Xem Nhiều 5/2022 # Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích # Top Trend

Xem 5,247

Cập nhật thông tin chi tiết về Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 5,247 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô
  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  •  

    Đất Miền Cổ Tích

    Chúng tôi qua cầu sông Cái, đi thẳng đến Phú Thượng rồi rẽ sang

    phía tay phải chừng 200 mét là đến Dương Xá (nay thuộc Hà Nôị). Nơi

    đây có đền thờ Nhiếp Chính ỷ Lan. Giữa những mảnh ruộng xanh với đủ

    gấm mầu khác nhau. Ngôi đền thờ một người phụ nữ phi thường, nổi bật

    lên, nghiêm trang những rêu phong cái kiểu: “Miếu cổ vàng son nhạt”.

    Đó là nói về mầu sắc, chứ những gì mà bà để lại cho đất nước vẫn cứ

    đằm thắm với non sông và lòng người. Bà là hóa thân của Mẫu Thượng

    Ngàn của bà Man Nương, bà Trưng… Đến Sủi, đi vào quê hương của nhà

    thơ Cao Bá Quát. Đi tiếp chừng 7 km nữa, chúng tôi đến cầu Dâu. Một

    cái cầu rất cổ.

     Nơi đây, chúng tôi ngắm

    mãi chỗ sông Đuống cắt ngang sông Dâu để hình thành một bên là Thiên Đức,

    một bên là Nguyệt Đức. Nơi đây… một cái cây, một dãy gò, một mô đất, đống

    gạch vụn, ngôi đền v.v… đều có những chuyện kể về mình. Trước mắt chúng

    tôi là cả một khu vực thành Dâu (Bắc Ninh) với hình vuông mênh mông. Tên

    chính thức của nó là Luy Lâu hoặc Liên Lâu. Vì khi xưa, thành chính có những

    vọng gác mà ở tầng trên tỏa ra như những cánh hoa sen, nên thường gọi là

    Liên Lâu. Hoa sen tượng trưng cho sự phồn. Phồn thóc gạo, phồn giống nòi.

    Sông Dâu chảy quanh tạo thành con hào thiên nhiên, bảo vệ thành. Xưa kia,

    khi đê La Thành và Thăng Long chưa hình thành mà mới chỉ là những vùng nước,

    lau lách, hoang vu thì nơi đây đã là một thành trấn phồn hoa, nhộn nhịp. Đây

    chính là thủ phủ của đất Giao Châu, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn

    hóa. Đại bản do anh của Thái thú Tô Định đặt ở đây. Hai Bà Trưng đã đánh vào

    nơi này. Trong suốt thời kỳ dài, quân Hán đóng quân ở Liên Lâu, đã có nhiều

    cuộc khởi nghĩa liên tục đốt phá, đánh thành. Nghĩa là binh lửa liên miên.

    Chính điều này đã giải thích được một hiện tượng đáng chú ý. Đó là những

    vùng đất chung quanh đều đỏ như son. Duy chỉ có khu vực Thành Liên Lâu, đất

    có màu đen, xám, xỉn. Đất đỏ vì phía dưới có quặng sắt. Còn đất đen là do

    binh lửa triền miên, đốt phá dữ dội, đã làm than hóa tất cả những sỏi, đá,

    đất, gỗ, tre, v.v.. Hiện tượng than hóa này đã làm cho đất Thành Liên Lâu

    không đỏ như đáng lẽ nó phải đỏ. Thật là: “Dấu binh lửa, nước non như cũ”.

    Khiến cho người thấy cảnh chạnh lòng về vùng Dâu.

    Đứng bên Thành, tôi

    bỗng nhớ đến một buổi đi xem hát cải lương cùng với nhà văn Nguyên Hồng. Tối

    hôm đó, chị Lệ Thanh đóng vai Trưng Trắc trong vở “Trưng Vương”. Chị vận võ

    phục có cách điệu. Trông vô cùng uy nghi và lộng lẫy. Mắt phượng, mày ngài,

    chị diễn có thần và hát rất hay. Nhà văn Nguyên Hồng khóc lên rưng rức và

    xuýt xoa: “Hay quá, đẹp quá!…”. Trong cuốn: “Viết về lịch sử đất An Nam”,

    nhà nghiên cứu Patris viết: “Tinh thần độc lập của người Lạc Việt rất cao.

    Suốt trong thời kỳ bị đô hộ dài dặc, họ không hề sao nhãng việc đứng dậy. Đó

    là một thứ ánh sáng chói lọi của ý chí quật cường không nguôi”. Trong khu

    vực Thành Dâu, có chợ Dâu, tháp Dâu. Tháp này 4 tầng, có chóp kiểu Stupa,

    cao chừng 20 mét, và chùa Dâu. Chùa Dâu phản ánh những nét của đạo Phật từ

    ấn Độ sang và được bản địa hóa. Nơi đây là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở

    Việt Nam rồi mới tỏa đi khắp nơi. Cũng là nơi in những bản kinh sớm nhất.

    Tục truyền, một cây đa thần thoại trôi dưới sông, được bàn tay thần thoại

    của á Nam Tiên nữ (Man Nương) vớt lên. Khi cây đa được đặt lên mặt đất thì

    tiên nữ đã biến mất, đã “hạc nội mây ngàn”. Cây đa được xẻ ra, tạc thành 4

    pho tượng để thờ. Đó là 4 vị Phật Mẫu gồm 4 chị em: Phật Vân, Phật Vũ, Phật

    Lôi, Phật Điện (cũng gọi là tứ Pháp). Chị cả được thờ tại Chùa Dâu, chị hai

    ở Chùa Đậu, chị Ba thì ở Chùa Tướng và cô em út được thờ ở Chùa Dàn. Mấy

    ngôi chùa này ở gần nhau. Có điều, chùa Dâu là chùa chính, nguy nga nhất.

    Tượng bà Dâu đặt ở chính giữa chùa chính, cao 2m85 (cả tượng lẫn bệ). Lại có

    nền cao và vỉa đá. Tễợng bà to hơn so với tất cả những pho tễợng khác trong

    chùa. Bà vừa là Phật, vừa là nữ chúa bản địa. Nơi đây, hàng năm có mở hội.

    Gọi là chùa Dâu, khắp nơi nô nức về dự hội. Có tế lễ, rước xách, vui chơi,

    rất tễng bừng, náo nhiệt. Người ta kể vè:

     

    Dù ai buôn bán

    trăm nghề

    Tháng tư,

    mồng tám thì về chùa Dâu.

    Dù ai buôn

    đâu, bán đâu

    Nhớ ngày

    mồng tám, hội Dâu thì về…

    Cách khu vực thành Liên

    Lâu chừng 3 km là lăng mộ Lạc Long Quân, là cả một tòa Việt điện. Đi chừng

    một đoạn đường nữa, rẽ sang bên trái là lăng Sĩ Nhiếp hình tròn trên một cái

    gò rợp bóng những cổ thụ. Những gò, đống nhấp nhô kéo lên. Dưới những gò

    đống đó là cơ quan những ngôi mộ Hán. Nơi đây thuộc về làng á Lữ. ở ngã ba

    Đông Côi cũng có nhiều ngôi mộ Hán có xây những vòng cuốn. Đứng nơi đây, ta

    có thể nhìn thấy núi Thiên Thai “nằm nghiêng nghiêng với mái tóc xanh rêu”.

    Chúng tôi đi chừng hơn 2km nữa về phía Đông Bắc, đến làng Đại Trạch có ngôi

    chùa Đại Trạch nổi tiếng, là nơi trước đây vợ thứ ba Cai Vàng đến tu và trụ

    trì sau khi làm cuộc khởi ngh ĩa thất bại. Bà thông thuộc 18 môn võ nghệ, đã

    dạy võ cho các trai làng và làm nhiều điều thiện, trừ kẻ gian ác. Cuộc đời

    của bà đủ để viết nên môt pho sách bi hùng. Dân làng nơi đây coi bà như tiên,

    như Phật. Từ Đại Trạch đi xuống phía nam là đến bến Hồ, gối đầu lên sông Cầu.

    ở đây có làng tranh Đông Hồ mà những bức tranh đậm đà tâm hồn dân tộc của nó

    đã có mặt ở nhiều gia đình trong nước và chúng cũng được trưng bày trong Bảo

    tàng Mỹ thuật của nhiều nước trên thế giới. Làng Đông Hồ được gọi là làng

    tranh, làng đẹp như tranh và cũng được gọi là làng các nghệ nhân. Họ vẽ

    tranh, khắc tranh, in tranh. Lại còn làm nghề vàng, mã và những mặt hàng

    trang trí mỹ thuật mang lại thao thức cho nghiều người. Ngược lên phía trên,

    ta chạm phải đất Lim và 49 làng Quan họ. Nơi mà một làn gió cũng mang điệu

    dân ca. Với nhữ ng “liền anh, liền chị” ăn mặc xông xênh, trèo lên quán Giốc,

    đi trẩy hội. Từ Đại Trạch đi ngược lên là đến Trí Quả, rồi đến làng Đình Tổ

    có chùa Bút Tháp, và đền Đô Vàng son lấp lánh, nơi thờ 8 vị vua Lý. Lý Chiêu

    Hoàng được thờ riêng ở ngôi đền bênh cạnh. Bà mang một nỗi buồn nguyên khối,

    không tan. Chính cái dải đất này đã nuôi dưỡng nhà thơ Hoàng Cầm để có được:

    “Bên kia sông Đuống” “Mưa Thuận Thành”, “Cây bài tam cúc” nổi tiếng.

    Chúng tôi nhớ lại một

    thời vào những năm chống Pháp, khu vực gần Bút Tháp, Rừng Thông, Bãi Tháp

    v.v.. là khu những du kích nổi tiếng với những chiến công oanh liệt. ở những

    làng quê nơi đây còn thấp thoáng những tập tục đáng chú ý. Có tục “Ngủ bạn”.

    Nó là chuyện trong ngày cưới, cô dâu và chú rể chưa động phòng vội. Ngày thứ

    nhất và ngày thứ hai, cô dâu còn gọi mấy người bạn thân đến ngủ cùng với

    mình. Nơi đây, họ coi nhẹ trường hợp có cô gái chửa bụa. Sau khi cô gái chửa

    bụa rồi sinh con được một hoặc hai năm, sẽ có một chàng trai nào đó đến xin

    cưới làm vợ. Mẹ chú rể mang lễ vật đến nhà gái và nói xanh rờn: “Ngày lành

    tháng tốt, chúng tôi rất sung sướng được có con dâu và có luôn cả thằng cu

    nữa”. Khi có trường hợp một đứa trẻ nào đó ở vào hoàn cảnh thập tử nhất sinh

    mà có được một người nào cứu sống thì đứa trẻ đó nhận người cứu mạng làm cha

    nuôi. Những ngày giỗ, tết phải đến thăm cha mẹ nuôi, phải đóng góp và có

    nhiệm vụ nhễ con đẻ. Đó là hình ảnh và dễ vị của thời mẫu hệ xa xôi. Những

    chuyện như vậy còn rất nhiều.

    Chúng tôi cũng theo dõi

    trong tâm tưởng khi đi trên con đường cổ từ bến hồ, đi Bắc Ninh, tới Phả Lại,

    Lục Đầu giang rồi ra biển hoặc đi ngược lên phía bắc, sang Trung Quốc… Đó

    là con đường mà các nhà sư ấn Độ đi từ chùa Dâu sang Trung Quốc truyền đạo.

    Là con đường mà con trâu vàng từ Trâu Sơn, giếng Việc ở Phả Lại đã chạy một

    mạch về Tống Bình (tên xưa của Thăng Long) rồi đẫm mình nơi vũng nước ở phía

    Tây Bắc, làm nên hồ Trâu Đằm và sau được gọi là hồ Dâm Đàm hoặc hồ Tây. Đó

    là con đường để cha ông cha ta đánh giặc Nguyên, Mông…

    Khách hành hương tới

    mảnh đất này thấy mình được lớn lên. Chỗ nào cũng có những di tích, tín hiệu,

    huyền thoại v.v… minh chứng cho sự tồn tại hào hùng của dân tộc. Chúng ta

    chắt lại những mảnh vụn lịch sử để phần nào phục hồi lại chút ít nguyên mẫu

    mà suy ngẫm về những bí ẩn của quá khứ, phục vụ cho hiện tại và mai sau. Mùa

    xuân đã đến và mùa xuân đã qua. Nhưng dẫu vậy thành Dâu vẫn đượm mầu cổ tích.

    Lý khắc Cung (Trích từ

    bacninh.gov.vn)

    LỊCH SỬ

     

    Vài nét về lịch sử

    tỉnh Bắc Ninh  

     Trích từ:

    bacninh.gov.vn

    Dưới các

    triều đại

    phong kiến

    trước đây,

    tỉnh Bắc

    Ninh được

    gọi là Kinh

    Bắc mà lịch

    sử đã để lại

    những di sản

    văn hoá

    truyền thống

    phong phú về

    mặt vật thể

    và phi vật

    thể với hệ

    thống thành

    quách ở thị

    xã Bắc Ninh,

    phòng tuyến

    sông Cầu (sông

    Như Nguyệt)

    nổi tiếng

    thời Lý

    chống lại

    các thế lực

    ngoại bang

    phương Bắc,

    hệ thống các

    đền chùa,

    miếu mạo ở

    các vùng Từ

    Sơn, Bắc

    Ninh – Thị

    Cầu, Dâu Keo

    … và đặc

    biệt là hát

    dân ca quan

    họ nổi tiếng

    cùng các lễ

    hội mang đậm

    bản sắc dân

    tộc như hội

    Lim, Đình

    Bảng …

     

    – Từ năm 1822 xứ

    Kinh Bắc được nhà

    Nguyễn đổi tên gọi

    thành tỉnh Bắc Ninh,

    sau 2 năm trấn thành

    Bắc Ninh, thuộc thị

    xã Bắc Ninh ngày

    nay, được xây dựng

    lại bằng đá ong và

    hiện diện vị thế của

    mình bằng cột cờ cao

    17m. 

    – Dưới thời

    Pháp thuộc

    vào năm 1931

    thị trấn Bắc

    Ninh được

    đổi tên

    thành tỉnh

    Bắc Ninh.

    Thị xã Bắc

    Ninh được tổ

    chức thành

    một cứ điểm

    trọng yếu về

    quân sự của

    Bắc Kỳ và là

    một trung

    tâm chính

    trị, kinh tế

    vùng.

    – Năm 1938

    thị xã Bắc

    Ninh được

    xếp vào

    thành phố

    thứ 5 của xứ

    Bắc Kỳ sau

    các đô thị:

    thành phố Hà

    Nội, thành

    phố Hải

    Phòng, thành

    phố Nam Định

    và thị xã

    Hải Dương.

     

    – Sau hoà bình lập

    lại năm 1954, tỉnh

    Bắc Ninh nói chung

    và thị xã Bắc Ninh

    nói riêng tiếp tục

    duy trì sự phát

    triển kinh tế suốt

    quá trình xây dựng

    chính quyền nhân dân

    và chủ nghĩa xã hội

    ở miền Bắc

    – Vào năm 1963 tỉnh

    Bắc Ninh được sát

    nhập với tỉnh Bắc

    Giang thành tỉnh Hà

    Bắc. Mặc dù không

    còn vị trí tỉnh lỵ

    như trước đây (lúc

    đó Bắc Giang trở

    thành tỉnh lỵ của

    tỉnh mới sát nhập),

    nhưng thị xã Bắc

    Ninh vẫn là một

    trung tâm kinh tế –

    xã hội quan trọng

    của Hà Bắc, nhất là

    trong mối quan hệ

    giao lưu với thủ đô

    Hà Nội.

    – Đến năm 1996 tỉnh

    Hà Bắc lại được chia

    lại thành hai tỉnh

    Bắc Ninh và Bắc

    Giang theo Nghị

    quyết của Quốc hội

    khoá IX, kỳ họp thứ

    10 (ngày 15 – 11 –

    1996). Từ đó thị xã

    Bắc Ninh lại trở

    thành thị xã của

    tỉnh Bắc Ninh mới.

    Từ đó đến nay Bắc

    Ninh đã phát triển

    không ngừng bộ mặt

    đô thị hoá của tỉnh

    mà tiêu biểu là việc

    xây dựng mới:

    • Khu vực hành

      chính và các khu

      dân cư mới ở thị

      xã Bắc Ninh.

    • Cải tạo và phát

      triển mạnh bộ

      mặt trung tâm

      của các thị trấn

      huyện lỵ, nhất

      là thị trấn Từ

      Sơn.

    • Đang hình thành

      và phát triển

      một số khu công

      nghiệp tập trung

      quan trọng như

      khu công nghiệp

      Từ Sơn, Quế Võ.

    • Hệ thống kỹ

      thuật hạ tầng

      được cải tạo và

      nâng cấp đáng kể

      nhất là QL 1A,

      QL 1B, QL 18, QL

      38, và 11 tuyến

      tỉnh lộ với tổng

      chiều dải trên

      350 km. Các hệ

      thống hạ tầng kỹ

      thuật cấp nước,

      cấp điện cũng

      được đầu tư đáng

      kể.

    • Hệ thống di tích

      lịch sử văn hoá

      lâu đời của xứ

      Kinh Bắc xưa

      nhất loạt đã

      được khôi phục,

      bảo tồn và phát

      triển có hiệu

      quả thu hút

      khách du lịch

      thập phương.

    Ngoài ra với hàng

    trăm ngành nghề khác

    nhau của tỉnh Bắc

    Ninh cũng được

    khuyến khích phát

    triển tạo điều kiện

    cho sự hình thành và

    phát triển nhiều thi

    tứ trên sông Dân, ở

    Đông Hồ, Đình Bảng,

    Đa Hội, Tương Giang,

    Phù Khê, Nội Duệ…

     

     

     

    Nơi sinh thành dân

    tộc và nên tảng văn

    hiến Việt Nam 

     

             Bắc Ninh ?

    Kinh Bắc xưa là vùng

    đất phía bắc của

    kinh thành Thăng

    Long ? Đông Đô ? Hà

    Nội ngày nay, là

    vùng đất trung tâm

    của châu thố sông

    Hồng. Bắc Ninh còn

    là nơi gặp gỡ, giao

    hội của các mạch

    giao thông thuỷ, bộ

    tạo cho xứ Bắc sớm

    trở thành trung tâm

    kinh tế – văn hoá

    với một vị trí đặc

    biệt trong lịch sử

    dân tộc và văn hoá

    Việt Nam.

             Qua

    các kết quả

    nghiên cứu,

    đặc biệt là

    nghiên cứu

    khảo cổ học

    ở Bắc Ninh

    cho thấy,

    đây là địa

    bàn cư trú

    của người

    Việt cổ,

    đồng thời là

    bộ phận cốt

    lõi của quốc

    gia Văn Lang

    ? Âu Lạc.

              

    Từ mấy nghìn năm

    trước người Việt cổ

    đã cư trú và lập

    làng ở ven sông Cầu,

    sông Dâu, sông

    Đuống, sông Ngũ

    Huyện Khê, sông Tiêu

    Vương,… sống chủ

    yếu bằng canh tác

    nông nghiệp kết hợp

    làm nghệ thủ công.

    Hàng loạt di vật như

    trống đồng, dao găm,

    rìu, giáo, tấm che

    ngực, mảnh giáp,…

    bằng đồng với những

    hoa văn độc đáo được

    tìm thấy ở các di

    tích Lăng Ngâm, Đại

    Trạch, Quả Cảm, Đại

    Lai,… mảnh khuôn

    đúc trống đồng trong

    thành cổ Luy Lâu đã

    chứng tỏ người xứ

    Bắc rất tinh xảo

    trong nghề đúc đồng,

    chế tác các đồ trang

    sức, làm gốm,…

                Cũng

    trên mảnh đất này,

    những giá trị tinh

    thần, tư tưởng được

    phản ánh qua các

    huyền thoại ?ông

    Đùng, bà Đùng?, ?ông

    khổng lồ cắn nát

    núi, hút sạch rừng,

    băng ngang lũ?, về

    Kinh Dương Vương,

    Lạc Long Quân, Âu

    Cơ, Thánh Gióng, An

    Dương Vương, Mỵ Châu

    – Trọng Thuỷ và

    thành cổ Loa,…

    Cùng với huyền thoại

    truyền thuyết là đậm

    đặc các di tích tiêu

    biểu như lăng mộ

    Kinh Dương Vương,

    các đền thờ Lạc Long

    Quân ? Âu Cơ, đền

    thờ Phù Đổng Thiên

    Vương ở Thuận Thành,

    Từ Sơn, Tiên

    Du,…đều được lưu

    giữ trong lòng đất

    lòng người vùng quê

    xứ Bắc – Bắc Ninh.

    Đây chính là sự minh

    chứng hùng hồn cho

    sự phong phú đa dạng

    và tiêu biểu hơn bất

    cứ đị a phương nào

    trên mảnh đất Việt

    ngàn năm văn hiến.

     

      

    Khu di tích

    Luy Lâu rộng

    hàng trăm

    hécta với hệ

    thống các

    công trình

    thành luỹ,

    đền chùa,

    phố xá, chợ,

    bến, kho

    tàng, dinh

    thự, các khu

    sản xuất

    gạch ngói,

    các làng

    nông nghiệp,

    làng thợ,

    làng buôn,

    khu môn

    địa,… còn

    là khu di

    tích thời

    Bắc thuộc

    lớn nhất

    Việt Nam

    hiện nay.

               Thủ phủ

    Luy Lâu (tức Long

    Biên) là nơi ghi dấu

    những chiến tích hào

    hùng chống quân xâm

    lược phương Bắc. Cho

    đến ngày nay, hệ

    thống các đền thờ

    tướng lĩnh ở đây và

    những lễ hội mừng

    chiến thắng mùa xuân

    vẫn được duy trì và

    tổ chức hàng năm ở

    trung tâm Luy Lâu

    càng khẳng định Bắc

    Ninh xưa là trung

    tâm của cuộc khởi

    nghĩa Hai Bà Trưng.

                Không

    những thế, qua các

    tài liệu thư tịch và

    di khảo cổ còn cho

    thấy Luy Lâu đã từng

    là đô thị lớn, là

    trung tâm thương mại

    mang tính quốc tế:

    ?Trên đất Giao Chỉ,

    trong suốt thời kỳ

    dài từ cuối thế kỷ

    thứ II đến thế kỷ

    IX-X, Luy Lâu không

    nhường vai trò đô

    thị lớn nhất cho bất

    cứ nơi nào?. Xung

    quanh Luy Lâu là các

    làng nông nghiệp,

    làng thủ công, làng

    buôn bán phát triển

    mạnh mẽ. Luy Lâu là

    một đô thị mang tính

    buôn bán quốc tế,

    các hoạt động buôn

    bán trao đổi hàng

    hoá ở Luy Lâu thời

    Bắc thuộc rất nhộn

    nhịp và sầm uất.

                Cùng với

    quá trình giao lưu,

    hội nhập và trao đổi

    kinh tế là quá trình

    tiếp xúc, hội nhập

    văn hoá, tín ngưỡng,

    tôn giáo giữa Việt

    Nam và các nước

    trong khu vực mà

    trung tâm cũng vẫn

    là Luy Lâu. Tại đây,

    tư tưởng Nho giáo và

    văn hoá Hán Đường đã

    được truyền bá liên

    tục vào nước ta. Bắc

    Ninh với trung tân

    Luy Lâu là nơi đầu

    tiên có trường dạy

    chữ và văn hoá Hán ở

    Việt Nam.

                Ngoài ra

    Luy Lâu còn là trung

    tâm Phật giáo lớn và

    cổ xưa nhất của

    người Việt. Hệ thống

    di tích, chùa tháp

    quần tụ đậm đặc ở

    đây với trung tâm là

    chùa Dâu cùng nhiều

    nguồn di vật, tài

    liệu như tượng pháp

    , bia ký, bản khắc

    ?Cổ Châu Pháp Vân

    vật bán hanh? và lễ

    hội chùa Dâu – lễ

    hội Phật giáo lớn

    nhất trong đồng bằng

    Bắc Bộ với các nghi

    lễ Tân Phật, rước Tứ

    Pháp, rước nước đã

    chứng tỏ Luy Lâu là

    tổ đình của Phật

    giáo Việt Nam.

                Giáo sư

    sử học Trần Quốc

    Vượng đã nhận xét:

    ?Xứ Bắc với đô thị

    cổ Long Biên ? Luy

    Lâu là không gian

    điển hình đan xen,

    hỗn dung tiếp xúc,

    biến đổi hội tụ và

    kết tinh văn hoá

    Việt Nam cổ với văn

    hoá Phật – Ấn, Nam Á

    và Trung Á, văn hoá

    Nho Lão (Trung Hoa ?

    Đông Á) để rồi sinh

    thành bản sắc văn

    hoá Kinh Việt.

     

     

                Bước vào

    kỷ nguyên Đại Việt,

    Bắc Ninh trở thành

    phên dậu phía Bắc

    của kinh thành Đông 

    Đô ? Thăng Long ? Hà

    Nội. Nơi đây tiếp

    tục giữ vai trò quan

    trọng đặc biệt trong

    công cuộc bảo vệ đất

    nước và phát triển

    văn hoá Việt Nam. 

    Miền quê ?địa

    linh? này là

    đất phatsb

    tích nhà Lý

    – triều đại

    khai mở ra

    nền văn minh

    Đại Việt gắn

    liền với tên

    tuổi của

    những nhân

    vật lịc sử –

    văn hoá kiệt

    xuất như: Lý

    Công Uẩn, Lý

    Nhân Tông,

    Nguyên Phi Ỷ

    Lan, Lê Văn

    Thịnh. Đây

    là nơi vang

    vọng bài thơ

    ?Nam quốc

    sơn hà? –

    bản tuyên

    ngôn độc lập

    đầu tiên của

    dân tộc Việt

    Nam.

     

              

                Ngoài ra

    nơi đây cũng là vùng

    quê trù phú, kinh tế

    phát triển, là vựa

    lúa của đồng bằng

    Bắc Bộ. Ít nơi nào

    có nhiều làng nghề

    nổi tiếng như tỉnh

    Bắc Ninh: gốm sứ (Phù

    Lãng, Thổ Hà), gò

    đúc đồng (Đại Bái),

    rèn sắt (Đa Hội),

    chạm khắc (Phù Khê,

    Kim Thiều), sơn mài

    (Đình Bảng), ?mộc

    Choã, ngoã Viềng?,

    cày bừa (Đông Xuất),

    giấy dó (Đống Cao),

    tranh điệp (Đông Hồ),

    dệt lụa (Tam Sơn,

    Cẩm Giàng),…

                Người

    Bắc Ninh không chỉ

    giỏi làm ruộng mà

    còn khéo tay, tinh

    xảo, hoạt bát trong

    giao thương, buôn

    bán và nhất là lại

    thông minh hiếu học.

    Ngoa truyền dân gian

    về đất này quả là có

    cơ sở: ?Một giỏ sinh

    đồ, một bồ tiến sỹ,

    một bị trạng nguyên,

    một thuyền bảng

    nhãn?. Đây là quê

    hương của vị Trạng

    nguyên Lê Văn Thịnh

    – vị trạng nguyên

    khai khoa mở đầu cho

    lịch sử khoa cử Việt

    Nam. Có vùng như

    huyện Đông Ngàn

    thông minh hơn người

    (dốt Đông Ngàn hơn

    người ngoan thiên

    hạ), có làng như Tam

    Sơn – địa phương duy

    nhất cả nước có đủ

    tam khôi với 22 vị

    đại khoa (tiến sỹ)

    trong đó có hai

    trạng nguyên.

                Nơi đây

    còn nổi tiếng với

    trung tâm phật giáo

    và những ngôi chùa

    có quy mô to lớn, cổ

    kính, kiến trusc tạo

    tác rất công phu,

    tài nghệ như chùa

    Dâu, chùa Phật Tích,

    chùa Dạm, chùa Bút

    Tháp, chùa Tiêu Sơn,

    Cổ Pháp,… Đây là

    những danh lam cổ tự

    nổi tiếng, ngày nay

    đã trở thành những

    di sản kiến trúc

    tiêu biểu của dân

    tộc ta.

                Nơi đây

    còn được mệnh danh

    là vương quốc của lễ

    hội, chủ yếu là hội

    chùa, hội đền. Trong

    đó có những lễ hội

    lớn, nổi tiếng cả

    vùng và cả nước như

    hội Gióng (9-4), hội

    Dâu (8-4), hội đền

    Đô, hội Lim, hội

    Chùa Phật Tích…

                Về ăn

    mặc dân Kinh Bắc ưa

    sang trọng nhưng nền

    nã: nam khăn xếp, áo

    the, ô lục soạn; nữ

    áo mớ ba, mớ bảy,

    nón quai thao. Xứ

    bắc có nhiều làng

    nghề nghệ thuật như

    làng tranh Đông Hồ,

    làng hát ca trù

    Thanh Tương, làng

    rối nước Đồng Kỵ,

    Bùi Xá, Đa Hội, Tam

    Lư, Tấn Bảo,…và

    đặc biệt hơn cả là

    hệ thống 49 làng

    chơi quan họ, một

    lối chơi, một sin

    hoạt văn hoá tinh

    tường, độc đáo, đạt

    tới đỉnh cao của thi

    ca và âm nhạc mà chỉ

    người Bắc Ninh mới

    có.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩm Thực Hà Nội Qua Ca Dao, Tục Ngữ
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Trang Phục (Phần 3)
  • Tục Ngữ Nói Về Sự Vô Ơn
  • Những Câu Nói Danh Ngôn Ca Dao Tục Ngữ Về Ý Chí Nghị Lực ( Và Sự Cố Gắng Mạnh Mẽ)
  • Văn Học Dân Gian, Ca Dao, Mỹ Học, Âm Nhạc
  • Bạn đang xem bài viết Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100