã nói: “Trời chuyển vần mãnh liệt, quân tử cũng tự tạo sức mạnh mà không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Trong thời gian ở ẩn tại Côn Sơn, ông đã làm bao nhiêu việc lớn lao vĩ đại, không hề thua kém việc ông tham gia kháng chiến chống Minh trước đó: tu thân, tìm ra triết lí sống mới, tổng kết những bài học về thế sự và nhân sinh, viết sách giáo khoa luân lí đạo đức, và sáng tạo cả một công trình vĩ đại về thi ca Hán – Nôm.

Ông hiểu thấu rằng luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục… là nền tảng cho đời sống hạnh phúc lâu dài của con người. Vì vậy, ông đã trước tác một tác phẩm chuyên về luân lí đạo đức mang tên Bảo kính cảnh giới (Gương quí răn mình) trong đó ông đúc kết nên những khuôn vàng thước ngọc của nền đạo đức dân tộc. Những bài “đức dục” ấy của ông, trải qua năm sáu trăm năm, đến nay dường như vẫn còn nóng hổi và sát thực với chúng ta:

– Kết bạn, mạ (chớ) quên người cố cựu, Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang? – Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược, Có nhân có trí có anh hùng. – Cơm ăn miễn có, dầu thô bạc, Áo mặc âu chi quản cũ đen. – Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền, Cành bắc cành nam một cỗi nên. Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp… – Của thết người là của còn, Khó khăn, phải đạo cháo càng ngon. – Bất nhân vô số nhà hào phú, Của ấy nào ai từng được chầy (lâu)? – Sắc là giặc, đam làm chi? Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi…

Không hề giáo điều với chủ nghĩa ẩn cư, khi được ông vua trẻ Lê Thái Tông mới lên ngôi mời ra giúp việc triều đình, Nguyễn Trãi lại vui vẻ “nhập thế”. Ông lại lao vào một cuộc chiến đấu mới hết sức gay go. Khi ấy nhà vua còn trẻ, lười học hành, ham chơi bời, sớm vướng víu chuyện thê nhi… Triều chính lục đục, nhất là chuyện phế lập thái tử, chuyện rắc rối giữa các bà phi… Với trách nhiệm của một bậc lương thần, ông ra sức chèo chống để hạn chế những hành động sai quấy của cả vua lẫn bọn quan lại trong triều. Chính vì vậy, ông trở thành tảng đá cản dòng đối với bọn gian thần. Cuối cùng, chúng lợi dụng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, vu cáo ông âm mưu giết vua và khép ông vào cái án tru di tam tộc!

Thảm hoạ và cái chết của Nguyễn Trãi phải được nhìn nhận như một hành vi tuẫn đạo của một bậc đại hùng đại đức, của một nhân cách vĩ đại. Nhân cách ấy vượt lên trên tầm của thời đại nhiễu nhương bấy giờ và hướng tới sự tất thắng của chân lí, đúng như những câu thơ ông viết:

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Văn không tàn lụi cũng do trời)

Là một khai quốc công thần và đại thần của triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi có thể dễ dàng đạt được tột đỉnh của vinh hoa phú quí, vậy mà ông đã khước từ tất cả và cuối cùng phải hi sinh đến ba họ chỉ vì chân lí, vì nhân nghĩa, vì nhân dân. Nhân cách cao thượng, trong sáng của ông quả có thể sánh với mặt trăng mặt trời.

NGUYỄN TRÃI – NHÀ VĂN HÓA VĨ ĐẠI

Từ xưa, loài người đã từng sản sinh ra một mẫu người vô cùng hiếm hoi: mẫu nhân tài bách khoa như Léonard de Vinci (1452 – 1519). Nguyễn Trãi của Việt Nam thuộc mẫu người đó. Ông đồng thời là nhà chính trị lỗi lạc, nhà bác học và nhà thơ vĩ đại. Ông nghiên cứu và có nhiều trước tác thuộc nhiều lĩnh vực của tự nhiên và xã hội như: quân sự (Quân trung từ mệnh tập), địa lí (Ức Trai dư địa chí), lịch sử (Lam Sơn thực lục), điển phạm của triều đình (Giao từ đại lễ), pháp luật của quốc gia (Luật thư – tác phẩm sau này được Lê Thánh Tông sử dụng làm nội dung căn bản của bộ luật vĩ đại: Bộ luật Hồng Đức), âm nhạc (ông là người tổng kết âm luật nhạc dân tộc để soạn ra quốc nhạc, chế định các nhạc cụ của ban nhạc triều đình, là tác giả chế tạo khánh đá), văn học (gồm cả văn và thơ chữ Hán và chữ Nôm).

Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu trình bày về sự nghiệp thơ văn Hán và Nôm kì vĩ của ông.

Nguyễn Trãi là cây đại thụ toả bóng rợp ngàn năm cho hậu thế. Trước ông, thơ nôm đã xuất hiện và còn để lại chứng tích ở đời Trần với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Trần Quí Khoáng, Nguyễn Biểu… (hầu hết tác phẩm của họ đã thất truyền). Những tác phẩm còn sót lại được viết khá bóng bẩy nhưng vẫn còn mang nặng khuôn sáo thơ cổ điển Trung Hoa.

Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là di sản quí báu nhất của thời kì sơ khai nền văn học dân tộc. Ông chính là một trong những “ông tổ thơ nôm” đã đặt nền móng cho nền thơ ca thành văn của dân tộc sẽ phát triển không ngừng ở các thời đại sau.

Kì tích đầu tiên của Nguyễn Trãi với thơ nôm là việc ông nhận thức được giá trị và chú tâm khai thác vốn từ ngữ của Tiếng Việt, một ngôn ngữ có đặc tính đẹp đẽ, tinh tế, biểu cảm, giàu tính tượng hình và thượng thanh, giàu âm điệu… Ông đã chọn lọc, sáng tạo thêm và sử dụng chúng trong thơ với tư cách là những từ ngữ văn học nôm đích thực như: quẩy trăng, ngại bước, thu lành lạnh, nguyệt chênh chênh, cây rợp, dửng dưng ca, hớp nguyệt, nguyệt hiện, thanh tựa nước, chim kêu cá lội, hoa xảy động, nguyệt đeo về, tổ ong tàng, núi láng giềng, mây khách khứa, say mùi đạo, đầy qua nóc, nặng với then, nắng quáng, cây im thưa thớt, gió khoan khoan đến, tơ vết, mồ hoang cỏ lục, cài lướt then, chân đi đủng đỉnh, vận xênh xang, nước biếc non xanh, đêm chờ hương quế, ngày lệ bóng hoa, nguyệt một vầng, thu vàng, tuyết bạc, ngàn núi xanh, nguyệt ba canh, lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve, phơ phơ đầu bạc, leo lẻo doành xanh …

Ông cũng mạnh dạn chuyển ngữ sang tiếng Việt nhiều từ ngữ, thành ngữ gốc tiếng Hán để cho người Việt dễ hiểu như: tường đào ngõ mận, câu quạnh cày nhàn, đạp áng mây, tấc lòng ưu ái, câu mầu, non lạ nước thanh, biển hiểm, ẩn cả, ba thân, hỏi trăng, cả dùng, cởi buồn, dưỡng dỗ, đi nghỉ, lòng thế…

Một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi là việc thay thế những câu 7 âm tiết trong thơ Đường Trung Hoa thành những câu 6 âm tiết trong thơ nôm:

Góc thành nam lều một gian, No nước uống thiếu cơm ăn. Con đòi trốn dường ai quyến, Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…

Không chỉ là bậc thầy sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ nôm, Nguyễn Trãi còn tỏ rõ ông là nhà thơ nôm thiên tài của dân tộc. Những nhà thơ lớn nhất của các thời đại sau, xét theo quan điểm lịch sử, không ai có thể vượt nổi ông.

Hầu hết thơ tả cảnh của ông đều là những kiệt tác. Có những câu thơ cực kì tài tình khiến những nhà thơ hiện đại phải kinh ngạc, khâm phục như:

– Tà dương bóng ngả áp giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu. – Cửa song dãi xâm hơi nắng, Tiếng vượn vang kêu cách non. Cây rợp tán che am mát, Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn. Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn Ủ ấp cùng ta làm cái con. – Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay Trông thế giới phút chim bay. Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay. – Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt, Mai rụng hoa đeo bóng cách song. Gió nhặt đưa qua ổ trúc, Mây tuôn phủ rợp thư phòng. – Phơ phơ đầu bạc ông câu cá, Leo lẻo doành xanh con mắt mèo. – Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Những câu thơ như vậy đâu có thua kém những câu tuyệt tác nhất của thơ Đường Trung Hoa hay của bất kì một nền thơ ưu tú nào trên thế giới? Phải chăng đây đích thực là thứ thơ mà người đời gọi là thơ tiên?

Thơ tả tình của Nguyễn Trãi cũng tài hoa không kém: những rung động tinh tế nhất của tâm hồn nhà thơ thời xưa được diễn tả một cách thần tình:

– Loàn đơn (liều lĩnh) ướm hỏi khách lầu hồng: Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng! Ngoài ấy dù (nếu) còn áo lẻ, Cả lòng (rộng lòng) mượn đắp lấy hơi cùng! – Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên. – Vì ai cho cái đỗ quyên kêu? Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. Lại có hoè hoa chen bóng lục, Thức xuân một điểm não lòng nhau…

Bằng thơ nôm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt được một cách sắc sảo và đầy rung cảm thế giới tâm tư phong phú, phức tạp, nhiều uẩn khúc của ông: những khát vọng, tâm sự ưu thời mẫn thế, những nỗi đắng cay và cả nỗi buồn được chế ngự bởi cốt cách của một bậc đại trượng phu, một vị đại ẩn sĩ:

– Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành nam lều một gian. – Quân thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời, áo cha! – Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách, Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai? – Liệu cửa nhà xem bằng quán khách, Đem công danh đổi lấy cần câu. – Lòng một tấc son còn nhớ chúa, Tóc hai phần bạc bởi thương thu. – Cội cây là đá lấy làm nhà, Lân các, ai hầu mạc (vẽ) đến ta? – Say mùi đạo, trà ba chén, Tả lòng phiền, thơ bốn câu. – Giang sơn cách đường ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba. – Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt (nghèo) đèn xanh con mắt xanh. – Lòng người một sự yêm (chán) chưng một, Đèn khách mười thu lạnh hết mười! – Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông…

Thật diệu kì: những dòng tâm sự hàm chứa những nỗi đau buồn sâu xa ấy, đã sáu trăm năm rồi mà nay đọc lại, những kẻ hậu sinh nặng lòng thương xót vĩ nhân vẫn còn sa lệ!

Bằng khối óc mẫn tuệ của nhà hiền triết và sự trải đời ít ai sánh được, Nguyễn Trãi đã đúc kết trong thơ nôm rất nhiều triết lí thâm thúy. Một điều đặc sắc là thơ triết lí của ông không khô khan mà giàu cảm xúc nghệ thuật, khi đọc lên nghe tựa như những lời cảm thán với nhân tình thế thái:

– Dưới công danh đeo khổ nhục, Trong dầy dãi có phong lưu. – Có thân chớ phải (bị) lợi danh vây. – Nếu có ăn thì có lo, Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho. – Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc, Cho hay đường lợi cực quanh co! – Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, Lòng người quanh nữa nước non quanh. – Sang cùng khó bởi chưng giời, Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi? – Con cháu chớ hiềm (ngại) song viết (cơ nghiệp) ngặt (nghèo) Thi thư thực ấy báu ngàn đời. – Chỉn sá (rất nên) lui mà thủ phận. – Ngựa ngựa xe xe la ỷ (lụa là) tốt, Dập dìu là ấy chiêm bao. – Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn, Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi. – Mã (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc, Thế gian đạm bạc, đấy lòng thường!

Mang tầm vóc của một bậc thánh sư, Nguyễn Trãi đã dùng thơ nôm để truyền đạt đến đồng bào của ông những triết lí sống có giá trị nhất, đã góp phần đắc lực xây dựng nền đạo đức và nếp sống văn hoá của dân tộc ta trong thế kỉ XV mà ý nghĩa của nó sẽ được các thời đại sau kế tục.

Nguyễn Trãi là một trong những người khai sáng nền thơ nôm thành văn của dân tộc ta. Đồng thời, với thiên tài thi ca, ông trở thành nhà thơ tiếng Việt (thơ nôm) vĩ đại hàng đầu trong làng thơ Việt Nam kim cổ, là bậc thầy thơ nôm của tất cả nhà thơ các thời đại sau.

Không những là thi hào thơ nôm, Nguyễn Trãi đồng thời là văn thi hào chữ Hán lỗi lạc, để lại uy danh muôn thuở.

Bình Ngô đại cáo của ông đuợc coi là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài “Nam quốc sơn hà…” của Lí Thường Kiệt, đã làm phấn chấn tâm hồn người Việt suốt hơn 5 thế kỉ rưỡi qua.

Bài cáo nêu bật lí tưởng cứu nước cứu dân, tinh thần nhân nghĩa, trí tuệ, khí phách và ý chí dời non lấp biển của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bằng lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn chương cổ điển, bằng giọng văn khi lâm li khi hùng tráng, tác giả đã trình bày cặn kẽ lịch trình của cuộc kháng chiến, ca ngợi chiến thắng vô cùng hiển hách của dân tộc ta:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Từ Triệu – Đinh – Lí – Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán – Đường – Tống – Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt không bao giờ thiếu. … Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo. Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay… Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay, Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng. … Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hoà, Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức. … Xã tắc do đó vững bền, Non sông từ đây đổi mới…

(Bản dịch trong Đại Việt sử kí toàn thư)

                                     Thư lại dụ hàng Vương Thông

… Nay các ông kế cùng sức tận, quân sĩ mỏi mệt, trong thiếu lương thực, ngoài thiếu viện binh, bám hờ khu đất nhỏ mọn, nghỉ tạm ở cái thành trơ trọi, chẳng phải như thịt trên thớt, như cá trong nồi đó sao? … Nay ta tính hộ các ông có sáu điều phải thua: – Nước lụt chảy, tường rào đổ sập, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất. – Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi ta đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, mà viện binh đã thua thì các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai. – Nước các ông quân mạnh ngựa tốt đều đóng cả ở đất Bắc phòng bị quân Nguyên, không rỗi ngó đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba. – Nước các ông luôn động can qua, liên tiếp gây sự đánh dẹp làm cho người ta sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư. – Nước các ông gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, mối hoạ bùng ra từ trong nhà. Đó là điều phải thua thứ năm. – Chúng ta dấy nghĩa binh trên dưới cùng lòng, anh hùng dốc sức, quân sĩ ngày càng luyện, khí giới ngày càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Đó là điều phải thua thứ sáu. Nay các ông giữ một cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là thơ ở đỉnh cao, không thua thơ Đường, Tống. Cùng với những cây bút thơ chữ Hán cự phách của Việt nam như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…, thơ của ông đã góp phần quan trọng tạo dựng một nền thơ chữ Hán kì vĩ trong quá khứ trên đất nước ta.

Vì sao tổ tiên ta lại dùng chữ Hán để viết văn, làm thơ về những đề tài hoàn toàn thuộc đất nước và dân tộc ta? Theo thiển ý của chúng tôi, đó không phải một điều đáng mừng, đáng hoan nghênh như quan điểm của những đầu óc thiếu khả năng phán đoán và nắm bắt chân lí. Bởi còn gì tuyệt diệu hơn là dùng chính Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ – để viết tác phẩm cho tất cả người Việt cùng nghe, cùng hiểu, không phải thông dịch? Do đó, việc phải tiếp tục dùng chữ Hán để trước tác văn chương cũng như dùng làm văn tự chính thức trong bộ máy hành chính quốc gia suốt bao nhiêu thế kỉ tự chủ (sau thời Bắc thuộc), chỉ là việc “không thể nào khác được” của dân tộc ta mà thôi. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, bọn thống trị phương Bắc muốn biến nước ta thành quận huyện của Trung Hoa. Vì vậy mà chữ Việt cổ bị tiêu diệt, tiếng Việt bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài, Tiếng Hán (dưới dạng âm Hán – Việt) và chữ Hán đương nhiên giữ địa vị độc tôn. Phải mất vài thế kỉ của thời đại tự chủ, người Việt mới chế tác ra chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, bổ khuyết một lỗ hổng lớn của nền văn hóa dân tộc.

Trong hoàn cảnh “bất khả kháng” đó, Nguyễn Trãi cũng như các trí thức phong kiến khác, đã nhạy bén dùng chính chữ Hán để trước tác nên những tác phẩm thuộc đủ mọi lĩnh vực mang nội dung hoàn toàn Việt Nam. Và điều vô cùng đáng tự hào là những trước tác đó đã đạt tới trình độ tương đương với những trước tác chính cống của Trung Hoa. Chúng tôi xin trích dẫn một kiệt tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi:

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng, Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng. Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc, Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng. Quan hà bách nhị do thiên thiết, Hào kiệt công danh thử địa tằng. Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ, Lâm lưu phủ ý cánh nan thăng.

Cửa biển Bạch Đằng

Biển rung gió bấc thế bừng bừng, Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng. Kình ngạc băm vằm non mấy khúc, Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng. Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng. Việc trước quay đầu ôi đã vắng, Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.]

Nguyễn Đình Hổ dịch

Nội dung thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng phong phú như thơ nôm của ông: Có bài hùng hồn giống như Bình Ngô đại cáo (ví dụ bài thơ trên), có bài mô tả thiên nhiên tuyệt mĩ:

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nguyệt chính hồng. Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung…

(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)

[Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời, Đầu canh năm đã sáng trưng rồi. Mắt ngoài biển cả ôm trời đất, Người giữa mây xanh vẳng nói cười…]

Khương Hữu Dụng dịch

Có nhiều bài hàm chứa những tâm sự thẳm sâu, những nỗi đau đời của một con người vô cùng cao thượng nhưng lại phải trải qua bao cảnh thăng trầm giữa cuộc đời điên đảo:

Phù trục thăng trầm ngũ thập niên, Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên. Hư danh thực hoạ thù kham tiếu, Chúng báng cô trung tuyệt khả liên!

(Oan thán)

[Biển tục thăng trầm nửa cuộc đời, Non xưa suối đá phụ duyên rồi. Trung côi, ghét lắm, bao đau xót, Hoạ thực danh hư khéo nực cười!]

Thạch Can dịch

Nguyễn Trãi từng có một nhận định sâu sắc: “Nước ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh, nhưng từ xưa đã nổi tiếng là một nước thi thư”. Ở thời đại ông, những tinh hoa của cái thi thư ấy kết tinh nơi ông, và ông có niềm tin sắt đá vào sự bất diệt của nó. Chính vì vậy mà khi lâm nạn, bị Lê Thái Tổ hạ ngục năm 1429, ông viết:

Số hữu nan đào tri thị mệnh,

Văn như vị táng dã quan thiên.

(Số khó lọt vành âu bởi mệnh, Văn chưa tàn lụi cũng do trời)

Nguyễn Trãi đã mang niềm tin ấy để ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Thiên ở đây là gì? Là chân lí vĩnh cửu.

Lịch sử đã chứng minh hùng hồn chân lí vĩnh cửu mà ông hằng ôm ấp. Sự nghiệp vĩ đại của ông về chính trị, quân sự, văn chương, và phẩm cách cao cả, danh hiệu “anh hùng dân tộc” của ông ngày nay đã được toàn dân tộc ta xác nhận, tôn thờ. Không chỉ thế, vào năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông, ông đã được cả loài người tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới.

Dân tộc ta xiết bao tự hào đã sản sinh ra một con người toàn thiện làm vẻ vang cho đất nước và dân tộc!

Ở Trung Hoa, những tác phẩm văn hoá lớn của các bậc thánh hiền được gọi là những bộ KINH như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Thiết nghĩ toàn bộ trước tác bất hủ của Nguyễn Trãi rất xứng đáng với tầm vóc và danh hiệu một bộ KINH của người Việt để toàn dân tộc học tập, nghiền ngẫm trên con đường đi tới tương lai. Đó cũng chính là sự trả lời của hậu thế với câu hỏi da diết của ông:

Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng? (Mực thước người sau học nữa chăng?)

Nguồn: http://newvietart.com

Thử Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hoá Việt Nam

Trước hết ta hãy xem: Nó là một cái gì đó hay nó là những cái gì đó.

Thực ra bản sắc dân tộc mà quy vào “một cái gì” thì khó. Bản sắc vốn là cái gì trừu tượng biến hóa uyển chuyển linh hoạt. Nó là một, nhưng lại là nhiều, là nhiều nhưng tụ lại, lại là một. Nếu là nhiều cái có thể thu xếp để liệt kê, để cộng lại thì lại thành ra liệt kê bảng giá trị truyền thống và, khó có sự biểu hiện nhất quán. Nhưng nếu là một cái thì làm sao nó mô tả hết được cái phong phú, cái lung linh của diện mạo tinh thần của một dân tộc, một con người. Cho nên, tôi tạm cho rằng nó là “một” nhưng cái “một” này là một đặc biệt, nó biến hóa, nó lung linh, nó có thể nhìn ra “nhiều”, cái “nhiều” này nó xen cài nhau, quấn quít, hòa trộn nhau vào trong “một”.

Còn anh nêu lên – anh không có ý định nêu lên, nhưng tôi lượm ra – một cái là cái Anh hùng bình dị. Như thế cái tính cách chung của Việt Nam là anh hùng, anh hùng nhưng bình dị, không khoa trương, không cường điệu, không ầm ĩ. Bình dị nhưng lại rất anh hùng. Một thứ anh hùng bình dị, và một số bình dị rất anh hùng. Anh bộ đội Việt Nam, anh bộ đội Cụ Hồ trong suốt thời gian của cuộc kháng chiến dài mấy chục năm thật là một hình ảnh sinh động và rõ rệt của cái chất anh hùng bình dị – Bất cứ ai gặp và nhìn thấy, tiếp xúc với các chiến sĩ của ta đều có ấn tượng rất rõ rệt. Sao mà anh ta hiền thế. Đúng. Anh rất hiền, rất khiêm tốn, rất “bình thường”, nhiều khi còn có thẹn nữa. Thế nhưng anh lại làm nhiều chuyện phi thường, lập nhiều chiến công kỳ diệu, nhiều hành động anh hùng thật lẫm liệt. Anh lập những chiến công lớn cũng lại bình thường như anh lao động, học tập hàng ngày. Anh có cuộc sống thật bình dị anh hùng, thật Việt Nam! Có thể nói, tôi rất thích cái khái quát này, nhưng tôi vẫn e nó chưa chứa đựng hết, dù cho chỉ là hết những điều chủ yếu nhất. Tôi xin lượm thêm nhiều ý kiến đưa ra một cách diễn giải khác. Cách diễn giải này chỉ ra bản sắc Việt Nam có ba điểm (hay ba mặt) ba mặt này quyện lại xoay quanh một cái, một cái đó nếu tìm cho nó một tên gọi thì chỉ có thể gọi đó là cái Việt Nam, cái chất Việt Nam, cái tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.

Ba điểm hay ba mặt này có thể coi như ba đặc điểm của dân tộc, hay ba giá trị tinh thần của dân tộc ta. Nhưng nếu nói đặc điểm thì chỉ nêu ba đặc điểm là không đủ. Và nếu nói giá trị thì lại càng không đủ. Những giá trị tinh thần của dân tộc còn nhiều và phong phú lắm. Giáo sư Trần Văn Giàu đã nêu lên một bảng giá trị có 7 giá trị. Vì có lẽ cũng có thể có nhiều cách nêu bảng giá trị khác nhau. Ở đây tôi thử tìm cái gì gọi là cái tinh túy, cái cốt lõi của cái giá trị là những cái biểu hiện chủ yếu của cái gọi là bản sắc dân tộc theo quan niệm như đã nêu ở phần trên.

Ba điểm (hay ba mặt) đó là:

– Tinh thần yêu nước kiên cường anh hùng sâu sắc trong ý chí.

– Tính cách bình dị của tâm hồn.

– Quan hệ giữa người và người là tình nghĩa.

Tinh thần yêu nước Việt Nam đã được ta nói đến nhiều và thế giới cũng nói đến nhiều. Đến nay bàn thêm cũng khó có điều gì nói thêm được. Nhìn lại ta thấy tinh thần yêu nước Việt Nam nói lên mấy nét: rất kiên cường anh hùng bền vững và sâu sắc, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cội nguồn, tôn trọng yêu mến cội nguồn tổ tiên, thờ phụng tổ tiên như một lẽ sống mỗi người. Điều đó ăn sâu trong mỗi người, có lúc nó bị chìm hẳn đi, hầu như bị quên mất hẳn, nhưng mỗi khi có điều kiện khơi dậy nó lại bùng cháy mãnh liệt làm nên sức mạnh tinh thần to lớn. Chúng ta đều thấy lịch sử dân tộc ta đã mất đến 1.000 năm Bắc thuộc, mất nước thế nhưng không ai quên ông Tổ mình là vua Hùng, không ai quên nguồn gốc mình là từ “con rồng cháu tiên” cao quý. Ngay từ rất sớm Hai Bà Trưng nổi dậy cũng với ý thức “nối nghiệp vua Hùng”. Tất cả các lãnh tụ khởi nghĩa chống ngoại xâm sau này đều nêu cao nguồn gốc dân tộc để động viên tập hợp nhân dân chiến đấu. Cho đến ngày nay câu nói của Bác Hồ xúc động sâu xa lòng người nhiều cũng là câu “Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Người Việt Nam dù cho dưới thời phong kiến, yêu nước không phải là yêu vua mà là yêu đất nước, quê hương, tổ tiên. Ông vua nào chiến đấu cho tình yêu ấy thì cũng được dân tin yêu, dân tin yêu vua không phải vì vua là con trời, là vua chịu mệnh trời mà là vua thay mặt nhân dân lãnh đạo nhân dân bảo vệ lấy đất nước, quê hương và nguồn gốc tổ tiên. Ông vua nào làm ngược lại thì nhân dân khinh ghét và sẵn sàng chống lại. Nơi thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam là “Mả Tổ”, ngày thiêng liêng nhất là ngày “giỗ Tổ”, hành động xúc phạm nhất là hành động “đào mả Tổ”, lời chửi cay độc nhất cũng là lời chửi dọa “đào mả Tổ”.

Yêu nước là một tình cảm ăn vào máu thịt người Việt Nam, không bao giờ nguôi, không bao giờ quên, không bao giờ nhạt, không bao giờ mất. Chỉ có lúc dân ta phải che dấu nó đến khi ta có quyền, có điều kiện thì lại bộc lộ ra đầy đủ – tất nhiên vẫn phải loại trừ một số nhỏ người “mất gốc”. Vì vậy chúng ta có nhiều cuộc chiến đấu dành độc lập kiên cường rất dài ngày. Nhà Trần ba lần chuẩn bị và tiến hành kháng chiến trong 20 năm, Lê Lợi mười năm, Hồ Chí Minh ba mươi năm, phiêu bạt tìm đường cứu nước và cuộc chiến đấu toàn dân ba mươi năm nữa. Có nhiều chiến sĩ dành nửa đời hoặc cả đời người chịu một cuộc sống trăm nghìn gian khổ, cực nhục vẫn nuôi chí bền cứu nước. Có những cuộc vùng dậy với khí thế nhất tề như vũ bão đánh bạt mọi uy vũ, mọi sự đe dọa của ngoại bang, có những địa phương, những nhóm người mà quân xâm lược tưởng đã hoàn toàn khuất phục được bất ngờ lại quật lại ngay trong lòng và sau lưng chúng v.v…

Thật là một tinh thần tình yêu nước mang bản sắc Việt Nam.

Bình dị là một nét đẹp Việt Nam. Bình dị không phải là một phẩm chất đạo đức. Nó là một nét đẹp, nét cao cả của tâm hồn. Nó như một hương thơm gồm nhiều mùi hương, như một ánh sáng gồm nhiều màu sắc, hương thơm và ánh sáng ấy tỏa rộng trong không gian với muôn màu muôn vẻ. Bình dị không phải chỉ là giản dị. Bình dị nó hàm chứa cả sự giản dị, sự khiêm tốn, sự đúng mực, vừa phải, sự hồn nhiên, sự nhân hậu, sự khoan dung, độ lượng, nó ngược lại với tính khoa trương, cường điệu, giả tạo, khe khắt, gay gắt, ngược ngạo, hoặc tủn mủn, vụn vặt. Bình dị là lòng yêu thiên nhiên, gần thiên nhiên, gắn với thiên nhiên, hòa với thiên nhiên, là bộc lộ bản chất người một cách chân chất hồn nhiên. Bình dị biểu hiện chủ yếu trong lối sống, và trong thị hiếu thẩm mỹ.

Bình dị là từ trong tâm hồn, từ ở tấm lòng. Con người có tấm lòng bình dị tự nhiên có những hành vi tỏa ra một tình cảm ấm áp đầy sức thuyết phục và cảm hóa người khác. Để thấy rõ nét bình dị trong tính cách và tâm hồn Việt Nam, không gì hơn khi ta nhìn vào Bác Hồ – Không phải ngẫu nhiên mà thế giới gắn hai chữ Việt Nam và Hồ Chí Minh liền nhau. Về mặt bản sắc mà nói thì Việt Nam đồng nghĩa với Hồ Chí Minh và ngược lại, cái bản sắc Việt Nam chính là cái Hồ Chí Minh, cái bản sắc Hồ Chí Minh chính là cái Việt Nam. Ngay từ lần đầu tiên, Bác tiếp xúc công khai với đông đảo đồng bào, câu nói nổi tiếng của Bác: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” có sức mạnh cảm hóa phi thường, câu nói ấy xuất phát từ tấm lòng bình dị tràn đầy yêu thương sâu sắc, nó hồn nhiên, nó tất yếu, nó không khác được. Nó không mầu mè, không gượng ép, nó làm Bác hòa vào nhân dân, nhân dân hòa vào Bác. Sau này trong bất cứ cuộc tiếp xúc nào, những cử chỉ của Bác đối với các cụ già, các “cô phụ nữ”, “các cháu nhi đồng” đều ấm áp, tự nhiên, thân tình như vậy. Không thể có ai “làm giả” ra được những điều như vậy. Bình dị đi liền với trung thực.

Bác sống một cuộc sống hết sức đơn sơ, giản dị, từ nhà ở, áo mặc, đồ dùng đến cơm ăn nước uống. Không phải Bác cố làm ra cho nó giản dị, không phải Bác cố làm gương cho cán bộ đồng bào noi theo, mà Bác yêu thích như vậy. Tấm lòng Bác như vậy, Bác sống tự nhiên như tấm lòng Bác sai khiến.

Tuy thế bình dị hoàn toàn không có nghĩa là tùy tiện, xuề xòa, là suồng sã. Bình dị có những nguyên tắc rất nghiêm túc của nó.

Bác mặc quần áo rất đơn sơ, dùng những đồ dùng giản dị, không cần cầu kỳ: cái quạt nan, cái mũ lá, đôi dép lốp. Nhưng mỗi khi ta thấy Bác, ta vẫn thấy một tư thế uy nghi của một vị lãnh đạo, một cha già, một người thầy nghiêm khắc và thân ái, hoặc hơn nữa một ông tiên tao nhã, chỉnh tề, ta không thể nào có ấn tượng đứng trước một cái gì gọi là xuề xòa tầm thường.

Đó chính là cái bình dị trong tâm hồn của Người tỏa sáng ra toàn bộ phong thái của Người. Cái bình dị trong Bác Hồ được hun đúc lên do lòng yêu nước, yêu người của Bác sâu sắc và bao la, do cuộc sống của Bác bôn ba năm châu bốn biển, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều hạng người. Bác có một vốn sống cực kỳ phong phú và vững chắc, vì vậy trong cuộc sống chiến đấu, công tác cũng như cuộc sống cá nhân hàng ngày, không bao giờ Bác gặp điều gì phải có một chút bỡ ngỡ. Cái bình dị của Bác đạt tới mức ung dung thư thái. Năm 1946, Bác dạy bộ đội chúng tôi một câu, tôi nhớ mãi: “Khi không có giặc coi như có giặc, khi có giặc, coi như không có giặc” và khi Bác đi vắng, Bác dặn cụ Huỳnh ở nhà: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái bình tĩnh mà ứng phó với vạn cái biến động). Cái bình dị, ung dung thư thái của Bác đạt tới đỉnh cao, nó có một sức thu phục và cảm hóa hết sức mãnh liệt.

Cái bình dị bao giờ cũng hồn nhiên, cũng biểu hiện hồn nhiên, có hồn nhiên thì mới bình dị, vì vậy bình dị hàm chứa sự khoan dung, sự chân thành, trung thực, hàm chứa tình yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Thực ra cũng có những thứ hồn nhiên, trung thực ồn ào, mạnh mẽ khẩn trương, nhưng phong cách Việt Nam là bình dị, là ung dung thư thái, êm dịu, sâu lắng. Tất cả nó thành bình dị. Bình dị là một phong cách Việt Nam. Chính Bác Hồ là người đã kết tinh nhiều vẻ của cái bình dị Việt Nam vào trong phong cách của mình làm nên một cái bình dị Việt Nam với một tầm cao mới, nêu lên một lý tưởng về phong cách mà mọi người Việt Nam đều yêu mến, ngưỡng mộ, hướng tới, ghi nhận lại như là một nét đậm đà của bản sắc Việt Nam trong phong cách sống.

Bình dị Việt Nam còn biểu hiện rõ ở thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật Việt Nam. Các cảnh quan, công trình xây dựng của người Việt Nam từ lịch sử nhiều năm lưu lại đều để cho người đời những ấn tượng một vừa hai phải, xinh gọn, trang nhã, thân mật gần gũi. Ta không có công trình đồ sộ nguy nga quá cỡ gây những ấn tượng choáng ngợp với con người, cũng không có những tác phẩm nghệ thuật nào quá tỉ mỉ nhỏ bé đến nỗi mắt thường không thể nhìn thấy được. Ta không có những thành cao như núi, nhà chọc trời và hạt gạo có khắc cả một bài thơ v.v… Trong thị hiếu hàng ngày người ta thường nói đến trang nhã, thanh lịch, người ta chê trách những gì lòe loẹt, sặc sỡ, diêm dúa, màu mè. Công trình đồ sộ nhất của ta là hệ thống đê chống lũ lụt của đồng bằng sông Hồng.

Về văn học nghệ thuật, ta không có những trường ca hàng chục ngàn câu, những tiểu thuyết hàng chục ngàn trang và hàng ngàn nhân vật, mà những tác phẩm hay nhất là những bài thơ xinh gọn độ 50 chữ hoặc vài trăm chữ, những bài phú ngót ngàn chữ, những tiểu thuyết thơ, văn xuôi độ 200 – 300 trang.

Bàn về cái bình dị Việt Nam biểu hiện trong thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật thì đụng phải nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp khó khăn. Trong phạm vi bài này, tôi không đủ sức đi vào, tôi chỉ xin dừng lại bàn sơ sài chút ít về sự ưa thích của người Việt Nam đối với âm thanh (và giai điệu) về màu sắc (và hình dáng) tức là đụng chút ít đến âm nhạc và nghệ thuật tạo hình. Còn khi nói về sự ưa thích cũng là nói nặng về sự ưa thích cổ truyền còn lưu đến bây giờ, chứ không bao quát hết được mọi sự ưa thích ở mọi vùng, mọi thời gian khác nhau và những sự ưa thích lại đang biến đổi.

Đại thể người Việt Nam ta ưa thích những âm thanh và giai điệu êm ả, dịu dàng, dìu dặt réo rắt đơn giản, thích những âm sắc gần thiên nhiên, rút từ chất liệu thiên nhiên, ví dụ tiếng tơ, tiếng trúc, từ tơ tằm, từ cây trúc, ít thích những hòa âm đồ sộ dồn dập kích động. Tất nhiên đây là nói đại thể chứ không phải toàn bộ, tất cả. Những âm thanh gợi nhớ quê hương, gợi nhớ một tình cảm ân tình lưu luyến man mác là tiếng sáo diều, tiếng sáo trúc, tiếng nhị, tiếng đàn nguyệt, đàn bầu, tiếng trống, tiếng mõ (đều từ chất liệu gỗ, tre, da v.v…). Những làn điệu dân ca là những làn điệu chậm rãi ê a, nhạc nhiều, lời ít, láy đi láy lại, mỗi lời như đã được khắc sâu vào người nghe. Tất cả, có thể quyện vào tiếng gió, tiếng sóng, tiếng chim lan tỏa trong không gian, thấm đượm nhẹ nhàng vào lòng người. Nghệ sĩ và thính giả nhiều khi là một đối một, hoặc thính giả chỉ là một nhóm người rất nhỏ trong một không khí gia đình thân thuộc, không có những cuộc diễn tấu đồ sộ ồn ào trừ những ngày lễ hội có rước sách; nhịp điệu thường êm ái nhẹ nhàng.

Có thể coi đó là cái bình dị trong âm nhạc, cái nhẹ nhàng hồn hậu của âm nhạc Việt Nam. Có một hồi rộ lên, đa số thanh niên nhất là ở các thành phố đổ xô nhau vào các loại nhạc nhẹ, thế giới và các tác giả Việt Nam cũng viết nhiều ca khúc, kiểu nhạc nhẹ, các ca sĩ thay đổi cách biểu diễn. Người ta hướng về những âm thanh mạnh mẽ, dồn dập gay gắt, những nhịp điệu kích động, lối biểu diễn gào thét khoa trương. Đó là một hiện tượng có sự đòi hỏi của một sự biến động tâm lý mới, một ảnh hưởng của trào lưu công nghiệp thế giới. Nhưng bình tĩnh lại xem xét, hiện tượng đó không để lại dấu vết sâu xa trong tâm hồn Việt Nam. Có một hiện tượng khác vẫn diễn ra. Người ta vẫn hoan nghênh ưa thích các ca khúc đậm đà âm hưởng của dân ca, bắt nguồn từ các giai điệu dân ca. Một cuộc điều tra của Vụ Nhạc Múa Bộ Văn hoá cho biết khi hỏi các thanh niên về những bài hát ưa thích thì trong 10 bài thanh niên ưa thích, có đến 8 bài là bắt nguồn từ dân ca như “Dáng đứng Bến Tre”, “Đất đỏ miền Đông”, “Một khúc tâm tình của người Nghệ Tĩnh”, v.v… chứ không phải những bài nhịp điệu dồn dập và âm thanh gào thét. Phân tích tình hình này, các đồng chí ở Vụ Nhạc Múa nhận xét: Rõ ràng là thanh niên Việt Nam vẫn mang tâm hồn Việt Nam vẫn ưa thích cái gì vốn là của mình. Nhưng với điều kiện phải được nâng cao, người ta không thể thích dân ca nguyên xi như cũ. Đồng thời số bài hát sáng tác theo mô-típ mô phỏng dân ca hoặc nâng cao dân ca xuất hiện ngày càng nhiều. Các nhạc sĩ sáng tác đều có ý thức sâu sắc khai thác vốn âm nhạc cổ truyền cả trong âm nhạc không lời. Như vậy cái bản sắc dân tộc trong âm nhạc vẫn được các nhạc sĩ trân trọng và được quần chúng (cả thanh niên) ưa thích, thừa nhận và yêu mến. Đó là một chiều hướng phát triển tốt đẹp. Tất nhiên trong lúc có nhiều biến động mạnh mẽ về nhiều mặt, không khỏi có những chuệch choạc chỗ này chỗ khác, nhưng trong chiều đi chung của lịch sử vẫn có một chiều đi tốt đẹp ngày càng được khẳng định, ngày càng được mạnh lên. Bản sắc dân tộc vẫn có một sức mạnh riêng của nó trong cuộc sống. Cuộc sống có đòi hỏi sự phát triển, nhưng nếu sự phát triển được thúc đẩy một cách có ý thức và hợp quy luật thì phần bền vững của bản sắc càng thêm bền vững và bản sắc lại phát triển cao hơn, phong phú hơn. Giữ gìn bản sắc không phải là bảo thủ trì trệ, là hoài cổ, là từ chối mọi sự tiến lên.

Về mặt ưa thích màu sắc lại có nhiều tình hình thú vị. Cũng đại thể mà nói, người Việt Nam ưa thích các màu sắc dịu dàng, nhẹ nhàng, sáng sủa, thanh nhã, hài hòa, ưa thích các màu sắc của thiên nhiên, bắt nguồn từ thiên nhiên.

Người Việt Nam chơi hoa trọng hương hơn trọng sắc, thích những thứ hoa gì màu nhẹ nhưng có hương, như các thứ lan, như hoa ngâu, hoa nhài, hoa huệ, kể cả hoa bưởi, hoa dạ hợp, dạ hương.

Nếu hoa có màu thì thích loại màu nhẹ, dịu như phấn hồng, tím nhạt, vàng nhạt, nếu có màu gắt là những điểm nhỏ li ti của những cánh hoa nhỏ hoặc là những điểm nhỏ trên nền lớn màu nhẹ. Không phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả các màu Việt Nam đều lấy tên của thiên nhiên đặt vào và các tên đó phần lớn ứng vào các màu thuộc gam nhạt, thanh – những tên đó như sau:

Xanh thì có da trời, nước biển, cỏ non, lá mạ, hoa lý, nõn chuối, cỏ úa, cứt ngựa.

Đỏ thì có gấc, son, mặt trời mọc, mào gà.

Đỏ nhạt thì có da cam, gạch non, da bò, gạch cua, lòng tôm, hoa đào.

Nâu thì có vỏ già, gụ, nâu non.

Đen thì có hạt huyền, hạt na, than.

Tím thì có bồ quân, hoa sim, hoa mua, hoa cà, mận chín, quả mồng tơi.

Trắng có trứng gà bóc, hoa huệ, vôi, tuyết.

Tôi không biết thế giới có nước nào có một ngôn ngữ đặt tên màu thú vị như thế hay không? Một màu có thể thật gắt nhưng cho nó một tên quả, tên lá, tên hoa, tự nhiên nó lại nhẹ đi rất nhiều như đỏ như gấc, đỏ như hoa mào gà.

Cái bình dị trong màu sắc chủ yếu là cái dịu dàng, nhẹ nhàng, thanh nhã.

Còn về hình dáng các đồ vật, các công trình nói chung người Việt Nam ưa thích cái nhẹ nhàng, thanh mảnh, thanh thoát, thoáng đạt. Gần đây có rất nhiều công trình kiến trúc hiện đại, tôi thường được nghe những ý kiến nhận xét nặng nề cục mịch. Cho dù công trình có nguy nga, đồ sộ, người ta cũng thích nó thanh thoát nhẹ nhàng. Không biết các nhà kiến trúc nghĩ sao về điều này.

Như vậy thị hiếu thẩm mỹ Việt Nam là một thị hiếu tinh tế hướng tới cái thanh tao, trang nhã gắn với thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên, hướng tới một cái đẹp bình dị hồn nhiên, nó nhất quán với cái bình dị hồn nhiên nhân hậu trong phong cách sống, trong phong cách ứng xử của con người tạo nên một bản sắc bình dị Việt Nam gắn với thiên nhiên và hòa vào thiên nhiên, một mặt nói lên trình độ phát triển xã hội: ta mới ở vào thời kỳ tiền công nghiệp. Nhưng nó cũng lại là một bản sắc quý giá. Cái xã hội công nghiệp trong khi công nghiệp hóa đã phá hoại thiên nhiên nhiều, phá vỡ sự cân bằng môi trường, ngày nay chính những người trong xã hội công nghiệp phát triển lại thèm khát thiên nhiên, muốn trở lại với thiên nhiên cho họ. Nhưng thiên nhiên được tạo lại có vẻ đẹp hơn thì vẫn là thiên nhiên giả, họ vẫn tìm đến thiên nhiên thật. Thế mà Việt Nam ta vốn có cái bản sắc quý giá là gần thiên nhiên hòa vào thiên nhiên là một điều thật không dễ gì có được. Cũng như đối với âm thanh, có một hồi, ta thấy xuất hiện nhiều sự ưa thích màu sắc mạnh mẽ và từng mảng lớn: quần áo đỏ, áo có hoa rất to, màu rất gắt, ta cũng thấy hình như có một sự phát triển của thị hiếu phù hợp với sự phát triển công nghiệp. Nhưng hình như nó chỉ rộ lên một thời gian, nhất là mấy năm sau khi thống nhất đất nước, đến bây giờ tuy hiện tượng đó vẫn còn nhưng không còn rầm rộ, ồ ạt, mà chiều hướng chung hầu như lại lắng xuống, người ta lại trở về với bản sắc cổ truyền. Cũng có một tình hình là, các lớp người thường rất sôi nổi và hiếu động, ham chuộng sự mới lạ cuồng nhiệt vào tuổi mới bắt đầu trưởng thành. Khi người ta đã đến tuổi hơi đứng (quãng 30) thì ý thức về nguồn gốc, về cội nguồn mạnh lên, rõ hơn và ý thức về bản sắc rõ rệt hơn.

Đến đây, ta lại gặp vấn đề cần bàn tiếp: Bình dị, đi liền với trung thực, nhân hậu và hồn nhiên, là một nét đẹp của tâm hồn Việt Nam, nét đẹp bình dị đó có thể hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thời đại trong sự phát triển xã hội không?

Thời đại hiện nay yêu cầu công nghiệp hóa, yêu cầu khoa học kỹ thuật, yêu cầu quốc tế hóa nhiều mặt ngày càng cao. Do đó con người cần phải khẩn trương, chính xác, phong phú và phải ứng xử trong nhiều điều kiện phức tạp, đa dạng. Vậy bình dị có mặt nào tiêu cực, trở ngại cho những yêu cầu phát triển mới hay không?

Tôi có được nghe một nghệ sĩ sáng tác nói thế này: “Đứng trước phong cảnh nông thôn Việt Nam, tôi dễ dàng xúc động với cảnh con đò, bến nước, gốc đa. Còn chưa động được như vậy trước những máy kéo và trạm bơm…”

Tôi cứ suy nghĩ mãi: “Đó là điều đáng trách hay không đáng trách?”.

Cần phải nói thêm: Bình dị hoàn toàn không có nghĩa là đơn giản, tùy tiện. Đơn giản và tùy tiện quả thực là những điều ngày nay ta không thể chấp nhận được. Nhưng có thứ khẩn trương ầm ĩ và khoa trương, và có thứ khẩn trương chính xác nhưng ung dung êm ả. Riêng tôi, thực sự tôi thấy không ưa những người luôn luôn nói lên và làm ra bộ tất bật vội vàng, luôn lớn tiếng thông báo “lịch công tác” rất dày đặc của mình; luôn luôn cho mọi người có tăm tiếng lớn và sắp “phải” gặp những người có chức vụ quan trọng. Và ngược lại tôi thấy yêu mến cảm phục những người phải làm rất nhiều những việc nặng nề, nhưng luôn thư thái ung dung, lặng lẽ, không quay cuồng, không cuống quýt, không vội vã, hay có vội vã cũng vội vã một cách ung dung, khẩn trương một cách thư thái.

Từ đó, tôi cho rằng một mặt ta cần cảnh giác với một khía cạnh là: bình dị “có họ hàng” với lề mề, chậm chạp, tùy tiện, đơn giản để đề phòng nó. Mặt khác ta hoàn toàn có thể thực hiện những yêu cầu mới trong phong cách, lối sống và cảm xúc hàng ngày là khẩn trương, chính xác và tinh vi mà vẫn có thể cho nó một vẻ đẹp sâu sắc: bình dị nghĩa là ung dung, hồn nhiên, trung thực và nhân hậu.

Như vậy ta vẫn có thể có một văn hóa công nghiệp, hiện đại mà vẫn có vẻ đẹp bình dị với điều kiện ta quan niệm nét đẹp bình dị với tất cả chiều sâu của nó.

***

Trong ca dao còn có nhiều câu nói lên cái ý vị ấy.

Tới đây đầu lạ sau quen

Bóng trăng là nghĩa, ngọn đèn là duyên.

Thuyền chài, thuyền lái, thuyền câu

Biết thuyền ân ngãi nơi đâu mà tìm.

Thuyền đi để bến đợi chờ

Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.

Chẳng nên tình trước nghĩa sau

Bến này giải phóng trăng thâu đợi thuyền.

Trầu xanh, cau trắng, cau hồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên

v.v… và v.v…

Như vậy tình nghĩa đều là tình cảm, là thứ tình cảm đặc biệt sâu sắc có ràng buộc, có thủy chung, ràng buộc đây không phải ràng buộc bằng nghĩa lý, nghĩa vụ mà bằng nghĩa tình.

Đồng chí Lê Duẩn nói “Tình thương và lẽ phải”, có thể được coi như một cách diễn đạt mới của tình nghĩa. Lẽ phải đây cũng có ý nghĩa “tình”, lẽ phải đây là lẽ thuyết phục, lẽ cảm hóa, không phải là lẽ phải cãi lý, ai chết lý phải chịu. Có người có lý mà không có lẽ phải. Chứ không phải có lý là có lẽ phải đâu. Tôi hiểu chữ “tình thương và lẽ phải” tức là tình nghĩa theo nghĩa truyền thống được hiểu trong nhân dân. Người ta thường nói tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa cha con, tình nghĩa anh em, tình nghĩa bạn bè, tình nghĩa thầy trò, tình nghĩa đồng chí, tình nghĩa họ hàng, tình nghĩa hàng xóm – Tình là tình cảm yêu thương, nghĩa là tình cảm của một mối quan hệ có ràng buộc, vì vậy thì gặp người hoạn nạn khó khăn ta có thể có tình thương (thương xót, thương hại) cứu giúp. Chứ không ai nói tình nghĩa

người đi đường, tình nghĩa với người bị nạn. Có chăng lúc ấy, lại là thứ tình nghĩa rộng lớn: tình nghĩa đồng bào. Nghĩa này là tình trộn vào với tình. Còn như nếu tách ra tình nghĩa là tình cảm + nghĩa vụ và như trong câu người ta thường nói hết tình còn cái nghĩa, thì cái nghĩa (nghĩa vụ) đó thường mong manh và mất luôn. Tình nghĩa còn thì còn cả, mất thì mất cả.

Cũng cần bàn thêm các mặt khác nhau của tình nghĩa. Ta có thể e ngại một cách chính đáng là tình nghĩa, nếu thiếu một nền tảng khoa học, thiếu một lý tưởng mục tiêu cách mạng, có thể phát huy mặt tiêu cực: nể nang dè dặt, gia đình chủ nghĩa… tạo ra một trạng thái, trì trệ nặng nề trong cuộc sống. Khi tình nghĩa phát triển thành “chủ nghĩa tình cảm” thì nhiều mối quan hệ nguyên tắc trong sinh hoạt chính trị – xã hội bị phá vỡ ; không còn nguyên tắc tập trung dân chủ: Trong một tổ chức bàn bạc công việc không có biểu quyết và thực hiện thiểu số phục tùng đa số, mà bất cứ việc gì cũng phải chờ đợi sự nhất trí hoàn toàn mà thời hạn của sự chờ đợi này có khi là vô hạn định, do đó công việc không được quyết định. Cấp trên thương cấp dưới, cấp dưới nể cấp trên, không có kỷ luật, chỉ có thuyết phục và chờ đợi, không có trách nhiệm cá nhân cụ thể, không sao tìm ra được con người cụ thể chịu trách nhiệm về một khuyết điểm cụ thể nào. Cấp trên quyết định, cấp dưới không nghe, không thực hiện cũng được, công việc cứ gác lại. Cấp trên có những quyết định sai, hành động sai, cấp dưới biết rõ, nhưng vẫn nghe theo, làm theo và lại còn thuyết minh ngụy biện để bao che, và cũng coi đó là tình nghĩa, là thương nhau. Công tác tổ chức, sử dụng cán bộ lấy tình cảm ưa ghét làm tiêu chuẩn, không lấy tính hiệu quả và tính trung thực làm tiêu chuẩn. Điều này khuyến khích phát triển chủ nghĩa cơ hội, một số người lấy việc nghe theo cấp trên, nịnh cấp trên làm con đường tiến thân. Chủ nghĩa cá nhân phát triển cả ở cấp trên và cấp dưới: Cấp trên thích nịnh nên khuyến khích cấp dưới nịnh bợ. Đó là một thứ tình nghĩa chết tiệt, phá hoại đạo đức xã hội và phá hoại nhiều mặt phát triển xã hội.

Tình nghĩa và nghiêm minh là thống nhất. Về điều này, không thể không nhắc đến tấm gương sáng tuyệt vời của Bác Hồ. Bác là một biểu tượng của tình thương. Bác ăn không ngon, ngủ không yên khi còn nửa nước bị chiếm đóng, đồng bào miền Nam bị khủng bố tàn sát. Bác ngủ không trọn giấc khi nghĩ đến dân công bộ đội ở chiến dịch không đủ áo ấm, không đủ gạo ăn. Bác cởi áo của Bác để cho một tù binh Pháp thiếu áo. Bác theo dõi hàng ngày không bỏ qua một thành tích nhỏ của một cháu thiếu niên hay một vị phụ lão. Không bao giờ quên khen thưởng một mẹo hay của một chiến sĩ du kích, hay một phát minh sáng tạo của thanh niên hay trí thức, không quên một đơn vị có thành tích trong chiến đấu hay sản xuất dù đơn vị đó ở một góc nào trên đất nước. Bác đã bao lần chùi nước mắt khi gặp các đại biểu miền Nam đau thương, tấm lòng của Bác thật bao la, thật thắm thiết. Nhưng vì lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc, Bác không hề tha thứ một tội lỗi nào: Bác đã cho xử bắn những tên ăn cắp của công, xâm phạm nặng nề đến quyền lợi chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bác cho xử bắn những tên vô đạo đức mất hết tính người. Bác bắt phải nghiêm trị những người vô kỷ luật làm tổn thương đến vận mệnh độc lập của nước nhà. Bác tự phê bình và xin lỗi đồng bào khi Đảng mắc sai lầm và kiên quyết cùng Đảng xử lý kỷ luật những cán bộ đảng viên sai lầm.

Bác rất nghiêm với những người có sai lầm khuyết điểm. Nhưng những người được Bác phê bình tuy rất sợ Bác, nhưng lại luôn như nhận được ở Bác, từ những lời phê bình đó một tình thương sâu sắc, một sự khoan dung gần như âu yếm nữa.

Ở Bác, tình nghĩa là tình nghĩa phân minh và nghiêm minh. Những việc xử lý kỷ luật của Bác đều làm cho tình nghĩa cách mạng thêm đậm đà nồng nàn, Bác đã giữ vững và phát huy cao độ một giá trị tinh thần độc đáo của Việt Nam và đã nâng nó lên rất phù hợp với yêu cầu của thời đại.

Như vậy cần phải nhận thức tình nghĩa theo yêu cầu của thời đại, không thể nhận thức tình nghĩa theo một kiểu hồ đồ và lạc hậu được. Đặc điểm tình nghĩa trong bản sắc dân tộc Việt Nam có một ý nghĩa nhân đạo sâu sắc rất lớn, nó rất phù hợp với tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nhưng nó phải được phát triển trên nền tảng tinh thần khoa học và mục tiêu cách mạng.

Bản sắc dân tộc của ta gồm một tinh thần yêu nước kiên cường và anh hùng, một tâm hồn bình dị và một mối quan hệ giữa người và người trên nền tảng tình nghĩa, là một bản sắc anh hùng cao cả và nhân đạo. Có thể toàn bộ chi tiết chưa phải là chi tiết những tiêu chuẩn đạo đức. Ví dụ một người thích màu sắc sặc sỡ, không hồn nhiên không phải là một người vô đạo đức. Nhưng xã hội mà ta hướng tới là xã hội có một nền đạo đức cao và lúc ấy ai có tâm hồn đẹp là người có đạo đức cao chứ không phải đạo đức chỉ hạn chế trong các tiêu chuẩn thiện ác cổ truyền. Chính vì vậy trong bản sắc Việt Nam có những nét tinh thần cao quý và tiên tiến. Cũng có câu hỏi đặt ra bản sắc dân tộc có điểm nào tiêu cực, lạc hậu không? Phải nói rằng trong diện mạo tinh thần xã hội ta ngày nay còn có nhiều hiện tượng tinh thần lạc hậu, tiêu cực: bảo thủ, trì trệ, lười biếng, mê tín dị đoan, tư hữu nặng nề, ăn bám, v.v… Nhưng tôi quan niệm ta bàn bản sắc là bàn đến cái vốn gốc của ta được kết tinh lại, cái vốn quý giá nâng cao giá trị dân tộc, chứ không phải liệt kê các hiện tượng tinh thần, tìm cái gì là phổ biến, rồi coi cái đó là bản chất, là bản sắc của dân tộc. Đời sống tinh thần của mỗi dân tộc đều có biến đổi và phát triển. Bản và sắc cũng có sự biến đổi nhưng nó biến đổi theo quy luật của nó, của cái gốc. Một cái cây càng cao to, nhiều cành lá thì gốc lớn, càng sâu, càng bền chặt. Xã hội ta đang phát triển, nhưng xã hội ta vẫn là xã hội của dân tộc Việt Nam, dân tộc ta phát triển, cái gốc của nó càng phải được vun đắp cho lớn cho sâu, cho bền để làm cho dân tộc ta phát triển mạnh mẽ ngày càng tươi đẹp và ngày càng rạng rỡ diện mạo Việt Nam hơn. Không có vấn đề đào cái gốc này vứt đi thay vào cái gốc khác.

Cần phải có ý thức sâu sắc về bản sắc dân tộc, người của mỗi ngành vừa nhận thức được rõ bản sắc chung của dân tộc vừa phải thấy được cái biểu hiện của nó trong ngành mình trong lĩnh vực mình. Còn ở mỗi lĩnh vực lại phải có công phu tìm ra quy luật đặc thù của phương pháp sáng tạo trong ngành, để đẩy mạnh sáng tạo trên cơ sở bản sắc thì mới tìm được hướng đi đúng đắn được. Tìm được từng yếu tố dân tộc trong ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, đường nét, màu sắc là quý giá và cần thiết, nhưng cái quan trọng hơn là phải tìm được quy luật phát triển, quy luật của phương pháp sáng tạo.

Bản sắc dân tộc cũng chính là những nét tâm hồn của dân tộc của mỗi người trong dân tộc. Bản sắc Việt Nam. Chính là tâm hồn Việt Nam. Bản sắc được biểu hiện ở văn hóa nói chung và hiển nhiên rõ nét nhất ở con người.

11-1985 T.Đ (SH22/12-86)

Nguyễn Đình Chiểu Nhân Cách Của Một Nhà Văn Hóa Lớn

Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam.

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, một con người tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam trong thời kỳ đất nước đầy biến cố, đau thương, nhưng vô cùng vĩ đại. Đất nước bị ngoại xâm, nỗi nhà tai biến, nỗi mình bi thương, bao nhiêu nghiệt ngã của cuộc đời trút lên vai một người mù lòa, sự nghiệp công danh nửa đường dang dở.Sự thách thức nghiệt ngã ấy đặt ra cho Nguyễn Đình Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như thế nào cho thích hợp với vai trò người trí thức trước thời cuộc “quốc gia lâm nguy that phu hữu trách”, và ông đã chọn con đường sống, chiến đấu, bằng ngòi bút “chí công” với cái tâm “đã vì nước phải đứng về một phía”.

Nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu là một con người Việt Nam trọng đạo lý, nặng tình người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu ghét rõ ràng, khen chê dứt khoát. Vì người, cụ sẵn sàng hy sinh xả thân không màng danh lợi. Vì đời,cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không hám lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền.

Với tất cả vai trò xã hội và sứ mạng của con người mà Nguyễn Đình Chiểu phải gánh vác: Nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, chiến sĩ yêu nước… cho đến cuối đời cụ vẫn kiên cường vượt qua số phận, hoàn thành xuất sắc thiên chức của mình, để lại cho đời sau một tấm gương về cách sống trong sáng đến tuyệt vời:

“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách của con người không chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.Ngày xưa cụ Nguyễn Du từng cho rằng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.

Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận.Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu.

Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen,biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam, Nhà thơ mù lòa ấy là một trong những người đầu tiên đưa ra thông điệp tố cáo hành động phản văn hóa, mất tính người của bọn thực dân xâm lược. Về tội ác hủy diệt cuộc sống yên lành của nhân dân, ông viết:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim nháo nhác bay”.

Với tội ác xâm lược phản văn hóa ngang nhiên đoạt tài sản và hủy hoại một cách dã man những di sản văn hóa của nhân dân ta:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nướcĐồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Của tiền là sự tích góp của một đời người lao động sáng tạo vô cùng vất vả.

Tranh ngói là cả một dinh cơ sự nghiệp, nhà cửa, đền, miếu, đình, chùa phải mấy trăm năm với bàn tay và khối óc của nhiều người mới dựng nên cơ nghiệp lớn lao ấy.

Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, một bọn người mang danh kẻ sĩ đã hèn nhát đầu hàng kẻ thù, phản bội đất nước. Nguyễn Đình Chiểu là người sớm biểu lộ thái độ khinh miệt bọn đê hèn và phản văn hóa ấy:

“Dù đui mà giữ đạo nhà Còn hơn có mắt ông cha không thờ. Dù đui mà khỏi danh nhơ Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình”.

Với quan điểm xem ngòi bút là vũ khí chiến đấu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”,Nguyễn Đình Chiểu đã trực tiếp đả kích bọn Việt gian khoác áo văn chương như loại Tôn Thọ Tường thường mượn màu chữ nghĩa làm đảo lộn trắng đen. Cụ viết:

“Thây nay cũng nhóm văn chươngVóc dê da cọp khôn lường thực hư”.

Các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Chiểu có sức sống bền vững trong tình cảm nhân dân. Lý tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đã nêu bật một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt Nam. Đó là lối sống trọng đạo lý và công bằng xã hội, trọng con người và căm ghét áp bức bất công. Cái “hào khí Đồng Nai” ấy được thể hiện qua hành động của các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên, trong các nghĩa sĩ Cần Giuộc và nghĩa sĩ lục tỉnh thời Nam Kỳ kháng Pháp đến nay vẫn còn được tiếp nối và phát huy trong đời sống văn hóa của nhân dân ta ở miền Nam. Trong một thời gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay, truyện thơ Lục Vân Tiên đã là nội dung diễn xướng dân gian với các loại hình như nói thơ, hò, vè, ca ra bộ trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và chính đề tài Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu ca kịch cải lương khi bộ môn nầy vừa mới ra đời trên kịch trường Nam bộ. Gần nay đề tài nầy đã và đang được dựng lên thành nhạc kịch hiện đại, dựng thành phim truyện v.v… Hơn một thế kỷ qua, hiếm thấy nhà văn nào mà tác phẩm có tính phổ cập sâu rộng và có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa của nhân dân như vậy.

Trên lĩnh vực giáo dục, là một nhà giáo, trọn đời thầy Đồ Chiểu chăm lo dạy dỗ môn sinh, truyền thụ cho thế hệ tương lai những điều cốt lõi của văn hóa Việt Nam về đạo lý truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ. Hào khí Đồng Nai, một nét đẹp văn hóa của con người Nam bộ được nuôi dưỡng và phát huy chính là nhờ sự nghiệp giáo dục của biết bao thế hệ người thầy đầy tâm huyết mà được truyền thụ đến ngày nay, trong đó nhà thơ – nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu là một trong những người có công lớn. Chúng ta đều biết Nguyễn Đình Chiểu là học trò đời thứ hai của nhà giáo Võ Trường Toản ở Gia Định, một ông thầy nổi tiếng về phương pháp giáo dục tri ngôn, dưỡng khí, tập nghĩa, một nhà trí thức sớm nổi tiếng ở đất Đồng Nai – Gia Định, không màng danh lợi, suốt đời chăm lo đào tạo thế hệ moan sinh có chí, có tài, biết lấy “thảo ngay làm nghĩa cả”.

Võ Trường Toản là thầy học của Nghè Chiêu.Nghè Chiêu là thầy dạy Nguyễn Đình Chiểu.

Từ lò đào tạo Hòa Hưng của Võ Trường Toản mà thế hệ các nhà văn thơ trước đó và cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu dù vận nước đến thế nào cũng tràn đầy “hơi chính khí”. Kẻ sĩ Gia Định chính là sản phẩm của phong cách rèn luyện của một ông thầy giỏi, giỏi đến mức dạy nên những người học trò nổi tiếng hơn mình.

Thầy Đồ Chiểu dạy học trò theo phong cách ấy.

Nhiều thế hệ môn sinh của Đồ Chiểu tiếp thu sự giáo dục của thầy nuôi dưỡng ý chí, rèn luyện tinh thần để sẵn sàng trở thành “trang dẹp loạn” mà sinh thời cụ Đồ Chiểu hằng mong ước. Từ Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày cuối thế kỷ XIX đến các trí thức Nho học Lê Văn Đẩu, Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn ở Ba Tri nửa đầu thế kỷ XX đều là những thế hệ môn sinh đầy nhiệt huyết mang đậm dấu ấn giáo dục của thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu.

Nhân cách của nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng rất lớn đối với vùng đất Bến Tre và xa hơn nữa. Đất anh hùng từng sản sinh ra nhiều nhân vật anh hùng trong sự nghiệp chống giặc cứu nước. Ngày nay nói đất Bến Tre là quê hương của cụ Đồ Chiểu chính là nói đến truyền thống văn hóa Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu là một con người tiêu biểu và là người có công bảo vệ và truyền lại cho các thế hệ sau nầy những gì tốt đẹp nhất của truyền thống văn hóa ấy.

“Xưa rằng quốc thử lời khen phải Giúp sống dân ta trọn lẽ trời”

Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa quyển “Ngư tiều y thuật vấn đáp” lần xuất bản năm 1982: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hằng trăm bộ sách của mấy mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm. Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường phù hợp cho những con người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ý nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước…”.

Đối với lương y Nguyễn Đình Chiểu, y đạo tức là nhân đạo, mà chủ nghĩa nhân đạo của cụ là chủ nghĩa nhân đạo nhân dân rất gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản:

“Thấy người đau giống mình đau Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.Đứa ăn mày cũng trời sanh Bịnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”.

Cảm ơn đức của cụ, khi cụ Đồ Chiểu mất, nhiều bịnh nhân được cụ cứu khỏi bịnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà.

Kỳ Nhân Sư một hình tượng lý tưởng trong tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu đã tự xông đui đôi mắt của mình cho tròn y đạo và nhân đạo để không phải đem nghề y ra phục vụ cho kẻ thù của Tổ quốc và nhân dân. Nhân cách cao thượng ấy của Nguyễn Đình Chiểu còn để lại dấu ấn sâu sắc trong các thế hệ lương y sau nầy. Người thầy thuốc chân chính trong nhân dân làm nghề thuốc còn vì mục đích từ thiện chớ không phải chỉ có kinh doanh trên sự đau khổ của đồng bào.

Nguyễn Đình Chiểu làm thơ để biểu lộ lòng yêu nước, thương dân và lấy đó làm vũ khí chống giặc; làm ông Đồ dạy học không biết mệt mỏi vì sự nghiệp nuôi dưỡng “hào khí Đồng Nai” giữ gìn bản sắc Việt Nam trong đời sống văn hóa của nhân dân giữa thời loạn ly; làm thầy thuốc vì đạo cứu người chứ không chỉ vì nghề để vụ lợi. Đó là lối sống có văn hóa, biết tự hào dân tộc, biết tự trọng của một người trí thức chân chính, biết trân trọng phẩm giá của con người, giữ đúng tiết tháo của một kẻ sĩ.

Bằng cuộc đời và sự nghiệp của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần xứng đáng cho đời sống văn hóa dân tộc trải qua thử thách nghiệt ngã được bảo tồn và phát triển. Sống trong tình thương và sự kính trọng của nhân dân, những người làm nên lịch sử và sáng tạo văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là một nhân cách lớn, một nhà văn hóa chân chính của nhân dân.

‘Tục Ngữ Phong Dao’: Di Sản Văn Hóa Dân Gian Của Dân Tộc Việt

Bộ sách “Tục ngữ phong dao” dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội năm 1988: Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân; phong dao là những bài ca dao cổ.

Những câu tục ngữ như “Tối như đêm ba mươi”, “Tiễn ông Táo lên chầu trời”, “No ba ngày tết, đói ba tháng hè”… đều đi sâu vào đời sống nhân dân, được truyền từ đời này sang đời khác. Cũng có nhiều câu nói dần bị mai một, rồi biến mất, đó là điều rất đáng tiếc.

Ý thức được việc gìn giữ di sản quý giá của dân gian, nhiều cuốn sách về tục ngữ phong dao đã được biên soạn, như An Nam phong thổ thoại của cụ Thiên Bản cư sĩ Trần Tất Văn; Thanh Hóa quan phong sử của cụ Vương Duy Trinh; Đại Nam quốc túy của cụ Sự Sự Trai Ngô Giáp Đậu; Tục ngữ An Nam của cụ Triệu Hoàng Hòa; Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán; Gương phong tục của Đoàn Duy Bình; …

Tuy nhiên, những sách này được biên soạn hoặc không theo trật tự nào, hoặc đối nhau thì hai câu một, hoặc chia ra từng mục như trời đất, năm tháng, tiền của, văn học; hay từng thiên như Sơn Tây, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thừa Thiên; từng chương như Tống Sơn, Nga Sơn, Hoằng Mỹ, Hậu Lộc;… Trong thực trạng đó, Nguyễn Văn Ngọc vẫn ấp ủ và khao khát tập hợp di sản tục ngữ phong dao của Việt Nam thành một cuốn sách có hệ thống, có tác dụng lưu giữ cho tương lai.

Sách Tục ngữ phong dao được in lần đầu tiên tại Vĩnh Hưng Long thư quán, năm 1928. Cuốn sách tập hợp các sáng tác ca dao, tục ngữ, câu đố, câu đối…., được phân chia theo thể loại rõ ràng, mạch lạc. Trong mỗi thể loại, các bài lại được sắp xếp theo vần, trong mỗi vần lại được chia theo số chữ, vô cùng cẩn thận, tỉ mỉ, giúp độc giả dễ theo dõi.

Đầu năm 2019, cuốn sách được tái bản lại, với diện mạo mới, đồng thời bổ sung thêm những chú thích, dị bản, giúp độc giả có cái nhìn đa dạng hơn về một nền văn hóa dân gian đồ sộ của dân tộc.

Trong bản in mới, Tục ngữ phong dao được chia thành 2 tập. Tập 1 thuộc về thể phương ngôn, tục ngữ từ ba chữ đến hai mươi chữ; tập 2 thuộc về thể phong dao, từ bốn câu trở lên.

Tục ngữ phong dao có khoảng gần 6.500 câu và 850 bài, với gần 700 trang sách dày dặn, được xem là một kho vàng chung của nhân loại. Theo nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền, cuốn sách là “tập hợp đầu tiên những giá trị tinh thần do các thế hệ người lao động Việt Nam sáng tạo và truyền khẩu qua hàng nghìn năm, được sưu tầm, biên soạn nghiêm túc ấn thành văn bản”.

Việc tập hợp, biên soạn, hệ thống tục ngữ ca dao của Nguyễn Văn Ngọc, theo ông, “cốt ở một điều là cứ theo như cái phong trào có mới nới cũ ngày nay, ai là người đã lưu tâm đến quốc văn quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông cha để lại, mà tức là cái kho vàng chung cho cả nhân loại nếu không chịu mau mau thu nạp, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyễn, lưu lạc đi thực rất là đáng tiếc. Cho nên chúng tôi quả không dám kén chọn lựa lọc, san Thi gì”.

Bởi kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc quá đồ sộ, đồng thời cũng có mong muốn tập hợp được càng nhiều càng tốt, nên ở cuốn sách, Nguyễn Văn Ngọc chú trọng và việc thu thập thật nhiều câu, có khi không phân biệt rõ ràng thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao.

Tác giả cho rằng, “đối với công việc sưu tập bây giờ, thiết tưởng ta còn phải quý hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà quý hồ tinh được.”

Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục trong bài viết Triết học bình dân trong tục ngữ phong dao đã viết tục ngữ phong dao “phản chiếu một cách trực tiếp và trung thành những cảm nghĩ của nhân dân sinh sống hàng ngày trong nhân quần xã hội và tiếp xúc với cảnh vật trong hoàn cảnh thiên nhiên. Như vậy thì tục ngữ phong dao chứa đựng những kinh nghiệm thực tế, những lẽ phải phổ thông của dân tộc. Chúng còn có ý nghĩa hơn là ngôn ngữ nói chung, vì đó là những cảm nghĩ đã trải qua kinh nghiệm và suy luận của đại chúng. Nếu phân tích ngôn ngữ có thể tìm ra một triết lý bình dân Việt Nam, thì nghiên cứu tục ngữ phong dao càng làm cho ta thấy cái triết lý ở một trình độ cao hơn và phong phú hơn nhiều.”

Cũng bởi thế, việc sưu tầm, biên soạn và lưu giữ di sản tục ngữ phong dao của dân tộc là việc là có ý nghĩa quan trọng, “để vun trồng cho các học văn Việt Nam của tổ tiên xưa được chắc rễ, bền cây”, đồng thời góp phần phát triển ngôn ngữ Việt hiện đại đa dạng, phong phú.

Bộ sách Tục ngữ phong dao dù ra đời đã lâu, đến nay vẫn được phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu và viết về tục ngữ ca dao Việt Nam.

Nguyễn Văn Ngọc (1/3/1890 – 26/ 4 /1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Nguyễn Văn Ngọc có lòng say mê đặc biệt với văn hóa, văn học phương Đông, nhất là văn hóa, văn học dân tộc. Ông cho ra đời nhiều cuốn sách bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ. Ông tham gia biên soạn các sách giáo khoa như Phổ thông độc bản, Phổ thông độc bản lớp đồng ấu, Luân lý giáo khoa thư, Giáo khoa văn học An Nam, Đông Tây ngụ ngôn. Về khảo cứu, Nguyễn Văn Ngọc có Cổ học tinh hoa, Nam thi hợp tuyển, Đào nương ca, Truyện cổ nước Nam, Ngụ ngôn, Tục ngữ phong dao…

Bạn đang xem bài viết Nguyễn Trãi – Người Con Toàn Thiện Của Dân Tộc, Danh Nhân Văn Hoá Nhân Loại trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!