Xem Nhiều 11/2022 #️ Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng / 2023 # Top 16 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 11/2022 # Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng / 2023 mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hải Phòng có bến Sáu Kho Có sông Tam Bạc, có lò Xi măng

Đứng trên đỉnh núi ta thề Không giết được giặc, không về Núi Voi

Thuốc lào Vĩnh Bảo Chồng hút, vợ say Thằng con châm đóm Lăn quay ra giường

Dù ai buôn đâu, bán đâu Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về Dù ai bận rộn trăm nghề Mùng chín tháng tám nhớ về chọi trâu

Sấm động biển Đồ sơn Vác nồi rang thóc Sấm động bên sóc đổ thóc ra phơi

Nhất cao là núi U Bò Nhất đông chợ Giá, nhất to sông Rừng (Thủy Nguyên)

Chín con theo mẹ ròng ròng. Còn một con út nẩy lòng bất nhân (Địa hình Đồ Sơn ví như một con Rồng đang chầu về viên ngọc là Hòn Dáu. Sách cổ gọi núi Đồ Sơn là Cửu Long – chín rồng với câu ca trên. Con út ở đây là núi Độc, đứng riêng hẳn ra ở đầu bán đảo. Thực ra có tới 15 điểm cao từ 25m đến 129m trong dãy núi này, cao nhất là Đồn cao. Trên đỉnh núi còn những dãy tường thành, dấu vết đồn luỹ của Phạm Đình Trọng, một tướng Chúa Trịnh đi đàn áp cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, thế kỷ 18)

Đầu Mè, đuôi Úc Giữa khúc Nụ Đăng (Tiên Lãng)

My Sơn bắc ngật văn chương bút Triều thủy nam hồi phú quí nguyên

Dịch nghĩa:

“Núi My Sơn phía bắc tạo thế văn chương Ngọn triều phía nam đem lại nguồn giàu có”

My Sơn là xã ở Thủy Nguyên.

— Theo haiphong.net.vn —

Sâu nhất là sông Bạch Đằng Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan

Cá rô đầm Sét Nước mắm Vạn Vân Cam Đồng Dụ Cau Văn Ú Vú Đồ Sơn

(Câu cổ đó)

Văn học mình thấp kém không tìm được nhiều bài cho lắm nhưng nay cũng mạng phép đóng góp 1 vài bài , có gì xin các anh chị đóng góp ý kiến :

1) Đống Đa ghi để lại đây

Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc An

2) Sâu nhất là sông Bạch Đằng

Ba lần giặc đến ba lần giặc tan

Cao nhất là núi Lam Sơn

Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra

3) Vải Quang , hung Láng , ngổ Đầm

Cá rô Đầm Sét , sâm cầm Hồ Tây

4) Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị , có chùa Tam Thanh

5) Đông Ba Gia Hội hai cầu

Ngó lên Diệu Đế bớn lầu hai chuông

6) Ai về đến huyện Đông Anh

Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục Vương

7) Rồi mùa toóc(a) rã , rơm khô (a) : rạ

Bạn về quê bạn biết mô(b) mà tìm (b) : Đâu

:M02::M02: bạn tìm hiểu rất tốt. Bạn đã giúp mình làm tốt bài kiểm tra rồi đấy. Cảm ơn bạn nhiều lắm>-):khi (176)::khi (176):Minh đang nói với 321 zaq

Nhầm chủ đề vinh001 ơi, ca dao tục ngữ Hải Phòng mà?

Ca Dao Tục Ngữ Về Rồng / 2023

Details Category: Kỹ năng mềm Published on Monday, 12 February 2018 02:12 Written by cudinhlang Hits: 5233

Rồng trong thành ngữ và tục ngữ Việt NamRồng lúc to lúc nhỏLớn thì đào sơn đảo hải – nhỏ ẩn tích tàn hình

Đa mưu túc trí muôn đời thịnh Hữu dũng vô mưu vạn đời suy Ghen ăn tức ở muôn đời nát Khiêm tốn nhường nhịn vạn kiếp sang.

Là con vật huyện thoại nhưng phổ biến, vừa cao quý, độc đáo, diệu kỳ lại vừa thân quen, gần gũi và giàu ý nghĩa biểu tượng, rồng (long) được lấy làm hình ảnh ẩn dụ sinh động cho nhiều câu thành ngữ, tục ngữ rộng rãi mà thâm thúy của người Việt Nam.* Ăn như rồng cuốn: Ăn nhanh, ăn đến đâu hết đấy.* Ăn như rồng cuốn, làm như cà cuống lội nước/uống như rồng leo, làm như mèo mửa: 1. Ăn nhiều, ăn tham mà làm ít, cẩu thả; 2. Ăn thật làm chơi.* Cá [chép] hóa rồng: 1. Học trò đi thi được đỗ đạt vinh hiển; 2. Người được thỏa chí, toại nguyện, thành đạt.* Cá gặp nước, rồng gặp mây: 1. Gặp môi trường thuận lợi, tương hợp, may mắn; 2. Cảnh sum vầy, hội ngộ.* Chạm rồng trổ phượng: 1. Trang trí lộng lẫy, tinh xảo, cầu kỳ; 2. Sự tô điểm rối rắm, rườm rà.* Con Rồng cháu Tiên: Dòng dõi đầy tự hào của dân tộc Việt Nam.* Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chiếu hoa nệm gấm không chồng cũng hư: Một quan niệm đề cao hạnh phúc gia đình.* Dựa mạn thuyền rồng: Được vua chọn làm cung phi, làm vợ hoặc lấy được người giàu sang.* Đầu rồng đuôi tôm/rắn: 1. Việc khi đầu thì hưng thịnh, sau thì suy yếu; 2. Chuyện lúc khởi đầu có vẻ to tát, đẹp đẽ nhưng kết thúc lại chẳng ra gì; 3. Sự cọc cạch, không tương xứng giữa những bộ phận có phẩm chất quá khác biệt trong cùng một chỉnh thể.* Đẹp duyên cưỡi rồng: Lấy được người chồng lý tưởng.* Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay chết ngõng: Một quan niệm xưa, đề cao vai trò của người đàn ông, khẳng định phụ nữ cần thiết phải lập gia đình.

* Họa long điểm tinh (Vẽ rồng điểm mắt): Hành động đúng hướng, nắm bắt được trọng tâm của sự vật, sự việc.* Học chẳng biết chữ cu chữ cò, nói những chữ như rồng như rắn: Nói phét, nói suông, dốt hay nói chữ.* Hội long vân (Hội rồng mây): Cuộc gặp gỡ tốt lành, thời cơ thuận lợi.* Long bàn hổ cứ (Rồng cuộn hổ ngồi): Thế đất hiểm yếu, linh thiêng.* Long ly quy phụng (Rồng lân rùa phượng): Bốn con vật quý và thiêng theo quan niệm tín ngưỡng.* Lưỡng long chầu nguyệt: 1. Hình hai con rồng chầu chụm vào một mặt trăng thường thấy ở nơi thờ tự; 2. Một người tài giỏi lại có được hai người hỗ trợ, phò tá nhiệt tình, tương xứng và trung thành.* Mả táng hàm rồng: Gặp may mắn, tự nhiên ngày càng phát đạt thịnh vượng, [tưởng như] do mồ mả tổ tiên được chôn vào chỗ đất đẹp.* May hóa long, không may xong máu: Gặp may thì vinh hoa phú quý, không may thì chết.* Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng: Bản chất đã xấu thì khó thể trở thành người tốt, kẻ thuộc tầng lớp dưới khó thể lên địa vị cao.* Nem rồng chả phượng: Món ăn ngon, cầu kỳ và sang trọng.* Như rồng gặp mây: Gặp người, gặp hoàn cảnh tương hợp, thỏa lòng mong mỏi khát khao.* Nói như rồng cuốn: Nói những lời hay ý đẹp nhưng nói suông, chẳng bao giờ thực hiện điều gì mình đã nói, đã hứa.* Nói như rồng leo: Nói năng khôn khéo, mạch bạo.* Rồng bay phượng múa: Hình dáng, đường nét tươi đẹp, uyển chuyển, phóng khoáng.* Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa: Một cách dự báo và lý giải trạng thái thời tiết qua hiện tượng thiên nhiên – mây (rồng lấy nước ở đây tức là đám mây hình cột từ phía biển vươn lên trời).* Rồng đến nhà tôm: Người cao sang đến thăm kẻ thấp hèn (thường thấy trong lời ngoại giao, nói nhún của chủ nhà với khách).* Rồng lội ao tù: Người anh hùng sa cơ thất thế, bị kìm hãm, tù túng, không có điều kiện thi thố tài năng.* Rồng mây gặp hội: Cơ hội may mắn cho sự gặp gỡ và hòa nhập.* Rồng nằm bể cạn phơi râu: Trạng thái thờ ơ vì bất lực của người vốn tài giỏi nhưng bị đặt trong môi trường khó hoạt động, khó phát triển được.* Rồng thiêng uốn khúc: Người anh hùng, tài giỏi nhưng gặp vận xấu, phải sống nép mình, ẩn dật chờ thời cơ.

* Rồng tranh hổ chọi: Hai đối thủ hùng mạnh giao đấu.* Rồng vàng tắm nước ao tù: Người tài giỏi ở trong hoàn cảnh bó buộc, bất lợi hoặc phải chấp nhận chung sống với kẻ kém cỏi.* Thêu rồng vẽ phượng: Bày vẽ, làm đẹp thêm.* Trai ơn vua – cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng – bồng con thơ: Một quan niệm xưa, cho rằng nghĩa vụ chính của người đàn ông là phụng sự nhà cầm quyền, còn của người đàn bà là chăm lo gia đình và con cái.* Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu: Tính tất yếu của sự bảo toàn, di truyền những giá trị và bản chất nòi giống.* Vẽ rồng nên/ra giun: Có mục đích hay, tham vọng lớn nhưng do bất tài nên chỉ tạo ra sản phẩm xấu, dở.* Vẽ rồng vẽ rắn: Bày vẽ lôi thôi, luộm thuộm, rườm rà.

Ca Dao,Tục Ngữ Về Quảng Nam / 2023

CA DAO VẦ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG

1- Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Ðào chưa nhấm đã say Bạn về đừng ngủ gác tay Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo 2- Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết… 3- Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không đành. 4- Ai đi phố Hội, Chùa Cầu Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai, Ðể sầu cho khách vãng lai, Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu 5- Thương nhau chớ quá e dè, Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be. Thiếp nói thì chàng phải nghe Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình, Bạn ơi, bạn chớ phiền tình, Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau Lạy trời, mưa xuống cho mau Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp chàng 6- Rằng xa: cửa ngõ cũng xa Rằng gần: Vĩnh Ðiện, La Qua cũng gần 7- Chiều chiều mây phủ ải vân Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn 8- Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn, nước mắt và trộn cơm 9- Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông Thấy nước xanh như tàu lá, Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn Thấy phố xá nghinh ngang Kể từ ngày Tây lại đất Hàn, Ðào sông Cù Nhĩ, tìm vàng Bồng Miêu. Dặn tấm lòng, ai dỗ cũng đừng xiêu, Ở nuôi thầy mẹ, sớm chiều cũng có anh 10- Ngó lên Hòn Kẻm, Ðá Dừng Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi 11- Ai đi cách trở sơn khê Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn mồng 12- Hội An đất hẹp, người đông Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu 13- Hội An bán gấm, bán điều Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành -14 Chiêm Sơn là lụa mỹ miều Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ 15- Chồng em là lái buôn tiêu Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng -16 Tơ cau thuốc lá đầy ghe Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần. 17- Nem chả Hòa Vang Bánh tổ Hội An Khoai lang Tiên Ðỏa Thơm rượu Tam Kỳ Ai đi cách trở sơn khê, Nhớ tô mì Quảng,tình quê mặn nồng . Mì Quảng là món ăn chủ lực, bình dân của đất Quảng,nên đi đâu ở đâu , mà dân Quảng ăn được tô mì Quảng thì khoái khẩu, mặn mà nhất. 18.- Hội An đất hẹp, người đông , Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu . Phố Hội an nhỏ hẹp ,nhưng ai đã ở Hội An một thời gian rồi ,khi rời Hội an không làm sao quên được tình cảm nồng hậu của cư dân ở đây. 19.- Hội An bán gấm, bán điêù Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành . Hội An, là thương cảng nên buôn bán hàng hoá sang đẹp , còn Kim Bồng,Trà Nhiêu là vùng ngoaị ô , chuyên sản xuất rau cải đem qua bán ở Hội An. 20.- Ðưa tay hốt nhắm dăm bào, Hỏi thăm chú thợ bữa nào hồi công, Không mai thì mốt, hồi công, Hội An em ở, Kim Bồng anh dời chân Kim Bồng là một xã bên kia sông, đôí diện với Hội.An,sản xuất nhiều nghệ nhân đồ mộc,hằng ngày qua phố Hôị làm việc, nên những cô gái đến hốt dăm bào về nấu bếp,bèn hát những câu trữ tình để ghẹo chú thợ mộc. 21.- Năm hòn nằm đó không sai, Hòn Khô, Hòn Dài, lố nhố thêm vui, Ngó về Cửa Ðại, than ôi, Hòn Nồm nằm dưới mồ côi một mình. Cù Lao Chàm, nằm ngoài khơi tỉnh,gồm năm hòn đảo, hòn Nồm là đảo nằm riêng một mình ,không chen vơí các hòn đảo khác . 22.- Sáng trăng, trải chiếu hai hàng, Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ . Quay tơ vẫn giữ mối tơ, Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh . Cảnh sinh hoạt ở thôn quê, dưới ánh trăng, chàng đọc sách, nàng quay tơ, chàng nhắn với nàng giữ tình chung thủy chờ chàng. 23.- Ai về nhắn với ngọn nguồn, Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên. Người miền biển có cá chuồn làm mắm , nguời miền núi có mít non gởi xuống để trao đổi lương thực

Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Về Rắn / 2023

Hang hùm nọc rắn: Còn gọi là hang hùm miệng rắn, chỉ nơi nguy hiểm đến tánh mạng.

Vẽ rồng vẽ rắn: Bày đặt thêm nhiều chuyên đề cho sự việc càng rắc rối thêm.

Khẩu Phật tam xà: Nghĩa đen là miệng Phật lòng rắn, ý nói những kẻ bề ngoài miệng nói ra toàn chuyện đạo đức nhưng trong lòng ẩn chứa toàn chuyện gian ác.

Rắn đến nhà không đánh thành quái: ý nói nuôi dưỡng kẻ xấu ở trong nhà thì có ngày nó sẽ hại mình.

Oai oái như rắn bắt nhái: Chê trách những kẻ hay kêu la những chuyện không đáng.

Rắn rết bò vào, cóc nhái bò ra: Chỉ một nơi hoang vu không có người qua lại.

Rắn Mai tại chỗ, rắn Hổ về nhà: (Mai là mai gầm, hổ là hổ mang) đây là hai loài rắn độc cắn người đưa đến cái chết tức thời

Rắn trong lỗ bò ra: Lời nói khéo léo khiến ai nghe cũng phải xiêu lòng.

Rắn đổ nọc cho lươn: Đổ lỗi cho kẻ khác

Như rắn mất đầu: Không người chỉ huy mất phương hướng.

Len lét như rắn mồng năm: ý nói sợ sét, nhút nhát.

Vẽ rắn thêm chân: Bịa đặt thêm nhiều chuyện để sự việc thêm khó khăn, rắc rối.

Cõng rắn con gà nhà: Hành động phản bội lại nhân dân.

Ăngià rắn lột, người già người tụt vào săng: Câu nói đùa, nói lên quy luật tự nhiên của con người là mọi người rồi ai cũng phải chết.

Cha hổ mang đẻ con liu điu: Hổ mang và liu điu là hai giống rắn, cha độc ác thì sanh con cũng độc ác.

Liu điu lại nở ra dòng liu điu: ý nói cha nào, con nấy.

Thằn lằn, rắn ráo: Chỉ những kẻ không đứng đắn.

Nói rắn nói rồng: Nói dài dòng những chuyện không đâu

Thuồng luồng ở cạn: ý nói người không phát huy được tác dụng vì ở xa môi trường của mình.

Thẳng như rắn bò: Có ý mỉa mai ai.

Bạnh như cổ hổ mang: Chỉ sự so sánh.

Thao láo như mắt rắn ráo: Mắt mở to. Chỉ sự so sánh giữa mắt người và mắt rắn.

Sư hổ mang, vãi rắn rết: Chỉ những người tu hành giả nhân giả nghĩa.

Rắn đi còn đầm lại: ý nói mầm độc hại đã trừ khử nhưng di căn gốc rễ vẫn còn.

Đánh rắn giữa khúc: Chỉ tính chất và việc làm không triệt để để khử trừ mầm độc hại.

Đánh rắn phải đánh dập đầu: ý nói muốn trừ khử mầm độc hại phải diệt tận gốc rễ.

– Tuổi Tỵ rắn ở bọng cây Nằm khoanh trong bụng có hay chuyện gì! – Cần chi cá lóc, cá trê Thịt chuột, thịt rắn nhậu mê hơn nhiều. Hi. – Câu đố: Con gì trườn dọc bờ ao Bắt ếch, bắt nhái le vào le ra? TVT sưu tầm

Trần Văn Thọ @ 22:32 21/12/2012 Số lượt xem: 4933

Bạn đang xem bài viết Ca Dao Tục Ngữ Về Hải Phòng / 2023 trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!