Xem Nhiều 1/2023 #️ Người “Thà Làm Ma Nước Nam, Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc” – Hoàng Thành Thăng Long # Top 3 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 1/2023 # Người “Thà Làm Ma Nước Nam, Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc” – Hoàng Thành Thăng Long # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Người “Thà Làm Ma Nước Nam, Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc” – Hoàng Thành Thăng Long mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong lịch sử nước Việt ta còn ghi lại rất nhiều câu nói bất hủ của các bậc anh hùng dân tộc, làm rạng danh nước nhà. Một trong những câu nói bất hủ phải kể đến là lời mắng: “Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc” của danh tướng Trần Bình Trọng thời nhà Trần.

Trần Bình Trọng sinh năm Kỷ Mùi (1259), là người xã Bảo Thái (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Ông vốn là hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Do cha Trần Bình Trọng làm quan dưới triều Trần Thánh Tông lập được nhiều công trạng lớn, nên được nhà vua ân sủng ban cho quốc thích (cho mang theo họ vua). Bởi vậy, Trần Bình Trọng mới có họ Trần, thay vì mang họ Lê. Về chuyện này, sách Toàn thư, quyển V, kỷ Nhân Tông hoàng đế có đoạn viết: “Bình Trọng dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thụy Bảo, do ông cha làm quan đời Trần Thái Tông, nên được cho quốc tính nhà họ Trần”.

Trần Bình Trọng hiên ngang giữa trại giặc

Câu chuyện Trần Bình Trọng hy sinh oanh liệt sau lời mắng nhiếc lũ giặc ngoại xâm xảy ra dưới thời vua Trần Nhân Tông, trong cuộc chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2.

Bấy giờ, vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con, rút lui về “hậu trường” làm Thái thượng hoàng. Lấy cớ Trần Nhân Tông tự lên ngôi báu mà chưa được sự “cho phép” của hoàng đế Nguyên Mông, nhà Nguyên sai sứ là Sài Thung sang đòi Trần Nhân Tông phải đích thân sang thần phục. Tuy nhiên, vua Trần Nhân Tông quyết giữ quốc thể, lấy cớ thoái thác không sang, cử chú là Trần Di Ái sang thay. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt bèn phong Di Ái làm An Nam quốc vương, cử 1000 quân đưa Di Ái về làm vua An Nam. Tuy nhiên, âm mưu này bị Trần Nhân Tông dẹp tan. Hốt Tất Liệt tức giận bèn dụng mưu đánh chiếm nước ta. Cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 2 bắt đầu như vậy.

Quân Nguyên Mông ầm ầm kéo sang Đại Việt với 50 vạn quân do Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt, đích thân cầm đầu. Thế giặc mạnh nên quân đội nhà Trần liên tục bị đẩy lui. Tới khi giặc đánh tới gần thành Thăng Long, liệu thế không giữ được thành, nhà Trần dùng kế vườn không nhà trống, rút lui khỏi thành Thăng Long. Quân Nguyên Mông tràn được vào thành Thăng Long, nhưng chúng không thu được chiến lợi phẩm gì, đành kéo quân ráo riết truy đuổi Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông. Trần Bình Trọng được triều đình tin cẩn giao trọng trách chặn hướng truy đuổi của giặc tại vùng Đà Mạc – Thiên Mạc (nay thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) để đoàn quân nhà Trần rút lui an toàn và bí mật.

Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, mũi quân đánh chặn của Trần Bình Trọng thất bại, Trần Bình Trọng bị bắt sống. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cầm chân địch khi chúng hoàn toàn mất dấu vết nhà Trần sau trận đánh này.

Để moi móc thông tin, tướng giặc đã dùng mọi cách với Trần Bình Trọng, từ dọa dẫm tới mềm mỏng. Nhưng Trần Bình Trọng quyết không nói nửa lời. Cuối cùng, tướng giặc dụ dỗ sẽ xin phong vương nếu Trần Bình Trọng quy hàng, nhưng ông đã khảng khái thét mắng vào mặt chúng: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Lời thét mắng ấy thể hiện rõ quan điểm khẳng định Đại Việt là một nước độc lập và có ý coi thường triều đình phương Bắc khi ông chỉ gọi nhà Nguyên Mông là “đất Bắc”. Lời thét mắng ấy của Trần Bình Trọng khiến quân giặc giận tím mặt. Chúng giết ông ngay tức khắc. Sử sách còn ghi lại thời điểm ấy là tháng Chạp năm Ất Dậu (1285). Năm ấy, Trần Bình Trọng mới có 26 tuổi.

Nhờ sự chiến đấu anh dũng và sự hy sinh oanh liệt, thà chết chứ không chịu làm lộ thông tin quân sự của triều đình, của Trần Bình Trọng, triều đình nhà Trần mới có thời gian và điều kiện để chuẩn bị lực lượng phản công. Sau đó chỉ vài tháng, quan quân nhà Trần đã dốc toàn lực phản công, đập tan quân Nguyên Mông. Nhiều tướng giặc bị chém đầu tại trận, trong đó có Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Riêng Thoát Hoan hoảng sợ phải chui vào ống đồng để tránh tên bắn, bắt quân lính khiêng chạy chối chết về nước.

Cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ 2 thắng lợi ròn rã nhờ công đóng góp không nhỏ của Trần Bình Trọng. Bởi thế, khi xét công trạng, vua Nhân Tông đã truy phong ông là Bảo nghĩa vương.

Tưởng nhớ công ơn và cảm khí tiết của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, ngày nay, tên của ông được đặt cho nhiều đường, phố ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Riêng ở Hà Nội, tên của Trần Bình Trọng được đặt cho tuyến phố nối từ phố Trần Hưng Đạo tới phố Trần Nhân Tông – hai nhân vật anh hùng cùng thời với Trần Bình Trọng gắn liền với chiến thắng vang dội trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, lần thứ 2 và lần thứ 3.

Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long Hà Nội

Nguồn Gốc Câu Nói: “Thà Làm Ma Nước Nam, Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc”

Nguồn gốc câu nói: “Thà làm ma nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”

Câu nói nổi tiếng “Thà làm ma nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” chính là lời mắng “bất hủ” của danh tướng Trần Bình Trọng thời nhà Trần.

Câu chuyện Trần Bình Trọng hy sinh oanh liệt sau lời mắng nhiếc lũ giặc ngoại xâm xảy ra dưới thời vua Trần Nhân Tông, trong cuộc chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2.

Bấy giờ, vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con, rút lui về “hậu trường” làm Thái thượng hoàng. Lấy cớ Trần Nhân Tông tự lên ngôi báu mà chưa được sự “cho phép” của hoàng đế Nguyên Mông, nhà Nguyên sai sứ là Sài Thung sang đòi Trần Nhân Tông phải đích thân sang thần phục. Tuy nhiên, vua Trần Nhân Tông quyết giữ quốc thể, lấy cớ thoái thác không sang, cử chú là Trần Di Ái sang thay. Vua Nguyên là Hốt Tất Liệt bèn phong Di Ái làm An Nam quốc vương, cử 1000 quân đưa Di Ái về làm vua An Nam. Tuy nhiên, âm mưu này bị Trần Nhân Tông dẹp tan. Hốt Tất Liệt tức giận bèn dụng mưu đánh chiếm nước ta. Cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ 2 bắt đầu như vậy.

Tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên Mông do Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai của Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt, cầm đầu chia quân làm hai cánh tấn công xâm lược Đại Việt. Quân Nguyên Mông là đạo quân cực kỳ thiện chiến, nhanh chóng chiếm ưu thế tuyệt đối trước quân Đại Việt.

Sau thất bại trong vài trận đánh mở màn, tổng tư lệnh quân Đại Việt, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quyết định lui quân về giữ Vạn Kiếp (nay thuộc vùng Vạn Yên, Chí Linh, Hải Dương). Sau đó, quân Đại Việt lui về Thăng Long, nhưng cũng không giữ được trước sức tấn công ồ ạt của quân Nguyên. Hưng Đạo Vương quyết định rút khỏi Thăng Long, lui về Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung (tức Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết.

Tư lệnh quân Nguyên là Thoát Hoan đặc biệt ưu tiên cho cánh quân truy đuổi này với hai đạo cả thủy lẫn bộ đều do những tướng giỏi, hữu thừa Khoan Triệt và tả thừa Lý Hằng cùng Ô Mã Nhi, chỉ huy, đều dùng quân khinh kỵ và thuyền nhẹ để truy đuổi bằng được hai vua Trần.

Trần Bình Trọng đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc. Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, Trần Bình Trọng bị bắt, nhưng trận đánh là một thắng lợi cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược với cuộc kháng chiến kể từ khi đó, quân Nguyên hoàn toàn mất dấu bộ chỉ huy kháng chiến.

Sau khi bắt được Trần Bình Trọng, tướng Nguyên tìm mọi cách để khai thác thông tin, dọa nạt, dụ dỗ ông. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất Bắc không, Trần Bình Trọng khẳng khái thét mắng vào mặt chúng: “Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Không thể khuất phục được Trần Bình Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông vào ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (26-2-1285), còn Đại Việt Sử ký Toàn thư (Bản kỷ quyển 5) và Khâm định Việt sử thông giám Cương mục (Chính biên quyển thứ 7) đều chép là tháng 2 (âm lịch) năm 1285. Năm đó, Trần Bình Trọng 26 tuổi.

Nhờ sự chiến đấu anh dũng và sự hy sinh oanh liệt, thà chết chứ không chịu làm lộ thông tin quân sự của triều đình, của Trần Bình Trọng, triều đình nhà Trần mới có thời gian và điều kiện để chuẩn bị lực lượng phản công. Sau đó chỉ vài tháng, quan quân nhà Trần đã dốc toàn lực phản công, đập tan quân Nguyên Mông. Nhiều tướng giặc bị chém đầu tại trận, trong đó có Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Riêng Thoát Hoan hoảng sợ phải chui vào ống đồng để tránh tên bắn, bắt quân lính khiêng chạy chối chết về nước.

Cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ 2 thắng lợi ròn rã nhờ công đóng góp không nhỏ của Trần Bình Trọng. Bởi thế, khi xét công trạng, vua Nhân Tông đã truy phong ông là Bảo nghĩa vương.

Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng sinh năm Kỷ Mùi (1259), là người xã Bảo Thái, nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ông vốn là hậu duệ của vua Lê Đại Hành. Do cha Trần Bình Trọng làm quan dưới triều Trần Thánh Tông lập được nhiều công trạng lớn, nên được nhà vua ân sủng ban cho quốc thích (cho mang theo họ vua). Bởi vậy, Trần Bình Trọng mới có họ Trần, thay vì mang họ Lê.

Tưởng nhớ công ơn và cảm khí tiết của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, ngày nay, tên của ông được đặt cho nhiều đường, phố ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Riêng ở Hà Nội, tên của Trần Bình Trọng được đặt cho tuyến phố nối từ phố Trần Hưng Đạo tới phố Trần Nhân Tông – hai nhân vật anh hùng cùng thời với Trần Bình Trọng gắn liền với chiến thắng vang dội trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, lần thứ 2 và lần thứ 3.

Thăng Long Hà Nội Trong Ca Dao Ngạn Ngữ

  Cung cấp: Tieuboingoan

Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ

Nhà xuất bản Hà Nội – 2002

Giang Quân sưu tầm, biên soạn (In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)

Như tên gọi của nó, Hà Nội trong ca dao – Ngạn ngữ chỉ tập hợp những câu ca trong bài phải có những địa danh, con người hoặc sự kiện đã xảy ra ở kinh đô – dù chỉ là cái cớ để biểu đạt tình cảm khác, và những câu mang đặc thù phản ánh tính cách người Kẻ Chợ, tính chất nghề nghiệp của riêng vùng Hà Nội. Bởi vậy nó không bao gồm tất cả những câu ca trữ tình hoặc châm biếm khác đã được sưu tầm ở Hà Nôị từ trước tới nay. Việc này, nhiều soạn giả đi trước đã làm. Cuốn sách phổ thông này chỉ mong góp phần nhỏ cho người Hà Nội, nhân dân cả nước và những người đi xa Thủ đô, và Tổ quốc hiểu thêm về Hà Nội xưa, để càng thêm yêu vùng đất và con người Hà Nội hôm nay. Sách gồm hai phần: Phần I có hai mục: a) Ca dao, b) Ngạn ngữ, được sắp xếp theo từng vùng hoặc Phần II có bảng tra cứu địa danh dưới hình thức tự điển, để khi đọc nếu chưa rõ ở đâu thì tìm xem. Làm như vậy tránh được phải chú thích lặp lại ở nhiều chỗ, và không rối mắt bạn đọc đã có những hiểu biết nhất định về Hà Nội. Kèm theo là phụ lục giải thích những câu khó hiểu, mang tính lịch sử, phong tục thời ấy, hoặc chú thích thời gian xuất hiện và nơi sưu tầm, xét thấy cần cho người đọc. Bản in lần thứ hai này đã chỉnh lý địa danh theo phân chia hành chính mới, tới năm 2001 và bổ sung hơn 200 câu ca dao mới sưu tầm được thêm, trong đó có ca dao sau hòa bình và thời chống Mỹ. Chắc chắn nội dung khó tránh khỏi những thiếu sót, mong được bạn đọc góp ý kiến. Người biên soạn xin ngỏ lời chân thành cảm ơn chung các tác giả có sách đã xuất bản, bài báo đã in, được trích và dùng tham khảo, giúp cho việc sưu tầm, chú giải thêm thuận lợi và phong phú. Tháng 10 – 2001 G.Q.  

Thăng long – Hà Nội trong ca – dao ngạn ngữ

Trong kho tàng ca dao dân gian Việt Nam có biết bao câu ca nói về Thăng Long – Hà Nội, ca ngợi cảnh đẹp, ca ngợi con người, phản ánh đời sống xã hội nơi kinh thành hoa lệ. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, mảnh đất này khi là Thủ đô vương quốc, khi bị ngoại xâm chiếm đóng, nhưng rồi lại trở về với nhân dân, lại giữ vai trò trung tâm chính trị – văn hóa – kinh tế của đất nước. Thăng Long Hà Nội đô thành Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ Cố đô rồi lại tân đô Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây. Hà Nội nằm giữa một vùng sông nước với những ngã ba sông, lại có núi Nùng trấn trung tâm, Ba Vì, Tam Đảo, Sóc Sơn bao phía bắc, tạo nên thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Sông Tô một dải lượn vòng ấy nơi liệt sĩ anh hùng giáng sinh Sông Hồng một khúc uốn quanh Văn nhân tài tử lừng danh trong ngoài. Sông Hồng tức Nhị Hà đã trở thành trục giao thông quan trọng ngày ấy: Ai về Hà Nội, ngược nước Hồng Hà Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui. Con sông Tô Lịch chảy giữa đô thành đem lại cảnh hữu tình cho đất ngàn năm văn vật. – Sông Tô nước chảy quanh co Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya… – Nước sông Tô vừa trong vừa mát Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu. Hà Nội còn đẹp bởi: Giữa nơi thành thị có hồ xanh trong Không phải một hồ mà nhiều hồ. Hồ Gươm như lẵng hoa giữa lòng thành phố. Hồ Bảy Mẫu, Văn Hồ, Giảng Võ ở phía nam và tận tây nam. Tây bắc có Hồ Tây, Trúc Bạch nổi tiếng. Mỗi hồ là một danh thắng. Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn Hỏi ai gây dựng nên non nước này Và Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa màn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ. Hà Nội không chỉ giàu có về di tích danh lam thắng cảnh về đình, đền, chùa, miếu, về kiến trúc, điêu khắc, về cổ vật… mà còn là một kho tàng vô cùng phong phú về văn hóa – văn nghệ dân gian phi vật thể. Đó là hàng nghìn câu ca dao, ngạn ngữ, làn điệu hát, khúc nhạc, hàng trăm truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, câu đố, câu đối, truyện cười, hàng trăm trò chơi, thú chơi dân giã cũng như những mỹ tục thuần phong thanh lịch mang sắc thái riêng biệt của Thăng Long – Hà Nội có bề dày nghìn năm lịch sử, tinh hoa của nền văn hiến Việt Nam. Kho tàng ấy rất ít được ghi lại thành văn bản mà chủ yếu được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Trong quá trình lưu truyền ấy nó được bổ sung, chỉnh lý, sửa đổi cho phù hợp với từng thời đại và cả với tầng lớp giai cấp mà nó phổ biến. Cho nên văn hóa phi vật thể thường có nhiều lối kể, cách diễn đạt cũng như chi tiết nội dung khác nhau. Tính dị bản ở nó là tất nhiên. Nó còn được dùng lẫn ở nhiều địa phương với công thức “bình chung, rượu riêng”. Thí dụ như trong ca dao miêu tả ngợi ca quê hương làng xóm, nhiều nơi ứng dụng lẫn của nhau chẳng biết ai lấy của ai, câu nào ra đời trước nữa. – Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về Kẻ Bưởi với anh thì về Làng anh có ruộng tứ bề Có hồ tắm mát, có nghề quay tơ… – Hỡi cô mà thắt bao xanh Có về Kim Lũ với anh thì về Kim Lũ có hai cây đề Cây cao bóng mát gần kề đôi ta. – Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về Kẻ Vẽ với anh tìm về Kẻ Vẽ có thói có lề Kẻ Vẽ lại có nhiều nghề đâu hơn. – Hỡi cô thắt dải lưng xanh Có về Phú Diễn với anh thì về Phú Diễn có cây bồ đề Có sông tắm mát, có nghề ăn chơi… – Làng tôi có lũy tre xanh Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng Bên bờ vải nhãn hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng. – Ai về Đào Xá vui thay Xóm Bắc có chợ, xóm Tây có chùa Xóm Đông có miếu thò vua Xóm Nam có bến đò đưa dập dìu… Hoặc niềm tự hào về quê hương luôn đưa mình lên hàng đầu hơn nơi khác: – Thứ nhất Hội Gióng, Hội Dâu Thứ nhì Hội Bưởi, Hội Vó chẳng đâu vui bằng – Thứ nhất là Hội Cổ Loa Thứ nhì Hội Gióng, thứ ba Hội Chèm. Ngôi thứ bị đảo lộn cũng như câu ca xứ Sơn Nam xưa, ở Thanh Trì là “Thứ nhất Thanh Trì, thí nhì Thanh Oai”, nhưng sang đến Thanh Oai lại là “Thứ nhất Thanh Oai, thứ hai Thanh Trì”. Lại còn cách đề cao người để mà nói mình “Nhất vui là hội chùa Thày, Vui thì vui vậy, chẳng tày chùa Mơ”. Hà Nội cũng là quê hương của nhiều lễ hội nổi tiếng thiên hạ: – Ai ơi mồng chín tháng tư Không đi hội Gióng cũng hư mất đời – Thánh giếng giỗ Thánh Sóc Sơn Tháng ba giỗ Tổ Hùng VƯơng nhớ về – Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mồng sáu tháng giêng. Mồng sáu tháng giêng là ngày hội Cổ Loa, hội đền Sóc. – Cha đánh mẹ treo cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm – Mỗi năm vào dịp xuân sang Em về Triều Khúc xem làng hội xuân… – Nhớ ngày hăm ba tháng ba Dân Trại ta vượt Nhị Hà thăm quê… là hội làng Lệ Mật. Ca dao còn phản ánh một Thăng Long – Hà Nội có bề dày lịch sử và quá khứ anh hùng. – Lạy trời cho cả gió lên Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành – Nhong nhong ngựa ông đã về Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn – Đống Đa ghi để lại đây Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc Am. – Long thành bao quản nắng mưa Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây… – Trời cao biển rộng đất dày Núi Nùng, sông Nhị, chốn này làm ghi. Ca dao – ngạn ngữ xưa phản ánh đủ các mặt của xã hội, từ phong tục tập quán, lễ nghi, lối sống, nghề nghiệp, tính cách con người, đến đấu tranh các thói xấu, tệ nạn đương thời, giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có thêm dữ liệu. Qua bài ca dao “Vui nhất là chợ Đồng Xuân” ta thấy cảnh nhộn nhịp của cái chợ lớn nhất kinh thành. Nào là “Cổng chợ có chi hàng hoa/Có người đổi bạc chạy ra chạy vào/Lại thêm “sực tắc” bán rao…” cho đến “Có người bán lược, bán gương/Có người bán cả hòm rương, tủ quầy/Có người bán dép, bán giày/Có người bán cả ghế mây để ngồi…” và thêm “Lại còn kẻ cắp như rươi/Hở cơ chốc lát, tiền ôi mất rồi”. Muốn biết 36 phố phường xưa phải tìm đến bài ca dao “Rủ nhau chơi khắp Long Thành” có liệt kê các tên phố cũ bắt đầu bằng chữ “Hàng”. thuộc vùng đất phía Nam huyện Thanh Trì: Làng Đam bán mắm tôm xanh Làng Họa đan đó, làng Tranh quay guồng Đông Phù cắp thúng đi buôn Đông Trạch bán thịt, làng Om vặn thừng Tương Trúc thì giỏi buôn sừng Tự Khoát đan thúng, Vẹt từng làm quang… Đất lề Kẻ Chợ còn là nơi lắm người “khéo tay hay nghề” và những đặc sản quý hiếm: “Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã”, “Mực cầu Cậy, giấy làng Hồ”, “Sù, Gạ thì giỏi chăn tằm, làng La canh cửi, làng Đẵm bơi thuyền”… và cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây, cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì… Lại còn những làng hoa: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Tân… làm ngẩn ngơ các du khách đến thăm – trước cảnh đẹp, người đẹp, đã thốt lên: Hỏi người xách nước tưới hoa Có cho ai được vào ra chốn này Và ướm lời hò hẹn: Hỡi cô đội nón ba tầm Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang Phiên rằm cho chính Yên Quang Yêu hoa, anh đợi hoa nàng mới mua… Nhưng bên cạnh cái “phồn hoa đệ nhất kinh đô” ấy, ca dao đã không quên một thực tế của dân nghèo Hà Nội dưới thời Pháp thuộc: Văn minh đèn điện sáng lòe Thông thương kỹ nghệ mọi bề chấn hưng Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng Làm lụng suốt tháng vẫn không đủ dùng Bữa cơm, bữa cháo nhạt nhùng Thôi đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau. Ca dao không né tránh đấu trạnh, sẵn sàng vạch mặt: – Ông quan ở huyện Thanh Trì Miếng mỡ thì lấy, miệng bì thì chê. – Cha đời lính Tẩy, lính Tây Hễ trông thấy gái giở n_ xì xồ… – Đốc Hà áo gấm, áo hoa Mẹ tôi váy đụp đã ba, bốn tầng… Cũng như phê phán hủ tục trong việc cưới: – Trèo lên cây gạo cao gao Lệ cheo làng Nhói độ bao nhiêu tiền? – Cheo thời có bẩy quan hai Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ Thôi thôi tôi giã om cô Tiền cheo cũng nặng trăm vồ cũng đau! Người Hà Nội thường tự hào với câu ca dao xưa: – Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu chưa thanh lịch cũng người Tràng An Hoặc: – Chẳng thơm cũng thể hoa mai Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh Tràng An, Thượng Kính là chỉ Kinh Đô, là Thăng Long, Hà Nội. Trong cuộc sống vận động nếp sống văn minh câu ca đã biến dạng thành: – Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Chẳng thanh lịch cũng là người Thủ đô. Thay hai tiếng Thủ đô cho rõ ràng, rành mạch hơn. Trong kho tàng ca dao Hà Nội cũng còn bao câu khác hình tượng hóa sự thanh lịch ấy: – Đất tốt trồng cây rườm rà Những người thanh lịch nói ra dịu dàng. – Người thanh tiếng nói cũng thanh Chuông kêu, khẽ gõ bên thành cũng kêu. – Kim vàng ai nỡ uốn câu Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời. – … Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe – Vàng thì thử lửa, thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời… Từ “người thanh” chuyển hóa thành “người khôn”, rồi “người ngoan”, ca dao đã đặt định cho thanh lịch tương ứng và đồng nghĩa với khôn – ngoan rồi. Bên sự ca ngợi chung còn có ca ngợi riêng, ví như với cô gái Trại làng hoa Ngọc Hà: – Hoa thơm, thơm lạ thơm lùng Thơm cành, thơm rễ, người trồng cũng thơm. Với cô hàng bỏng kẹo làng Lủ: – Mình từ làng kẹo mình ra Nên mình nói ngọt cho ta phải lòng. Và cả đến gánh rau làng Láng cũng phải: … Mượn người lịch sự gánh lên Kinh kỳ. Thanh, lịch đã trở thành truyền thống của người Thăng Long – Hà Nội, một vầng sáng của tâm thức Việt Nam. Nói đến thanh là nói đến sự thanh cao trong tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tâm hồn; là nói đến thanh nhã trong nói năng, hành động; là nói đến thanh đạm trong cuộc sống đời thường và thanh liêm với của cải xã hội. Còn lịch, phải chăng là đề cập đến sự lịch lãm – xem nhiều, lịch duyệt – hiểu rộng, lịch thiệp trong giao tiếp và lịch sự trong ứng xử. Nếu như ở vế thanh, con người phải học tập, rèn luyện tu dưỡng mới có, thì ở về lịch lại do sự từng trải và kinh nghiệm sống đúc kết nên. Phải có cảnh thanh và lịch mới đầy đủ trọn vẹn. Trong thực tế, ta đã từng gặp người thanh mà không lịch, hoặc ngược lại. Thăng Long – Hà Nội là chốn hội tụ tinh hoa đất nước, trong đó có tinh hoa phẩm chất nhân cách và lối sống. Không chỉ hội tụ, mảnh đất trái tim Tổ quốc này còn sàng lọc, kết tinh hương hoa trăm miền để tạo nên bản sắc thanh lịch tiêu biểu cho mình, cho dân tộc mình, để rồi lại tỏa sáng ra trăm miền đất nước. Thanh lịch không phải là thứ trừu tượng, nó được thể hiện rõ rệt trên nhiều mặt của cuộc sống, trong nhiều lĩnh vực: ăn nói, ăn mặc, ăn học, ăn làm, ăn ở, ăn uống cho đến ăn chơi trong lối sống và trong các phong tục, tập quán khác. Nó cũng không phải là thứ bất biến mà có thay đổi điều chỉnh, hoàn thiện, bổ sung, tước bỏ qua từng thời đại lịch sử, qua mỗi chế độ xã hội, để thích ứng với cuộc sống và phần nào phù hợp với luật pháp đương thời. Những câu ca dao – ngạn ngữ nói về cổ tích, truyền thuyết Hà Nội nếu không dựng lại hình tượng của những nhân vật anh hùng chống giặc cứu dân thì cũng là phản ánh công cuộc xây dựng đất nước, thể hiện ý chí bất khuất, lòng yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa của nhân dân ta. Truyện ông Gióng lên ba đã xin vua đúc ngựa sắt, roi sắt diệt giặc Ân, lập xong chiến công kỳ vĩ đã không màng danh lợi, phi ngựa sắt về trời. Truyện đức thánh Chèm – người dũng sĩ khổng lồ, đã vang danh ngoài biên ải nước láng giềng, giàu sang phú quí không níu được chân, vẫn trở về nằm xuống ở mảnh đất quê hương. Truyện An Dương Vương xây thành ốc được thần tiên giúp đỡ. Truyện ông Không Lộ dùng phép màu thu đồng đen của nước phương Bắc đem về đúc chuông, chuông gióng lên. Trâu Vàng từ bên đó lồng sang giẫm nát một vùng thành hồ Tây, rồi chạy về phía Đông Nam, dấu chân vạch nên sông Kim Ngưu bây giờ. Thực và ảo đan xen, tạo màn sương bao phủ lên cảnh vật, làm cho không gian Thăng Long – Hà Nội thêm diệu huyền đậm đà chất tâm linh cổ kính. Kho tàng văn nghệ dân gian ấy là vốn quí cần được sưu tầm, khai thác, bảo vệ và phát huy tác dụng trong công tác giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lấy xưa phục vụ nay là phương châm đúng đắn của việc bảo tồn di sản văn hóa. Vốn văn nghệ dân gian thường nằm trong lớp người cao tuổi. Họ có thể ra đi bất kỳ. Bởi vậy, nhanh chóng tìm hỏi, ghi chép lại là việc làm cấp bách của chúng ta. Hội văn nghệ dân gian Hà Nội nhiều năm qua được sự giúp đỡ của các cơ quan hữu trách đã liên tiếp mở các cuộc điền dã đi sâu tìm hiểu về các làng nghề, phố nghề, về nghệ thuật ẩm thực Hà Nội, về các dòng họ tiêu biểu… qua quá trình khai thác đã tìm ra nhiều câu ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, giai thoại, thần tích… của n_ địa phương nơi mình cư trú. Chỉ có như vậy mới không để mất đi những viên ngọc còn rơi vãi trong dân gian. Qua ca dao cổ Hà Nội ta càng thêm yêu mảnh đất nghìn năm văn vật. Mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn lên cùng đất nước và Hà Nội cũng lớn lên cùng với dân tộc Việt Nam bất khuất, kiên cường.  

Trang 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12

Thành Ngữ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️ Đẹp Nhất

Những Thành Ngữ Về Quê Hương Hay

. Đền Sòng linh nhất xứ ThanhỞ trên tỉnh Lạng có thành tiên xây.

Mảnh đất Tiền Giang:

An Bình đất mẹ cù lao,Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long.

Khách về nhớ mãi trong lòng,Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang’

Quảng Nam quê ta:Quảng Nam có lụa Phú BôngCó khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn

⚡️ Tặng bạn trọn bộ ❣️ CA DAO TỤC NGỮ VỀ QUÊ HƯƠNG ❣️ Hay Nhất

Thêm một số câu ca dao tục ngữ nói về quê hương đất nước đẹp với các địa danh nổi tiếng:

“Đưong vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”

” Đông Ba , Gia Hội hai cầuNgó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông”

“Hải vân bát ngát nghìn trùngHòn Hồng ở đấy là trong Vịnh Hàn “

” Nhà Bè nước chảy phân hai,Ai về Gia định, Dồng nai thì vê.”

” Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh.Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm” “Đồng Đăng có phố Kì Lừa,Có nàng Tô Thị , Có chùa Tam Thanh.Đẹp thì đẹp mấy người ơiNhưng mà chẳng còn ở nơi quê mình.”Buồn quá! Gío đưa cành trúc la đàTiếng chuông Trấ Vũ,canh gà Thọ XươngMịt mờ khói tỏa ngàn sươngNhịp chày Yên Thái,mặt gương Tây HồGío đưa cành trúc la đàTiếng chuông Trấ Vũ,canh gà Thọ XươngMịt mờ khói tỏa ngàn sươngNhịp chày Yên Thái,mặt gương Tây Hồ

Xứ Huế mộng mơ“Núi Ngự Bình trước tròn sau méoSông An Cựu nắng đục mưa trongDẫu ai ăn ở hai lòngEm đây vẫn một dạ thủy chung với chàng” Ba mươi sáu phố phường hà nộiRủ nhau chơi khắp Long thành,Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,Hàng Hòm,hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,Quanh đi đến phố hàng Da,Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.Phồn hoa thứ nhất Long Thành,Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền. Học trò trong Quảng ra thi,Thấy cô gái Huế, bỏ đi không đành.

Ðất Quảng Nam, chưa mưa đà thấm,Rươụ hồng đào chưa nhấm đà say, Ðối vớI ai ơn trọng, nghĩa dày ,Một hột cơm cũng nhớ ,Một gáo nước đầy vẫn chưa quên ..

Ấy ngày mồng sáu tháng baĂn cơm với cà đi hội chùa Tây*Nhớ ngày mồng bảy tháng baTrở về hội Láng, trở ra hội Thầy*Hội chùa Thầy có hang cắc cớTrai chưa vợ, nhớ hội chùa Thầy*Ai về Phú thọ cùng taVui ngày giỗ tổ tháng ba mùng mườiDù ai đi ngược về xuôiNhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba*Dù ai buôn đâu bán đâuMồng mười tháng tám, chọi trâu thì về*Bơi đăm, rước giá, hội thầyVui thì vui vậy, chẳng rầy rã La*Cầm như bác mẹ chẳng sinhThì em ra ở Vạn ninh cho rồi*Phải là con mẹ, con chaThì sinh ở đất Duyên hà, Thần khê*Chàng đi Vạn Hoạch, chàng ơi!Con chàng bỏ lại ai nuôi cho chàng?*Chảng thanh cũng thể hoa maiChảng lịch cũng thể con người Thượng kinhChẳng vui cũng thể hội Thầy Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ ÐoàiLàng Quang dưa, vải khắp đồngNgô khoai khắp ruộng, nhãn lồng xóm VănDù anh buôn đâu bán đâuCũng không tránh khỏi Tiền Châu, Vân sàng*Dù ai xấu xí như maTắm nước Ðồng lẫm cũng ra con người*Dưa la, húng Láng, nem báng, tương bầnNước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm SétÐi đâu mà chẳng biết taTa ở kẻ Láng vốn nhà trồng rauRau thơm. rau húng, rau mùiThìa là, cải cúc, đủ mùi hành hoaMồng tơi, mướp đắng, ớt, càBí đao, đậu ván, vốn nhà trồng nênAnh giúp em đôi quang tám dẻ cho bềnMượn người lịch sự gánh lên kinh kỳGánh lên chợ mới một khiMong cho đến chợ, em thì nghĩ ngơi*Chợ Dinh bán áo con traiTriều sơn bán nón, Mậu tài bán lim*Giàu thì dãi vải tháng baKhó khăn mua vải hồ La tháng mười

⚡️ Chia sẽ bạn 1001 Câu 😍 CA DAO TỤC NGỮ VỀ XÃ HỘI 😍 Hay Nhất

Thành Ngữ Nói Về Quê Hương Đất Nước

Những thành ngữ nói về quê hương đất nước ý nghĩa:

Chiều chiều mây phủ Hải VânChim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn .

Ai đi cách trở sơn khê,Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng

Hội An bán gấm, bán điêùKim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Bắc Cạn có suối đãi vàngCó hồ Ba bể có nàng áo xanh

Xứ Nam nhất chợ Bằng VồiXứ Bắc: Vân Khám, xứ Đoài: Hương Canh

Dù ai xấu xí như maTắm nước Đồng Lãm cũng ra con người

Nhất cao là núi Tản ViênNhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vừng

Ớt cay là ớt Định CôngNhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang Cần Thơ gạo trắng nước trongAi đi đến đó lòng không muốn về.

Cần Thơ có bến ninh kiềuCó dòng sông đẹp với nhiều giai nhân.

Cần Thơ, Vàm Sáng, Ba Láng, Phong ĐiềnAnh thương em cho bạc cho tiềnĐừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê.

Cần Thơ gạo trắng nước trongAi về xứ bạc thong dong cuộc đời Ai lên Biên Thượng, Lam Sơn,Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh.

⚡️ Tặng bạn trọn bộ ❣️ THÀNH NGỮ VỀ CHA MẸ ❣️ Hay Nhất

Chè Vân Thái, gái Tiên Lữ*Gái Giang hà, nhà gỗ lim*Bưởi Ðại trà, cam Ðồng dụ, gà Vân cú, vú Ðồ sơn*Ðàn ông Vân gia, đàn bà Mông Phụ*Cối làng Tông, chuông đồng làng Ðồng*Bạc tỉnh Tuyên, ai có duyên thì được*Có tiền buôn Ðông, không tiền buôn TháiTrai Cầu vồng, Yên Thế, gái Nội duệ, Cầu Lim*Vợ xứ Ðông, chồng xứ Bắc Dốt Ðông ngàn bằng người ngoan thiên hạThứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến*Một trăm cửa bể cũng nể cửa Tuần Vương*Bao giờ lấp ngã ba chanhÐể ta gánh đá xây thành Cổ loa*Bao giờ Nhân lý có đìnhTrạm Chay có chợ, Ngọc Ðình có vua*Chẳng vui cũng thể hội ThầyChẳng trong cũng thể hồ Tây xứ ÐoàiRửa chân đi hán đi hàiRửa chân đi đất chẳng hoài rửa chân*Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội DâuMồng chín, đâu đâu trở về hội Gióng*Sâu nhất là sông Bạch ÐằngBa lần giặc đến, ba lần giặc tanCao nhất là núi Lam sơnCó ông Lê Lợi trong ngàn bước ra*Ai lên Biện thượng, Lam sơnNhớ quê Thái tổ chặn đường quân Minh Bần gie đốm đậu sáng ngời Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai danhThùng thùng trống đánh quân sangChợ Già trước mặt, quán Nam bên đàngQua Chiêng thì rẽ về giàngQua quán Ðông Thổ vào làng Ðình HươngAnh đi theo chúa Tây sơnEm về cày cuốc mà thương mẹ già

⚡️ Tặng bạn 1001 Câu 😍 CA DAO VỀ MẸ 😍 Hay Nhất

Thành Ngữ Tục Ngữ Về Quê Hương

-o0o-

-o0o-

-o0o-

Ai về Hà Tỉnh thì về,Mặc lụa chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.

-o0o-

Ai về Hậu Lộc Phú Điền,Nhớ đây bà Triệu trận tiền xung phong.

-o0o-

Bạch Đằng giang là sông cửa ải,Tống Hà Nam là bãi chiến trường.

-o0o-

Chiều chiều én lượn truông Mây,Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

-o0o-

Chiều chiều trước bến Vân Lâu,Ai ngồi, ai câu.Ai sầu, ai thảm,Ai thương, ai cảm.Ai nhớ, ai trông.Thuyền ai thấp thoáng bên sông,Nhớ câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

-o0o-

Dịu dàng nết đất An Dương,Xưa nay là chốn văn chương nổi tài.

-o0o-

Dù ai buôn đâu bán đâu,Mồng mười tháng chín chọi trâu thì về.

-o0o-

Dù ai xấu xí như ma,Tắm nước Đồng Lãm cũng ra con người.

-o0o-

Đi bộ thì khiếp Hải Vân,Đi thuyền thì sợ sóng thần Hang Dơi.

-o0o-

-o0o-

Đông Ba, Gia Hội hai cầu,Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông.

-o0o-

-o0o-

Đức Thọ gạo trắng nước trong,Ai về Dức Thọ thong dong con người.

-o0o-

⚡️ Tặng bạn 1001 Câu 😍 CA DAO TỤC NGỮ VỀ ANH EM 😍 Hay Nhất

-o0o-

-o0o-

-o0o-

Hết gạo thì có Đồng Nai,Hết củi thì có Tần Sài chở vô.

-o0o-

Học trò xứ Quảng ra thi,Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

-o0o-

Hỡi cô thắt lưng bao xanh,Có về Vạn Phúc với anh thì về.Vạn Phúc có cội cây đề,Có sông uốn khúc, có nghề quay tơ.Kẻ Dầu có quán Đình Thành,Kẻ Hạc ta có Ba Đình, Ba Voi.Mười tám cất thuyền xuống bơi,Mười chín giã bánh, hai mươi rước thần.

-o0o-

Làm trai cho đáng nên trai,Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng.

-o0o-

Mồng bảy hội Khâm, mồng tám hội Dâu,Mồng chín đâu đâu trở về hội Gióng.

-o0o-

Muốn ăn bánh ít lá gai,Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

-o0o-

Muốn ăn bông súng mắm kho,Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm.

-o0o-

-o0o-

-o0o-

-o0o-

-o0o-

Sông Lam một dãy nông sờ,Nhớ người công tử bơ vơ nỗi chìm.

⚡️ Chia sẽ bạn 1001 Câu 😍 CA DAO TÌNH CẢM VỀ GIA ĐÌNH 😍 Hay Nhất

-o0o-

Sông Thao nước đục người đen,Ai lên phố Én cũng quên đường về.

-o0o-

Vĩnh Long có cặp rồng vàng,Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần.

-o0o-

Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm,Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.( sưu tầm)

“Ai ơi đứng lại mà trôngKìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ”“Đồng Đăng có phố Kì Lừa,Có nàng Tô Thị , Có chùa Tam Thanh”“Nhất cao là núi Ba Vì,Thứ ba Tam Đảo , thứ nhì Độc Tôn”“Sâu nhất là sông Bạch Đằng,Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan.Cao nhất là núi Lam Sơn,Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”“Bắc Cạn có suổi đãi vàng, Có hồ Ba Bể, Cs nàng áo xanh.” ” Phồn hoa thứ nhất Long Thành,Phố giăng mắc cửi , đương quanh bàn cờ”

Bạn đang xem bài viết Người “Thà Làm Ma Nước Nam, Còn Hơn Làm Vương Đất Bắc” – Hoàng Thành Thăng Long trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!