Xem Nhiều 2/2023 #️ Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ # Top 11 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 2/2023 # Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thủ đô Hà Nội từ lâu đã được bạn bè trong nước và quốc tế biết đến là mảnh đất nghìn năm văn hiến. Là nơi hội tụ, kết tinh, lan tỏa những món ăn ngon của mọi miền đất nước. Người Hà Nội tinh tế, tài hoa đã chắt lọc của ngon, vật lạ về đây, tạo nên một dấu ấn văn hóa ẩm thực rất riêng. Và không có gì quá ngạc nhiên, khi dấu ấn ẩm thực Hà Thành được tái hiện trong kho tàng văn học dân gian của người Việt qua những câu ca dao, tục ngữ vô cùng gần gũi, bình dị.

Thật hiếm nơi nào có nhiều tên phố, tên đường, tên làng gắn liền với những cái tên gợi “hồn ăn uống” như Hà Nội. Nào phố Chả Cá, Hàng Cháo, nào cốm làng Vòng, nào bưởi Phú Diễn, bánh cuốn Thanh Trì… Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời gian, nhiều tên phố, tên làng chỉ cần nghe đến là người ta đã liên tưởng tới những món ăn đặc trưng của nơi đó và món ngon Hà Nội cứ thế đi vào ca dao tục ngữ với bao gần gũi, trìu mến.

Cứ mỗi độ thu về Hà Nội lại nồng nàn hương cốm. Từ lâu cốm là loại quà đặc trưng của Hà Nội và được đông đảo người dân Thủ đô yêu thích. Cốm mang trong mình hương vị riêng của Hà Nội, từng hạt cốm dẻo thơm được gói trong lá sen, ăn cùng chuối trứng cuốc tạo nên một hương vị mà bất kỳ ai đã thưởng thức qua rồi cũng sẽ nhớ mãi.

“Cốm Vòng thơm mãi bàn tay

Đi xa Hà Nội nhớ ngày cốm thơm”

“Thanh Trì có bánh cuốn ngon,

Có gò ngũ Nhạc, có con sông Hồng”

“Bún ngon, bún mát Tứ Kỳ

Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa”

“Ai qua phố Nhổn, phố Lai,

Dừng chân ăn miếng chả Đài thơm ngon”

Còn trong những ngày thường thì người sành ăn lại tìm đến đặc sản cá rô Đầm Sét, nổi tiếng thịt thơm, ngon, béo, từng trở thành sản vật tiến vua, chúa:

“Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm

Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”

Tương truyền rằng đầm Sét vốn là khúc sông Kim Ngưu trước kia có nối với Hồ Tây, khi nước chảy qua làng Sét thuộc xã Thịnh Liệt, Thanh Trì bị cạn lại thành một dải đầm lớn. Vào độ cuối thu khi lúa chín vàng rực trên những cánh đồng cũng là lúc cá rô căng tròn, béo vàng nhất trong năm và thịt cá có vị đậm, thơm ngon lạ kỳ. Cá rô có thể chế biến thành nhiều món ngon: cá rô rán, cá rô kho om, cá rô hấp cơm nếp… Tuy nhiên ngon và đưa cơm nhất vẫn là món canh rau cải cá rô dân dã nhưng vô cùng hấp dẫn, thanh mát, bổ dưỡng.

Ngoài những món ăn nổi tiếng, mảnh đất Hà thành còn mang trong mình nhiều sản vật tưởng chừng như rất mộc mạc thân quen và đời thường nhưng cũng mang đậm hương sắc thôn quê:

“Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét

Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm, cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây.

Ổi Định Công, nhãn lồng làng Quang, vàng làng Tó, kéo vó Xóm Văn

Bằng vải, Bằng dưa, Linh cua, Tứ bún

Rau cải làng Tiếu chấm nước điếu cũng ngon

Cam canh, hồng Diến, cốm Vòng

Bán mít chợ Đông, bán hồng chợ Tây, bán mây chợ Huyện, bán quyến chợ Đào

Diêm quả đào, thuốc lào làng Nhót

Lĩnh Bưởi, lụa La, thêu hoa Ngũ Xã

Cỗ Dương Đanh, hành làng Nội, hội làng Lam, tàn làng Quán, hương án làng Đề”

 Ẩm thực và nét văn hóa ẩm thực của người Hà Thành đã đi sâu vào đời sống con người, cũng như đi sâu vào những chất liệu dân gian như ca dao, tục ngữ…. một cách nhẹ nhàng, thân thuộc và thấm đượm tình cảm. Những câu ca dao, tục ngữ không chỉ lột tả được sự thi vị của món ngon Hà Thành mà còn là một tư liệu quý báu truyền lại cho nhiều thế hệ về sau để lưu giữ và lấy đó làm cốt lõi, bảo tồn và xây dựng nền văn hóa của Thủ đô ngày một phát triển hơn.

Quỳnh Trang

Ẩm Thực Món Gà Qua Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ

* Chó già, gà non: Đây là kinh nghiệm của nghệ thuật ẩm thực, nhắc cho biết nếu ăn thịt chó già sẽ không tanh, còn ăn thịt gà non (tơ) thì mới mềm.

* Ếch tháng ba, gà tháng bảy: Tháng ba (âm lịch) ếch rất béo (bởi vì côn trùng, sâu bọ phát triển mạnh vào mùa này). Tháng bảy (âm lịch) gà cũng béo tốt và thơm ngon vì được ăn nhiều thóc gạo sau vụ chiêm và côn trùng mùa hè.

* Gà cựa dài thịt rắn, gà cựa ngắn thịt mềm: Gà cựa dài là gà già, thịt dai và rắn. Gà cựa ngắn là gà non, thịt mềm.

*Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua; Gà trắng chân chì mua chi giống ấy: Theo kinh nghiệm, gà đen chân trắng dễ nuôi, chóng lớn, khả năng đề kháng bệnh rất tốt. Gà trắng mà chân đen thì lười kiếm ăn, chậm lớn và hay bị toi, không nên nuôi.

* Gà tơ xào với mướp già

Vợ hai mươi mốt, chồng đà sáu mươi

Ra đường chị giễu em cười

Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng

Đêm nằm tưởng cái gối bông

Giật mình gối phải râu chồng nằm bên

Hình ảnh “gà tơ” và “mướp già” có sức gợi tả lớn. Đây là cách sử dụng đồng nghĩa lâm thời rất độc đáo. “Gà tơ” lâm thời chỉ cô gái còn trẻ lại đẹp và đầy sức sống. Một cô gái như thế lại đi lấy “mướp già” – một ông chồng già nua bằng tuổi ông mình. Cô gái xót xa lại càng xót xa hơn khi “Ra đường, chị giễu, em cười”. Rõ ràng, chỉ với hai hình ảnh ẩn dụ “gái tơ” và “mướp già” tác giả dân gian đã bày tỏ cảm xúc của mình một cách mãnh liệt qua từng lời thơ, hình tượng thơ. Bài ca dao tuy chân thật, mộc mạc nhưng lại gợi cho người đọc biết bao cảm xúc.

*Hóc xương gà, sa cành khế: Xương gà thì cứng và sắc, khi bị hóc sẽ rất khóa lấy ra. Còn cành khế thì thì rất giòn và dễ gãy rất nguy hiểm đối với người trèo.

* Khách đến nhà, không gà thì vịt: Thể hiện sự hiếu khách trọng tình của chủ nhà.

* Mặt tái như gà cắt tiết: Loài gà nào mồng và mặt cũng đỏ lừ như gấc chín. Thế nhưng, khi bị cắt tiết xong thì mặt mồng đều tái mét, trông rất thảm hại. Câu thành ngữ này ám chỉ đến một nét mặt thất thần do quá sợ hãi. Người mà đã sợ đến mức này thì dù có khôn ngoan cách mấy cũng không che giấu được ai về sự sa sút tệ hại của mình.

* Tiền trao ra, gà bắt lấy: Việc mua bán, đổi chác luôn sòng phẳng. Tiền có trả xong, người ta mới bắt gà cho. Ý nghĩa câu này tương tự câu “tiền trao, cháo múc” .

* Con gà cục tác lá chanh;

Con lợn ụt ịt mua hành cho tôi;

Kim Trà

Con chó khóc đứng khóc ngồi;

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng: Đây là câu ca dao về kinh nghiệm dạy về cách thức sử dụng gia vị trong nấu nướng cho đúng điệu để món ăn thêm ngon.

Người Già Trong Thành Ngữ Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam

(Ngày ngày viết chữ) Bài viết này nói về những quan niệm của người Việt đối với người già, tuổi già thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

Già là túi khôn, là vốn quý

Người già có nhiều kinh nghiệm, họ trải qua nhiều nỗi thăng trầm, nhìn thấu mọi lẽ thường lẫn bất thường của xã hội:

Bà già đeo bị hạt tiêu, Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

Cho nên, từ lâu, người Việt đã xem người già là túi khôn, là vốn quý. Thành ngữ “Kẻ cắp gặp bà già” chính là để nói sự lõi đời của người cao tuổi. Người Việt thường cảm thán (xen chút ngưỡng mộ) rằng “Gừng càng già càng cay” và không quên dặn “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”.

Nói về mối quan hệ giữa người trẻ với người già, người Việt còn có câu “Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già”, để thấy rằng trẻ và già nên nương tựa nhau, bổ sung cho nhau. Một gia đình có già có trẻ, người trẻ được bảo ban, người già được chăm sóc, đó chính là phúc. Cho nên người Việt xưa rất thích những gia đình tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường. Sự tháo vát của người già còn thể hiện ở câu “Một mẹ già bằng ba con ở”.

Lại nói, dù dân gian có nhiều câu nói thể hiện chuyện cha mẹ già khó khăn, làm duyên con bẽ bàng, nhưng đồng thời cũng có những câu như:

Canh suông  khéo nấu thì ngon, Mẹ già khéo nói  thì con đắt chồng.

để biểu đạt vai trò quan trọng của bậc sinh thành khi vun vén duyên con.

Hiếu đễ với người già

Nhìn chung, người Việt kính trọng người già. Câu tục ngữ “Yêu trẻ trẻ đến nhà, kính già già để tuổi cho” hầu như không người Việt nào không biết. Trong gia đình, chuyện hiếu kính với cha mẹ cực kỳ quan trọng. Và những câu ca dao nhắc nhau hiếu thuận với cha mẹ già thực sự rất nhiều.

Mẹ già hai đứa nuôi chung, Đứa lo cơm cháo, đứa giùm thuốc thang.

Mẹ già đầu bạc như tơ, Lưng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi.

Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc? Dốc mô ngược bằng dốc Mỹ Cang? Một tiếng anh than hai hàng lệ nhỏ, Em có mẹ già biết bỏ cho ai.

Mẹ già như chuối ba hương, Như xôi nếp mật, như đường mía lau. Đường mía lau càng lâu càng ngát, Xôi nếp mật ngào ngạt hương say. Ba hương lây lất tháng ngày, Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi. Mẹ già như áng mây trôi, Như sương trên cỏ, như lời hát ru. Lời hát ru vi vu trong gió, Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan. Mây trôi lãng đãng trên ngàn, Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.

Trời mưa cho ướt lá dừa, Cho tươi luống cải cho vừa lòng em. Cho em hái đọt rau dền, Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già.

Con cá đối  nằm trên cối đá, Chim đa đa  đậu nhánh đa đa, Chồng gần không lấy, bậu  lấy chồng xa. Mai sau cha yếu mẹ già, Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà  ai dưng ?

Sợ tuổi già

Mặc dù xem người già là túi khôn, là đáng kính trọng, nhưng người Việt (và lẽ nhiều dân tộc khác trên thế giới) cũng rất sợ tuổi già. Bởi “Trẻ khôn ra, già lú lại”, ai mong già làm gì.

Lý do một cô gái thôi chờ đợi một chàng trai thường là:

Một năm một tuổi một già, Ba năm một tuổi chi mà đợi anh.

“Cái tuổi nó đuổi xuân đi”, nên các cô gái thường mang tâm lý:

Ai ơi, trẻ mãi ru  mà, Càng đo đắn  mãi càng già mất duyên.

Mướp  già thì mướp có xơ, Gái già thì gái nằm trơ một mình.

Cau già lỡ lứa bán trăm, Chị nọ lỡ lứa biết nằm cùng ai?

Thành ngữ “Già kén kẹn hom” cũng dùng để nói chớ có kén chọn mà lỡ duyên thế này. Kén của con tằm nếu để quá lâu sẽ dính chặt vào hom (những búi rơm, rạ hoặc cây rang, cây bổi…), khó gỡ ra. Ở đây chơi chữ  “kén” trong ‘kén tằm’ đồng âm với “kén’ trong “kén chọn”. Ý của thành ngữ này là nếu quá kén chọn sẽ dễ dẫn đến quá lứa, lỡ thì.

Trường hợp lứa đã quá, thì đã lỡ, có cô than:

Cau già dao bén thì ngon, Người già trang điểm phấn son cũng già.

Thế nhưng cũng có cô rất lạc quan:

Cau già khéo bổ thì non, Nạ dòng  trang điểm lại giòn  hơn xưa.

Gà già khéo ướp lại tơ, Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

Còn như khi không thể để bản thân lỡ thì mà lo bến đỗ trước, và rồi phải từ chối chàng trai từng ước hẹn, các cô cũng rằng:

Anh về kiếm vợ kẻo già, Kiếm con kẻo muộn, em đà  có đôi.

Trong cuộc sống, người ta thường dặn nhau lúc còn trẻ khỏe phải biệt lo liệu, đừng để đến già kẻo mà:

Mỗi năm, mỗi tuổi, mỗi già, Chẳng lo liệu trước ắt là lụy  sau.

Tre già nhiều người chuộng, Người già ai chuộng làm chi.

Thế nhưng, cũng vì sợ tuổi già đến, chưa kịp chơi cho thỏa đã không còn sức, nên mới có câu:

Ai ơi chơi lấy kẻo già, Măng  mọc có lứa người ta có thì. Chơi xuân kẻo hết xuân đi, Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

Và tâm lý muốn lớn nhanh để chơi ai cũng có, nhưng lại sợ:

Muốn cho mau lớn mà chơi, Mới lớn vừa rồi, già lại theo sau.

Duyên nợ với người già

Mặc dù người Việt có câu:

Chồng già vợ trẻ là tiên, Vợ già chồng trẻ là duyên ba đời.

nhưng nhìn chung người Việt thường muốn sánh duyên cùng người có tuổi tác tương xứng.

Ông già tôi chẳng lấy ông đâu, Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

Sở dĩ không muốn lấy chồng già là vì:

Con gái lấy phải chồng già, Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng.

rồi bị xóm giềng cười nhạo:

Nhà bà có ngọn mía mưng, Có cô gái út mà ưng ông già.

Chuyện cười nhạo đôi khi thái quá, khiến các cô phải ném hết thẹn thùng mà phản bác:

Tiếng đồn em lấy chồng già, Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng ? – Tre già còn dẻo hơn măng, Ớt cà ra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ.

Nhưng không muốn lấy chồng già chủ yếu là do những chuyện trái khoáy khác:

Vô duyên lấy phải chồng già, Ra đường bạn hỏi rằng cha hay chồng? Nói ra đau đớn trong lòng, Chính thực là chồng có phải cha đâu. Ngày ngày vác cối giã trầu, Tay thời rót nước, tay hầu cái tăm. Đêm đêm đưa lão đi nằm, Thiếp đặt lão xuống, lão nằm trơ trơ. Hỡi ông lão ơi! Ông trở dậy cho thiếp tôi nhờ, Để thiếp tôi kiếm chút con thơ bế bồng. Nữa mai người có thiếp không, Xấu hổ với chúng bạn, cực lòng mẹ cha.

Gà tơ xào với mướp già, Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi. Ra đường, chị giễu  em cười, Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông, Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên, Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

Ngược lại, các ông cũng không ham gì vợ già:

Vô duyên lấy phải vợ già, Ăn cơm phải đút, xin bà nuốt nhanh. Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Vừa chơi, vừa phá tung hoành tứ tung.

Thế nhưng, nếu đã vào thế lấy vợ già, các ông cũng cố mà tìm ra điểm tốt:

Canh bầu  nấu với cá trê, Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Có phúc lấy được vợ già, Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh. Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Nó ăn nó bỏ tan tành nó đi.

hòng giữ cho gia đạo bình an. Đó có lẽ cũng là một biểu hiện của tinh thần luôn cố gắng lạc quan thường thấy ở người Việt.

Nếu các cô không ham chồng già thì ngược lại, các ông già cũng không ham gì vợ trẻ, bởi:

Người già mà lấy vợ tơ, Như liều thuốc độc để hờ bên thân.

Con gái mà lấy chồng già, Đêm nằm thỏ thẻ đẻ ra con chồn.

Thế nhưng, cũng có khi, ông già thương thật, nên khi bị người mình để bụng thương chê, các cụ liền nói đạo lý:

– Ông già tui chẳng ưa đâu, Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài. – Con tôm con tép còn râu, Huống chi  em bậu  câu mâu  sự đời. Thương nhau vừa dặm vừa dài, Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?

Có khi, các cụ vội vã phân bua, thể hiện:

Già thì già tóc già râu, Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!

Càng già càng dẻo càng dai, Càng gãy chân chõng , càng sai chân giường.

Cười nhạo người già

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, có kính trọng, nể vì thì cũng có chế giễu, nhạo báng. Có khi người ta cất lời chê già khó tính:

Ai làm cho chuối không cành, Cho anh không vợ cắn quanh mẹ già. Mẹ già như mẹ người ta, Thì anh có vợ trong nhà đã lâu. Mẹ anh ác nghiệt cơ cầu, Cho nên anh chịu âu sầu đến nay.

Hoặc càm ràm mấy câu như “Già sinh tật, đất sinh cỏ’, hay “Trẻ đeo hoa, già đeo tật”. Cũng có khi dân gian lên tiếng đánh thẳng vào những thói hư tật xấu, thường là chê trách cái nết không chuyên chính:

Bà già đã tám mươi tư, Ngồi bên cửa sổ đưa thư kén chồng.

Bà già tuổi tám mươi hai, Ngồi trong quan tài hát ghẹo ông sư.

Bà già đi chợ Cầu Đông, Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? Thầy bói gieo quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!

Ấy vậy mà, đâu đó vẫn có thể bắt gặp những câu ca dao nửa chê trách, nửa cảm thông:

Già thì bế cháu ẵm  con, Già đâu lại muốn cau non trái mùa. – Già thì lễ Phật đi chùa, Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn.

“Cau non trái mùa ai cũng muốn ăn” vừa là lời chống chế của người già, vừa là lời bênh vực của dân gian dành cho người già. Rằng thói đó âu cũng là lẽ thường.

Về cánh các ông già, các nết không đứng đắn cũng không thoát được con mắt tinh tường và cái miệng thẳng thừng của dân gian:

Ông già bạc phếu râu tôm Thấy dâu quét bếp còn lườm mắt dê

Ông già ông đội nón cời, Ông ve  con nít ông Trời đánh ông.

Điểm qua một vài thành ngữ, tục ngữ, ca dao như thế, mới thấy cái nhìn của dân gian đối với người già, tuổi già vô cùng đa diện, đặc sắc, có khen có chê, có nể có khinh. Điều đó không chỉ cho thấy thái độ của dân gian mà còn biểu hiện khả năng dùng từ, đặt câu biến hóa, lời lẽ khi khen, khi yêu thì chân thành, cảm động, khi chê, khi ghét thì chua chát, sâu cay.

Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

Bạn có quen thuộc với làn điệu ấy chăng? Văn học dân gian Việt Nam không chỉ là những câu chuyện cổ, những sự tích, mà còn là một kho tàng ca dao dân ca, là những câu tục ngữ thành ngữ được sử dụng ẩn dụ trong những câu chuyện hàng ngày. Cùng doctruyencotich.vn tìm hiểu khái niệm về ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ nhé.

CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

THÀNH NGỮ

Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

Hy vọng rằng qua bài vừa rồi, bạn đọc đã có khái niệm tổng quát về ca dao, tục ngữ và thành ngữ trong kho tàng văn học dân gian việt nam. Mời các bạn cùng xem những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ và những bài hát ru con hay tại đây nhé.

> Xem thêm Tuyển tập Ca dao tục ngữ thành ngữ Việt Nam <

Bạn đang xem bài viết Món Ngon Hà Thành Trong Ca Dao, Tục Ngữ trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!