Xem Nhiều 11/2022 #️ Bà Ngô Đình Nhu : Từ Thời Trẻ Sôi Động Đến Những Tháng Năm Ẩn Dật / 2023 # Top 20 Trend | Boxxyno.com

Xem Nhiều 11/2022 # Bà Ngô Đình Nhu : Từ Thời Trẻ Sôi Động Đến Những Tháng Năm Ẩn Dật / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bà Ngô Đình Nhu : Từ Thời Trẻ Sôi Động Đến Những Tháng Năm Ẩn Dật / 2023 mới nhất trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tin bà Trần Lệ Xuân tức bà Ngô Đình Nhu, người từng được coi là Đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa trước đây từ trần tại Roma cách đây đúng một tuần, ngày chủ nhật 24/4, đã khiến cho dư luận trong và ngoài nước hết sức chú ý. Sau cuộc đảo chính năm 1963, hầu như không ai biết gì về bà, vì bà sống ẩn dật, hầu như không có một tiếp xúc nào với thế giới bên ngoài. Người ta chỉ biết là bà đang viết một cuốn hồi ký.  

Sinh năm 1924 trong một gia đình danh gia thế phiệt, thân phụ là luật sư Trần Văn Chương, thân mẫu là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và là em họ của vua Bảo Đại, năm 19 tuổi bà lập gia đình với ông Ngô Đình Nhu. Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, thì ông Nhu làm cố vấn chính trị, và vì ông Diệm độc thân nên bà Trần Lệ Xuân luôn là người đứng ra tiếp các phu nhân của các vị quốc khách.

Bà Trần Lệ Xuân cũng là dân biểu Quốc hội, chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới. Bà đã đưa ra đạo Luật gia đình cấm người đàn ông lấy hai vợ, Luật bảo vệ luân lý và thuần phong mỹ tục, đồng thời có nhiều hoạt động xã hội khác. Chiếc áo dài cổ hở do bà đề xướng, vào thời đó được gọi là « áo dài bà Nhu », cũng là một dấu ấn mà bà để lại đến ngày hôm nay. Là một phụ nữ tài giỏi, xông xáo, nhưng bà cũng có những phát biểu gây sốc làm cho không ít người bất bình.

Tháng 10/1963, bà và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định tố cáo âm mưu lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của Tổng thống Kennedy và CIA. Nhưng ngày 1/11/63 đã xảy ra đảo chánh, ông Diệm và ông Nhu đều bị sát hại. Bà rời Mỹ với lời tuyên bố : « Tôi không thể sống ở Mỹ, đơn giản vì chính phủ Mỹ đã đâm sau lưng tôi ». Bà sống lặng lẽ ở Paris cho đến cách đây một năm sức khỏe yếu dần, thì sang Roma với người con lớn cho đến khi mất. Một trong những câu nói nổi tiếng của bà là : « Ai đã có người Mỹ là đồng minh thì chẳng cần phải có kẻ thù ».

Luật sư Trương Phú Thứ, người chịu trách nhiệm biên soạn và in ấn cuốn sách của bà Trần Lệ Xuân cho biết, theo dự định thì tác phẩm này sẽ được ra mắt vào năm 2012. Khi được hỏi, cuốn sách do chính bà viết ra hay có ai chấp bút cho bà, ông Trương Phú Thứ nói :

Bà viết ra tự tay bà viết ra chứ không có ai viết thay bà hết, vì bà không có liên lạc với bẩt cứ một người nào hết. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai : các con bà ở mỗi người một nơi. Bà viết cái này khi bà còn ở bên Paris, tức là khi sức khỏe của bà còn tốt. Bà viết trong căn phòng appartement có một mình bà thôi, thì bà đâu có nhờ ai viết được, bà tự viết lấy.

Tiếng Việt của bà thì kém lắm, tiếng Pháp rất là giỏi. Tiếng Pháp bà viết còn hơn cả những người có bằng cấp về văn chương Pháp ở Pháp. Tiếng Pháp của bà rất giỏi nhưng mà tiếng Việt thì kém lắm, thành ra bà phải viết bằng tiếng Pháp. Thế thì bà đưa cho mình, và mình có nhiệm vụ dịch ra tiếng Việt Nam.

Thưa anh, một nhân vật như bà Nhu thì chắc chắn nhiều người rất là trông chờ để biết vì mấy mươi năm nay không có tin tức gì của bà hết. Như vậy liệu cuốn sách đó có đáp ứng được mong đợi của người đọc không ?

Cái này thì tùy theo quan điểm của người đọc. Những người nào tò mò muốn biết về đời tư của bà như thế nào, hoặc thái độ đối xử của bà đối với những người đã gây ra những đau khổ cho bà, hoặc những người vu oan nói xấu bà này nọ, thì không có. Bà không đề cập đến chuyện đó, vì bà coi đấy là những chuyện không đáng để nói tới. Quyển sách của bà truyền đạt những suy tư, tư tưởng của bà đối với thân phận con người, đối với tạo hóa, và rất có thể là nhiều người đọc sẽ thất vọng lắm. Nhưng những cái gì của bà viểt ra thì mình sẽ đưa ra cho công chúng như vậy thôi, mình không thể nào thêm bớt được hết. Một dấu phẩy, một dấu chấm mình cũng không thay. Thứ nhất là bây giờ bà chết rồi mình phải tôn trọng cái đó một cách tuyệt đối.

Như vậy đây không phải là một cuốn tự truyện ?

Không phải là tự truyện mà cũng không phải là hồi ký. Thông thường người ta hiểu hồi ký là viết lại những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, những chuyện vui chuyện buồn, chuyện của một cá nhân của một con người. Thế nhưng bà đã quên hết rồi. Bà đã sống 48 năm từ khi lưu vong ra nước ngoài, trong một căn phòng, một chỗ ở rất nhỏ hẹp, sống một cách quá cô độc, không tiếp xúc, không có liên lạc với bất kỳ một người nào hết. Bà chỉ đi ra ngoài mỗi buổi sáng. Thời gian mà bà còn khỏe mạnh thì bà đi ra ngoài, đi lễ ở nhà thờ Saint Léon.

Lâu nay vẫn có nhiều dư luận trái chiều nhau về bà Trần Lệ Xuân. Như vậy trong sách có nói gì về những lời đồn đãi chung quanh tính cách của bà không?

Chuyện đó thì không có. Bà Ngô Đình Nhu hay bất kỳ một người nào trên thế gian này cũng có người ghét người thương. Không ai có thể nói là mình được tất cả mọi người thương mến, kính phục hết, cũng có người này gièm pha ba câu, người kia đố kỵ…Thế nhưng bà Nhu không hề động chạm, đề cập đến bất kỳ một chuyện lớn nhỏ nào như thế. Từ khi bà chọn một cách sống, ở một mình trong một căn phòng, tức là bà đã muốn quên hết, muốn bỏ lại đằng sau lưng tất cả. Những chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện vui chuyện buồn bà bỏ hết. Bà sống như một người khổ tu, gần gần như một người khổ tu vậy.

Ngay cả vấn đề ăn uống, bà cũng chẳng có nấu nướng gì hết. Tôi thấy trong bếp của bà cũng chẳng có một cái nồi, cái chảo hay thìa muỗng gì hết. Trong tủ lạnh mở ra thì độc có một vài chai nước, chỉ có vậy thôi. Thế thì bây giờ người ta hỏi bà ăn ở đâu, bà cũng phải ăn chứ ! Thì thường thường những người Pháp ở trong chung cư đó, họ biết bà như vậy nên thường một hai ngày họ nấu đồ ăn họ mang tới cho bà.

Còn nếu không thì bà sống như thế nào nếu bà không ăn uống gì ạ?

Bà ăn rất ít. Có một lần bà nói với tôi, đây nè anh Thứ à, hai ngày hôm nay tôi chưa ăn và uống gì. Thế rồi bà cười, bà nói là vì tôi không ăn uống nên tôi không có bệnh gì hết.

Nhưng phải nói là bà rất khỏe. Bà chỉ cảm thấy yếu từ đầu năm 2010. Mới đây thôi. Thứ nhất là vì cái tuổi già, đến đầu năm 2010 thì bà bắt đầu cảm thấy yếu. Nhưng mà cách đây chừng độ hai tháng, bà gọi điện thoại cho tôi, tiếng nói của bà vẫn còn rất là to, rất là khỏe. Bà cũng cười vui vẻ lắm trên điện thoại, thì tôi nghĩ là bà khỏe lắm. Thế nhưng mà sau đó thì vì tuổi già, sức khỏe sụt xuống một cách quá mau lẹ.

Thì bà cũng qua đời vì tuổi già thôi, chứ thật ra chẳng có bệnh tật gì. Có một cái vấn đề về sức khỏe là cái chân của bà bị gẫy từ xưa, thành ra đôi khi cũng hơi đau đau chút chút vậy thôi, nhưng không có đau đớn nhiều lắm. Ai đến tuổi già thì cũng bệnh như vậy thôi, cũng suy sụp như vậy thôi, chứ không phải riêng gì bà Nhu. Có nhiều người già phải nằm trên giường bệnh hết năm này qua năm khác. Nhưng mà bà Nhu nằm trên giường bệnh chưa đến một tháng, khoảng độ ba bốn tuần lễ vậy thôi. Bà đi một cách rất là bình an, như vậy thì tôi nghĩ cũng là một phước lành, một phúc đức của bà.

Và cũng có người thân chung quanh ?

À, các con cái thì như cô biết là bây giờ bà còn hai người con trai và một cô con gái. Anh con trai lớn là Ngô Đình Trác thì có vợ con, vợ anh người Ý. Còn cô con gái út là cô Ngô Đình Lệ Quyên thì chồng cũng là người Ý luôn. Nhưng con trai giữa là Ngô Đình Quỳnh thì sống độc thân một mình, không có vợ con gì hết, ông làm việc bên Bỉ.

Khi bà Nhu về La Mã, bà ở căn nhà của gia đình Ngô Đình Trác. Nhà đó cách thủ đô La Mã khoảng 10 cây số. Cái nhà đó là nhà trệt, không có tầng lầu, nhưng mà dưới có một cái tầng hầm. Gia đình ông Trác ở trên, và gia đình của cô Lệ Quyên ở dưới. Họ sống với nhau cả bao nhiêu năm trời rồi, rất là vui vẻ, rất là hòa thuận.

Khi bà yếu quá, ông Trác đưa vô trong nhà thương… Bên đó chắc là mấy người con cũng bận rộn với vấn đề lo tang lễ cho bà, không biết là ngày nào giờ nào nhưng mà tôi biết chắc chắn là sẽ tổ chức rất là kín đáo, trong gia đình mà thôi.

Giám đốc giáo xứ Việt Nam ở Paris, đức ông Mai Hữu Vinh có cho biết là nhiều người tới xin lễ cho bà…

Ở đây, ở California tối hôm qua cũng có làm một buổi lễ để cầu nguyện cho bà Nhu, và trong nhà thờ rất đông, vì họ cũng quý mến bà lắm. Và tôi có được thông báo là tiểu bang Oregon chiều thứ bảy này họ cũng xin lễ ở nhà thờ để cầu nguyện cho bà. Thôi thì bà chết như vậy mà được mọi người nhớ đến trong một cái ân tình như vậy, tôi cũng mừng cho bà lắm.

Vâng, thì thôi cũng tốt cho bà, với những sóng gió mà bà đã trải qua…

Ông và bà Ngô Đình Nhu, năm 1956 (DR).

Tượng Hai Bà Trưng ở bến Bạch Đằng, Saigon, bị cho rằng giống khuôn mặt bà Trần Lệ Xuân và con gái là Ngô Đình Lệ Thủy, đã bị đập bỏ khi bà đi lưu vong ở nước ngoài (DR).

Bây giờ có cái gì là bí mật nữa đâu. Tất cả mọi chuyện đã phơi bày ra ánh sáng hết cả rồi. Ai giết ông Tổng thống, ai giết chồng bà ấy, những thế lực nào đứng đằng sau cuộc đảo chánh, hoặc là bà có bao nhiêu tiền, có bao nhiêu đồn điền…thì người ta biết hết cả rồi, chả có gì gọi là bí mật nữa.

Bà có đặt tựa cho cuốn sách đó chưa ?

Có. Bà lấy một cái dẫn dụ trong Cựu Ước để đặt tựa cho cuốn sách.

Và anh sẽ là người dịch ?

Tôi có sự giúp đỡ rất quý báu của anh Nguyễn Kim Quý, rất giỏi tiếng Pháp. Anh có bằng tiến sĩ văn chương Pháp, và là giáo sư Pháp văn của các trường đại học ở Mỹ. Anh giúp tôi về chuyện đó.

Khi viết cuốn sách này bà Nhu có ước vọng gì, dành cho người Việt hay cho độc giả các nước ?

Bắt đầu cách đây khoảng chừng mười năm, lần đầu tiên tôi gặp bà cố vấn Ngô Đình Nhu, thì bà viết bằng tiếng Pháp, và có ý định sau khi viết xong thì bà sẽ tự tay dịch sang tiếng Anh và tiếng Ý. Thế nhưng về sau có thể có nhiều lý do, như là sức khỏe không được tốt như hồi trước, hoặc là bà bận bịu, nên bà chỉ viết bằng tiếng Pháp mà thôi. Mà ngay cả bản bằng tiếng Pháp thì cũng còn phần cuối dang dở. Thành ra để vài ba tuần lễ nữa, khi gia đình lo tang lễ cho bà xong thì lúc đó tôi sẽ hỏi để lấy cái phần cuối cùng đó.

Có dài lắm không ạ ?

Dài ! Nguyên bây giờ thì cũng đã gần 500 trang rồi, nhưng in ra thì tôi nghĩ khoảng 300 trang thôi vì chữ viết của bà to.

Bà Nhu muốn quyển sách này đến với độc giả khi bà còn sống, chứ không phải là khi bà chết rồi. Thế nhưng khi còn sống bà chưa làm được chuyện đó, thành ra bây giờ khi bà mất mình giúp đỡ để hoàn thành giấc mộng của bà là đưa quyển sách, đưa tư tưởng, suy tư của bà đến với độc giả, đến với người Việt Nam.

Anh dự định cho xuất bản ở đâu ?

Tôi sẽ in và phổ biến bên Mỹ này thôi, còn đương nhiên là sau đó tôi sẽ gởi đi những quốc gia có cộng đồng người Việt Nam đông như là Anh, Pháp, Đức…

Các con của bà có ý kiến gì về cuốn sách này không ?

À, hầu như là không. Vì họ lớn lên ở ngoại quốc, họ tôn trọng tính độc lập của từng cá nhân. Các con của bà thì đương nhiên rất là yêu mến và kính phục bà, nhưng họ không có xen vào những chuyện mà bà làm.

Và những người con của bà Nhu có vẻ cũng kín tiếng như bà ?

Thì như cô thấy đó, từ hồi năm 1963 cho đến giờ các con của bà có ai ra ngoài công chúng, có nói năng gì đâu, không ! Họ rất là im lặng, y như bà vậy thôi. Họ cũng giữ một cái khoảng cách quá xa xôi đối với thế giới bên ngoài

Bà Trần Lệ Xuân (DR).

Qua thời gian tiếp xúc với bà Nhu, anh có cảm tưởng như thế nào về bà ?

Cảm tưởng của tôi thì cũng như rất nhiều người đã nhận xét về bà. Bà là một người đàn bà tài giỏi, can đảm, dám nói và dám làm. Chẳng hạn một chuyện trong quá khứ, khi bà đưa ra đạo luật về gia đình ở Việt Nam, đề cao nhân phẩm của người phụ nữ. Đạo luật đó được Quốc hội biểu quyết thông qua, cấm đàn ông lấy hai vợ, và những vấn đề khác nữa, để nâng cao đời sống của người phụ nữ Việt Nam lên. Mặc dầu hồi đó có những sự chống đối nhưng bà vẫn can đảm vượt qua.

Một phụ nữ như thế mà chọn cuộc sống ẩn dật có lẽ không dễ ?

Tôi thấy là khi chọn lựa một cuộc sống như vậy, chắc là bà phải có những suy nghĩ và quyết định rất là khôn khéo. Từ khi mà bà phải sống lưu vong ở ngoại quốc sau vụ đảo chánh ngày 1/11/63 ở bên Việt Nam, gần như không có ai nói tới bà nữa. Nhưng không phải là người ta sẽ để cho bà yên. Trường hợp nếu bà có một cái manh động, một lời nói, cử chỉ sao đó, đương nhiên họ sẽ nói tới rất nhiều.

Hồi xưa lúc chồng bà chết rồi thì bên Mỹ Tổng thống Kennedy cũng bị giết, thì bà Kennedy cũng là góa phụ. Thế nhưng bà Kennedy về sau đi đến đâu thì người ta theo dõi đến đó, người ta có những bản tường trình đầy đủ, chuyện xấu cũng có mà chuyện tốt cũng có. Thế nhưng đối với bà Nhu thì tuyệt nhiên không, vì bà không đi đâu hết ! Bà tự giam hãm mình trong một căn phòng. Ngay cả buổi sáng đi lễ bà cũng mặc quần áo rất kín đáo, đội mũ, che đầu… để không ai nhận ra bà hết.

Về phần ông linh mục ở nhà thờ Saint Léon, bà đã đi lễ ở nhà thờ đó nhiều năm rồi mà về sau ông mới biết đó là bà Ngô Đình Nhu. Ngay cả sau khi lễ xong bà ở lại dọn dẹp, trang hoàng nhà thờ thì ông cũng nghĩ đó là một giáo dân bình thường thôi. Mãi mấy năm sau, không biết người nào nói với ông thì ông mới biết !

Cũng có nhiều người muốn có một tấm hình của bà lúc về già, nhưng tôi nghĩ là chẳng có ai chụp được cái hình nào hết. Đương nhiên là bà phải già đi, nhưng trông vẫn còn khỏe lắm và vui tươi. Tôi có nhận xét, mỗi lần bà cười trông bà trẻ lắm, làm tôi nhớ lại những hình ảnh mà tôi được coi trên báo chí, trông rất trẻ !Khi bắt đầu cuộc sống lưu vong ở nước ngoài từ năm 1963, bà không có một đồng trong túi…

Như vậy làm sao bà mua được hai căn nhà ở Paris ?

Hai căn nhà là mãi sau này, do một bà bá tước người Ý cho. Mà bà này cho rất là kín đáo, bà Nhu không biết. Thì bà Nhu có một số tiền rất lớn, tôi không biết là bao nhiêu nhưng mà căn hộ đó dù ở trên tầng lầu thứ 11 nhưng cái tòa nhà ở khu đó đắt lắm. Bà nhờ một ông cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle mua giùm hai cái appartement.

Có nhiều người đặt câu hỏi, vì sao lại có một số tiền trên trời rớt xuống như vậy, thì vấn đề có nguyên do của nó. Tức là Ngô Đình Trác, con trai lớn của bà lấy một cô vợ người Ý, mà gia đình cô này là một trong những gia đình thế phiệt, vọng tộc, giàu có nhất của nước Ý, thì từ chỗ đó mà ra. Người ta thấy bà sống vất vưởng không có nhà cửa thì có một người cho một số tiền nhưng ẩn danh, không nói cho bà Nhu biết. Mãi đến bốn năm sau, bà kia chết thì bà Nhu mới biết đó là người đã cho mình tiền để mua nhà.

Xin phép được tò mò thêm một câu, tên đề trên hộp thư và interphone tại tòa nhà nơi bà sống là bà Trần Lệ Xuân hay là bà Ngô Đình Nhu ?

Tôi nghĩ có thể bà ghi tên trên hộp thư là bà Ngô Đình Nhu, vì mỗi lần tôi gửi sách cho bà thì tôi đề là Madame Ngô Đình Nhu, bà đều nhận được hết.

Xin cám ơn luật sư Trương Phú Thứ từ Hoa Kỳ đã vui lòng dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ hôm nay về bà Trần Lệ Xuân tức bà Ngô Đình Nhu.

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Đăng ký

Tải ứng dụng RFI để theo dõi toàn bộ thời sự quốc tế

Download_on_the_App_Store_Badge_VN_RGB_blk_100217

google-play-badge_vi

Cố Tt Ngô Đình Diệm: Tôi Chết Thì… / 2023

Cố TT Ngô Đình Diệm: Tôi Chết Thì Trả Thù Cho Tôi.

Lê Xuân Nhuận

http://sachhiem.net/LICHSU/LEXNHUAN/LeXNhuan16.php

21-Oct-2017

LTS: Tựa đề theo ý kiến riêng của trang nhà. Tác giả chỉ đề tựa như sau: “TÔI CHẾT, THÌ … ???” Đây là một chuyện lẽ ra rất nhỏ nhưng chính người muốn né tránh hai chữ “trả thù” của ông Diệm mà chuyện trở thành to. Lý do họ sửa đổi tuy không ai nói ra nhưng theo dõi các động thái của những người suy tôn ông Diệm, đã từng đòi đề nghị giáo hoàng phong thánh cho Ngô Đình Diệm, thì hai chữ “trả thù” sẽ là trở ngại lớn lao! Dù sao thì các tôi tớ của ông Diệm cũng vẫn làm mọi cách để trả thù cho chủ rồi, ít nhất là trên các mặt trận làm giỗ mỗi năm, mặt trận viết bài ca tụng, mặt trận xây tượng đài, mặt trận chửi các tướng lãnh,… (SH)

Đây là một câu nói “để đời” (đã đi vào lịch-sử) của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm.

Nhưng gần đây (29-5-2011) có kẻ đã sửa khác đi lời trối-trăng của người mà họ tôn sùng (như sau – SH).

… Lúc sinh thời, tại nhiều nơi. Trước nhiều cơ quan, đoàn thể, Quân trường … mỗi khi thuận tiện, Ông [TT Diệm] đều nhắn nhủ:

-Tôi tiến. Hãy tiến theo tôi !

-Tôi lui. Hãy giết tôi !

–Tôi chết. Hãy nối chí tôi !

… Người viết cũng không quên những lời của Thượng Nghị sĩ Lê Châu Lộc luôn luôn nhắc nhở về Di Huấn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

… Người viết là kẻ hậu sinh. Vì thế, trước khi viết bài này, tôi đã phải gọi sang Hoa Kỳ để được nghe chính những lời của Thượng Nghị Sĩ Lê Châu Lộc truyền đạt qua điện thoại viễn liên Mỹ – Pháp về những điều mà chính Ông Lê Châu Lộc đã biết – nghe – thấy trong suốt thời gian là Tùy Viên ở bên cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Mỗi lần hầu chuyện với Ông Lê Châu Lộc, tôi đều được Ông nhắc lại nhiều lần, để phải ghi nhớ những điều Ông đã nói:

– Tôi tiến. Hãy tiến theo tôi !

– Tôi lui. Hãy giết tôi !

– Tôi chết. Hãy nối chí tôi !

29-5-2011

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

(trong bài “Tổng Thống Ngô Đình Diệm Và Phật Giáo“)

Lời “trối-trăng” liên-hệ đã được Tổng-Thống Ngô Đình Diệm nói ra, chỉ một lần (chỉ một lần mà đã là gở miệng, thần khẩu buộc xác phàm) vào dịp Quốc-Khánh 26-10-1963.

Thế mà ngày nay người ta bảo là tại “nhiều nơi“, “mỗi khi thuận tiện”, cố TT họ Ngô “đều nhắn nhủ” như thế – mà lại là Di Huấn phịa mới là chuyện ngược đời.

Tôi thử dò lại một số tài-liệu thỉ được biết Sự Thật. Sự Thật, câu nói đó là:

TÔI CHẾT, THÌ TRẢ THÙ CHO TÔI!

A – NGUỒN GỐC VIỆT-NAM:

Theo Tiến-Sĩ HOÀNG NGỌC THÀNH:

“… Tổng thống Diệm thường đi Đàlạt nghỉ cuối tuần, nhất là sau khi ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc quyên sinh ngày 7-7-1963, tức ngày kỹ niệm 9 năm cầm quyền của ông Diệm. Một số người nhận thấy rằng tổng thống Diệm đã cảm thấy có cái gì bất ổn trong tình thế. Trong ngày Quốc khánh cuối cùng 26-10-1963, khi tiếp các đoàn thể, mặt tổng thống Diệm “thoáng buồn”, bằng một giọng ai oán, ông nói mấy lời mà nhiều người cho là gở:

“Chế độ này tuy còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê là độc tài, nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn… Tôi tiến thì theo Tôi, Tôi lùi thì bắn tôi, Tôi chết thì trả thù cho Tôi… ”

(Trích từ cuốn sách “Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm” của Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức, do Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, ở San Jose, USA, xuất bản, năm 1994, trang 441)

(Trích từ cuốn sách “Những Ngày Chưa Quên” của Đoàn Thêm, do Xuân Thu, ở Los Alamitos, USA, xuất bản, năm 1989, trang 205)

Theo Ký-Giả PHAN VIẾT PHÙNG:

[ChinhNghiaViet] NGÔ ĐÌNH DIỆM – NGÔI SAO ÁI QUỐC

Saturday, October 15, 2011 2:11 PM

Bcc: ChinhNghiaViet@yahoogroups.com

NGÔ ĐÌNH DIỆM – NGÔI SAO ÁI QUỐC

PHAN VIẾT PHÙNG

Lời Tòa Soạn: Bài viết của tác giả Phan Viết Phùng với tựa đề “Ngôi sao ái quôc giữa đêm tối của dân tộc” chúng tôi xin trích đăng phần sau của bài viết đề cập tới việc Mỹ làm áp lực Tổng Thống Ngô Đình Diệm và đi tới đảo chánh. Xin cám ơn tác giả và giới thiệu với bạn dọc một bài viết rất công phu .

TUẦN BÁO ĐỜI

… Vào giai đoạn này, Tổng Thống Diệm hình như có linh cảm về một cái gì không lành. Hôm lễ Quốc Khánh 26-10-1963, khi nói với các đoàn thể về chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa ông có nói câu “Tôi tiến thì theo tôi, tôi lùi thì bắn tôi, còn tôi chết thì trả thù cho tôi“…

Tác Giả: Phan Viết Phùng

Trích Tuần Báo ĐỜI (Số 25 )

Năm Thứ Nhất Ngày 17-24/10/2003 – Trang 8 & 9

Theo Ký-Giả PHẠM PHONG DINH:

Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM, Kẻ Sĩ Cuối Cùng

(2.11.1963 – 2.11.2006)

Tôi tiến, hãy theo tôi;

tôi lùi, hãy bắn tôi;

tôi chết, hãy trả thù cho tôi.

Theo Ký-Giả LE TRAN:

RE: [GoiDan] Đốt nén hương lòng kính dâng Ngô Tổng Thống,

Thursday, October 28, 2010 4:44 PM

To: goidan@yahoogroups.com

“TÔI CHẾT XIN ĐỒNG BÀO HÃY TRẢ THÙ CHO TÔI!”

Đó là lời cuối của bài Hiệu Triệu TT N Đ D đọc sáng ngày 26-10-1963

TT Ngô Đình Diệm nói: “Tôi tiến, đồng bào tiến theo tôi; tôi lùi, đồng bào hãy giết tôi; tôi chết, xin đồng bào trả thù cho tôi” (bài hiệu triệu cuối cùng đọc ngày Quốc Khánh 26-10-1963).

B – NGUỒN GỐC ANH-MỸ:

http://www.famousquotesandauthors.com/…

Ngo Dinh Diem Quotes and Quotations

http://www.brainyquote.com/quotes/authors/n/ngo_dinh_diem.html

Ngo Dinh Diem Quotes

Ngo Dinh Diem

http://www.searchquotes.com/search/Ngo_Dinh_Diem/

Ngo Dinh Diem Quotes

Ngo Dinh Diem quotes

About: Ngo Dinh Diem quotes

http://www.searchquotes.com/quotes/author/Ngo_Dinh_Diem/

Ngo Dinh Diem Quotes & Sayings

Related Results

Ngo Dinh Diem Quotes About:

Ngo Dinh Diem quotes

http://118.139.165.228/quotes/t/ngo-dinh-diem/

Ngo Dinh Diem Quotes (1 Quote)

(Ngo Dinh Diem Quote)

http://www.searchquotes.com/quotes/author/Ngo_Dinh_Diem/1/new/

Ngo Dinh Diem Quotes & Sayings Related Results

Ngo Dinh Diem Quotes About:

Ngo Dinh Diem quotes

C – Ý-KIẾN:

Kẻ nào, dù với lý-do hay mục-đích gì, mà sửa-đổi lời nói của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, thì:

Về mặt pháp-lý: kẻ ấy đã phạm tội man-khai, một tội hình-sự mà bất-cứ quốc-gia nào cũng kết án.

Về mặt giáo-lý: kẻ ấy đã phạm tội làm chứng dối, phạm Điều Răn thứ 9 trong “10 Điều Răn của Chúa Trời” (Xuất-Hành 20:3-17; Phục-Truyền 5:7-21), thêm điều đặt chuyện là bởi Lòng Tà mà ra (Ma-Thi-Ơ 5:37): sẽ bị đày xuống “hỏa-ngục”.

Về mặt chính-trị: kẻ ấy cho rằng cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm nói sai [nên phải “chỉnh” lại], tức là đã phạm tội khinh-mạn, xúc-phạm, bôi nhọ, lăng-mạ… không chỉ một mình cố Tổng-Thống Diệm mà cả chế-độ Đệ-Nhất Cộng-Hòa lẫn mọi phần-tử hoài-Ngô (trong đó có cả bản-thân các đương-nhân).

Về mặt tâm-lý: kẻ ấy hiểu thấu tâm can của người chết thảm, đã quyết thực-thi “di-huấn” trả thù, song lại vụng-về ―đáng lẽ phịa ra một câu nói khác, thì lại dùng chính câu nói đã thành “bất-tử” mà bịa-đặt hai tiếng “nối chí” thay cho hai tiếng ác-ôn kia ― tưởng là tô son, hóa ra để lộ tim đen của chính mình.

LÊ XUÂN NHUẬN

Về cổng chính

Chủ-Nghĩa Nhân Vị

Đảng Cần-Lao

Ấp Chiến-Lược

Chính Đề Việt Nam (2) (3)

Stt Níu Kéo Người Yêu Cảm Động Nhất Từ Trước Đến Nay / 2023

Những câu stt níu kéo người yêu cảm động giúp hàn gắn mối quan hệ của bạn

1. Anh nhận ra mình đã yêu em thật nhiều, em quan trọng thế nào với anh. Hãy cho anh cơ hội được yêu em lần nữa, dù chỉ là 1% thôi cũng được, anh sẽ cố gắng hết mình để giành lấy 99% kia rồi cùng em xây dựng tổ ấm mơ ước của chúng mình.

2. Anh đã khóc thật nhiều vì một quá khứ đã không mang lại hạnh phúc cho em, anh chỉ xin một cơ hội được làm lại và tự hứa với lòng mình sẽ thay đổi tất cả để yêu em và chăm sóc em.

3. Anh thấy nhớ em thật nhiều, anh cũng thay đổi để quan tâm em nhiều hơn. Mỗi ngày mong em cho anh một cơ hội để yêu và chăm sóc em.

4. Đừng bảo rằng chia tay và bảo anh hãy yêu thương một ai khác để kết thúc một tình yêu không thẳng lối ngay lề. Anh không thể yêu thêm một ai đó để tìm quên em, anh không thể giả vờ với cảm xúc của chính mình, anh không thể mỉm cười bảo rằng mình chẳng sao khi em quay đi, anh không thể, không thể sống mà không em, em à!

5. Hãy bên anh như em đã nói, hãy để anh yêu em như anh đã từng, mình hãy cứ thế này đi em à, dù nhọc nhằn, dù có những lúc đớn đau, mệt mỏi, nhưng chúng ta sẽ luôn bên nhau để cùng xoa dịu và cùng đi qua tất cả. Em ơi! Đừng rời xa anh.

6. Em đừng đi. Nếu em làm thế, tim anh đau lắm!

7. Lần đầu tiên anh thấy em khóc. Và anh tin rằng em đang khóc vì hạnh phúc chứ không phải những giọt nước mắt tủi hờn vì quãng thời gian yêu anh trong vô vọng ấy. Em im lặng nhưng anh tin rằng em sẽ quay về bên anh…

8. Tôi vẫn phải sống để chờ đợi em, vì lời hứa em sẽ về bên tôi, vì niềm tin người em yêu là tôi, người em muốn sống đến trọn đời là tôi.

9. Nếu anh vẫn còn trách cứ truyện năm xưa em rời bỏ anh vậy thì em trịnh trọng nói lời xin lỗi anh. Anh muốn trừng phạt em thế nào cũng được, chỉ cầu xin anh đừng rời xa em.

10. Anh nói: “Nếu khoảng cách của chúng ta là 1000 bước. Chỉ cần em tiến tới 1 bước… Anh nhất định sẽ bước nốt 999 bước còn lại để đến bên em…”… Lời nói ấy nay còn đâu. Em đã bước đến bên anh 999 bước rồi, hãy cho nhau thêm một cơ hội và bước tiếp một bước đến bên em.

11. Một chút thôi…! Cho em có lại cảm giác được yêu thương như trước… Đừng bỏ quên em quá lâu… Em sợ mình cũng sẽ buông tay.

12. Em không thể quên đi 2 năm kỷ niệm hạnh phúc bên anh, lại càng không thể quên đi gương mặt anh. Đừng bắt em quên đi tất cả. Hãy nói đó chỉ là giấc mơ. Hãy nói anh vẫn ở đây, ở ngay trong trái tim em.

13. Ngày anh tỏ tình với em… Em cười… Ngày anh chia tay em… Em cười… Vì em vẫn không thể tin nổi lời chia tay đó là thật… Em không tin nên bắt mình phải cười để nghĩ rằng “chỉ là anh tạm rời xa em thôi”. Em tin một ngày nào đó anh sẽ lại quay về.

14. Nếu em mất anh, chỉ mong cho thời gian trôi qua thật nhanh, mong cho kiếp người sẽ trôi qua thật nhanh để đến kiếp sau, anh và em sẽ làm lại từ đầu. Em sẽ chờ đợi anh như em từng chờ đợi, và mình sẽ được ở bên nhau mãi mãi, không còn ngăn cách, không còn đau buồn nữa.

15. Người ta nói “hai người nếu yêu nhau dù có xa cách nhưng nhất định sẽ gặp lại nhau”, em đã từng cho đó là phù phiếm, nhưng giờ thì em hi vọng điều đó là thật. Em hi vọng một ngày nào anh sẽ quay lại, đứng trước mặt em và nói “anh yêu em”.

16. Sai lầm của chúng ta là cả hai đều đặt cái tôi quá cao, là không ai chịu nhường ai, là em đã quá ích kỷ chỉ biết giữ anh cho riêng mình… Hãy cho nhau một cơ hội thứ hai.

18. Chẳng phải có người đã từng hứa sẽ tha thứ cho em nếu em biết sai. Chẳng phải có người đã từng hứa dù sau này có ra sao cũng nhún nhường một bước… Vậy vì sao khi em biết sai anh lại không tha thứ?

19. Tương lai liệu sẽ như thế nào? Không ai biết. Nhưng là vì có thể ở bên người này nên mới có dũng khí bước tiếp, dù là bất an, dù là hạnh phúc. Em là người cho anh dũng khí, nhưng giờ kiên quyết đi mất, em làm anh bị thương, hãy có trách nhiệm làm lành vết thương ấy chứ!

20. Hai người yêu nhau nếu quyết định bước đi cùng nhau, thì nhất định phải cùng nhau gánh chịu, cùng nhau đối mặt, mặc kệ gặp phải chuyện gì, khi có một người ở bên, tất cả đều trở nên tốt đẹp. Em nói yêu anh rồi, hãy chịu trách nhiệm đi chứ, tại sao lại dễ dàng bỏ anh đi như thế?

21. Trong cuộc sống, không nhất định hai người phải sống bên cạnh nhau, cũng không nhất định hai người phải cách xa nhau, trọn đời trọn kiếp, chính là cho dù có xảy ra chuyện gì, họ đều nắm chặt tay nhau, cùng nhau đối mặt với tất cả! Liệu anh có thể một lần nữa nắm chặt tay em, và lần này sẽ là trọn đời trọn kiếp?

22. Giây phút người quay mặt bước đi, cuộc đời tôi không còn sức sống nữa. Có biết bao người đã vì bốn chữ “không chịu nhường nhịn” đã khiến cho con đường tình cảm của hai người ngỡ gần mà xa, vôi cùng bứt rứt. Tôi sai rồi, người có thể, vị tha một chút, cưng chiều tôi một chút mà đỡ tôi dậy không?

23. Em đừng cho rằng anh đợi em, là do anh chưa gặp được một người tốt thôi – nếu thật sự gặp được, làm gì có chuyện anh đợi em. Nhưng Vưu Giai Kỳ, nhiều năm nay anh tìm mãi, vẫn không thể tìm được người thứ hai như em. Vì vậy, anh không tìm nữa, anh ở đây, để khi em quay lại, em có thể dễ dàng nhận ra anh.

24. Em biết, anh cũng đã khóc, em thấy sâu trong mắt anh là sự trống rỗng khi anh nói chúng ta phải rời xa nhau. Tại sao phải chia tay khi cả hai cùng khóc. Anh, hãy quay về, em vẫn là em của ngày nào, vẫn chào đón anh, bằng cả tình thương và mọi nỗi đau.

25. Anh nói dừng lại, em đau lòng nên xóa ảnh đại diện, xóa ảnh bìa. Em lại thấy ảnh lặng lẽ để ảnh đại diện là một màu tối Xa em anh đau lòng như vậy, tại sao còn muốn xa? Về bên em, mọi đau khổ em đều có thể vượt qua, chỉ cần anh nắm lấy tay em.

26. Thế giới của anh khi em đi rất tăm tối. Anh cũng thấy, em mất đi nụ cười từ ngày ấy. Anh vẫn chờ em – cô gái có đôi mắt buồn của anh.

27. Anh xin lỗi Em có thể đánh anh, có thể mắng chửi anh, nhưng tuyệt đối đừng im lặng như vậy. Hãy cho anh một cơ hội, có tư cách được chăm sóc em.

28. Nếu em không ôm anh, anh sẽ khóc, nếu em không ở bên anh, có thể anh không tồn tại và nếu em không trở lại, anh chắc chắn sẽ chết.

29. Từ ngày hôm ấy, anh nhận ra, anh sai rồi. Cuộc sống của anh, có thể bỏ lỡ nhiều điều không hối tiếc. Nhưng bỏ lỡ em, là điều khiến anh hối tiếc đến chết. Anh nhớ em, quay về bên anh có được không?

30. Từ ngày em đi, anh chính là bản thân rất cần em. Xin lỗi vì đã làm em tổn thương, anh rất thèm món canh rong biển em nấu, em có thể nấu cho anh món ấy, cả đời này được không?

31. Anh đã khóc cho chuyện tình ta mỗi đêm Để em bước đi ngàn lần không thể thứ tha Anh sẽ mất em mãi mãi sao? Hãy quay về bên anh, hãy cho anh một cơ hội nữa được thương yêu em!

32. Có biết anh nhớ em đến mức nào không? Có biết anh phiền muộn đến thế nào không? Em không cần biết, vì những điều này chỉ nên để anh chịu đựng, anh chỉ cần trong lòng em có anh, chỉ có anh, còn lại tất cả đều giao cho anh gánh vác. Em chỉ cần em quay về bên anh, bình yên ở bên anh thôi.

33. Thế giới này rộng lớn đến vô chừng, nhưng dù đi nhiều đến thế nào… gặp nhiều người đến thế nào… em cũng chỉ yêu một mình anh. Yêu một người – là ban cho người ấy quyền năng làm mình đau. Nhớ một người – là tự tước đi của mình niềm vui không ràng buộc. Nhưng anh yêu! Em vẫn nói rằng em yêu anh đây! Nếu anh ngoảnh nhìn lại, anh sẽ thấy, em vẫn ngay sau lưng anh, một bước không cách rời!

34. Anh vốn không hiểu, không muốn hiểu câu nói “Con người ta chỉ khi có được, thì mới bắt đầu xuất hiện cảm giác sợ mất đi”, cho đến khi anh gặp em. Không còn là sợ nữa, em đang rời xa anh thật rồi. Em liệu có thể, đừng để anh chịu đựng thêm cảm giác ấy được không?

35. Phụ nữ điều gì cũng có thể sai, điều duy nhất không thể sai là để mất người đàn ông toàn tâm toàn ý yêu mình Em đã sai rồi. Làm ơn, hãy cho em một cơ hội để sửa lại lỗi sai ấy.

37. Anh sẽ đợi cho đến khi em trở về bên anh.

39. Chưa bao giờ anh ngừng nghĩ về em. Hãy về với anh nha em?

40. Xa em là điều khó khăn rất với anh – chúng ta có thể quay lại bên nhau không em?

41. Nếu anh biết tình yêu là gì, thì đó là bởi vì có em – hãy quay lại với anh.

42. Anh nhớ em rất nhiều, từ ngày xa em trái tim anh tan vỡ. Chúng ta quay lại nha em!

44. Mặc dù chúng ta không ở cạnh nhau, nhưng tình yêu của anh dành cho em không bao giờ phai nhạt.

45. Hãy để mọi thứ trở lại như trước đây nha em! Anh xin lỗi và anh không thể sống nếu không có em.

46. Luôn có căn phòng cho sự tha thứ. Hãy tìm nó trong trái tim em và cho tình yêu của chúng ta thêm một cơ hội.

47. Anh đang nói dối nếu anh nói rằng mất em là điều gì đó anh có thể chịu được. Em có thể quay lại bên anh không?

49. Em là ngôi sao của cuộc đời anh. Nhưng khi ánh sáng tình yêu của em mờ đi, anh sẽ mất tất cả. Làm ơn hãy trở về bên anh.

50. Mặt trời mọc và lặn mỗi ngày, nhưng thế giới của anh đã ngừng chuyển động. Nó sẽ tiếp tục di chuyển nếu em quay lại bên anh.

51. Sau khi chia tay, người ta phải tha thứ và quên đi. Nhưng nếu bạn không tha thứ cho anh, anh không thể quên được!

52. Anh nghĩ về em trước khi anh chìm vào giấc ngủ và khi anh thức dậy. Em có thấy không, em chưa bao giờ ra khỏi suy nghĩ của anh.

53. Nói lời xin lỗi là bước đầu tiên để nối lại mối quan hệ đã tan vỡ. Bây giờ anh gửi nó cho em, liệu em có chấp nhận nó không?

54. Một chút thôi… Cho em có lại cảm giác được yêu thương như trước… Đừng bỏ quên em quá lâu… Em sợ mình cũng sẽ buông tay.

55. Đôi khi anh ước anh không bao giờ gặp em bởi vì sau đó khi anh chìm vào giấc ngủ, anh không biết liệu có anh đó giống em.

56. Anh luôn nhắc bản thân rằng anh phải làm tất cả mọi thứ để mang em trở lại, anh yêu em rất nhiều, và anh sẽ không bao giờ bỏ cuộc.

57. Em có còn nhớ khi chúng ta tay trong tay đi khắp mọi nơi không, em có nghĩ chúng ta có thể có lấy lại cảm giác đó lần nữa không?

59. Tình yêu là khi hai người quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bây giờ chúng ta đã hiều điều gì đã xảy ra, chúng ta có thể quay lại bên nhau không em?

60. Anh yêu em lần đầu, nhưng em không yêu anh. Anh yêu em lần hai, nhưng sau đó anh đã nghĩ, Em không yêu anh, và sẽ không bao giờ. Nhưng ngay cả như vậy, anh vẫn yêu em…!

Tiểu Sử Cuộc Đời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm / 2023

NGia đình gô Đình Diệm (Hán tự: 吳廷琰) sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đình quyền quý theo Công giáo ở Việt Nam, tên thánh của ông là Jean Baptiste (Gioan Baotixita).

Theo các tài liệu lịch sử đã được công bố, Tổng Thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đình công giáo danh vọng bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là cụ ông Ngô Đình Khả và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Thân, nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, Trung Phần Việt Nam. Cụ Ngô Đình Khả là Thượng Thư triều đình Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.

Gia đình ông bà cụ cố Ngô Đình Khả có tất cả 9 người con: 6 người con trai và 3 người con gái. Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đình Khôi đã bị cộng sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đình Huân; bà Ngô Đình Thị Giao, tức bà Thừa Tùng, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục; Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người con trai thứ ba; bà Ngô Đình Thị Hiệp, tức bà Cả Âm, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận; bà Ngô Đình Thị Hoàng, tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu nghị sĩ Trần Trung Dung, tiếp theo là ba người con trai: Cố vấn Ngô Đình Nhu, Cố vấn Ngô Đình Cẩn và đại sứ Ngô Đình Luyện, người con út trong gia đình.

Cụ Cố Ngô Đình Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó, tại Việt Nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và Tây như Cụ. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau đó vào chủng viện học chương trình Pháp, rồi được gửi sang đại chủng viện Penang để học Triết học và Thần học Tây Phương bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng vì không có ơn gọi để trở thành linh mục, Cụ đã xin trở về cuộc sống thế tục.

Cụ Cố Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Thành tích đáng kể nhất của cụ cố Ngô Đình Khả là nỗ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính Cụ là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân Pháp phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong, sau đó Cụ đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.

Lúc thiếu thời, ông Diệm còn đuợc theo học dưới sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và lòng yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích ngưỡng mộ nên đã có phương ngôn: “Đày vua không Khả. Đào mả không Bài”.

Thời trẻ

Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đầy lòng bác ái, vị tha và công chính.

Từ lúc còn nhỏ, ông được Nguyễn Hữu Bài – quan phụ chính trong triều dạy dỗ và coi như con đẻ, từ năm 15 tuổi ông vào học trường dòng với dự định sau này làm tu sĩ, nhưng không chịu nỗi kỷ luật khắt khe trong trường dòng, ông đã bỏ trường dòng ra xin học vào trường quốc học Huế

Giai đoạn làm quan triều Nguyễn

Từ năm 1919 ông ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó năm 1921.

Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh Bình Thuận.

Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, … tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris để đòi truất phế quan Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đã phục hồi tước vị hàm cho ông và ông về dạy tại trường Thiên Hựu do anh trai Ngô Đình Thục làm Giám học

Tổng giám mục Ngô Đình Thục

Thời kỳ 1934 – 1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp với thành phần đảng viên nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này, Ông Ngô Đình Diệm trốn vào Sài Gòn với sự giúp đỡ của hiến binh Nhật.

Trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương 1945 – 1954

Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Uỷ Ban Kiến Quốc với mục tiêu phò tá hoàng thân Cường Để, tuy nhiên Nhật không cho Cường Để về nước để lập làm vua mà vẫn tiếp tục sử dụng Bảo Đại để lập nên một chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á. Đối phó với tình hình mới, nhà vua lại mời ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ Tướng nhưng vì không muốn làm vật hy sinh, ông đã từ chối và nhà vua đã mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành lập nội các.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến hoang mang của quần chúng, đã tổ chức cướp chính quyền trong một cuộc biểu tình ngày 18 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng tuyên bố thoái vị. Còn ông Diệm trên đường từ Sài Gòn về Huế đã bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và biệt giam tại Quảng Ngãi. Để củng cố địa vị, Hồ Chí Minh đã mời ông Diệm hợp tác với chính phủ nhưng ông đã cương quyết từ chối. Khi bị giam tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội do áp lực của đảng phái quốc gia và Phó chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ông đã được ông Nhu lúc đó đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội tìm cách cứu thoát.

Đến năm 1948, một lần nữa ông Ngô Đình Diệm từ chối lời mời của Cựu Hoàng thành lập chính phủ trong Liên Hiệp Pháp. Từ đó ông xuất ngoại, đi vận động ngoại giao tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thuỵ Sĩ, Pháp, Bỉ và được Đức Giáo Hoàng Piô XII tiếp kiến tại La Mã.

Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam 19.6.1954 – 26.10.1955

Vì tình hình chiến sự suy sụp mau chóng sau khi thất thủ tại Điện Biên Phủ 07.05.1954, Chính Quyền Pháp muốn rút lui trong danh dự nên đồng ý trao trả độc lập thực sự cho Việt Nam. Trước tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị cắt làm đôi, Cựu Hoàng Bảo Đại đã kêu gọi lòng ái quốc và trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, đã yêu cầu ông Diệm nhận lãnh sứ mạng. Vì nghĩ rằng đây là cơ hội cuối cùng, ông có thể đứng ra lập chính phủ để cứu nước nên ông đã nhận lời, bất chấp sự can ngăn của các chính khách thân hữu. Sự kiện lịch sử này xảy ra ngày 19.06.1954, trước khi Hiệp Định Genève chia cắt hai miền Nam Bắc đất nước theo sông Bến Hải ngày 20.07.1954 đúng sau 31 ngày. Ngày 24 tháng 06 năm 1954 Thủ Tướng Diệm về nước thành lập chính phủ.

Trong thời kỳ đầu làm Thủ tướng quốc gia Việt Nam, thực tế ông không có quyền lực đối với các lực lượng quân đội, cảnh sát với những người đứng đầu là Trung tướng Nguyễn Văn Hinh (gốc sĩ quan Trung tá Không quân Pháp, vợ Pháp) và Thiếu tướng Lê Văn Viễn (Bình Xuyên). Hai lực lượng này liên minh với nhau nhằm chống lại ông, ông cũng không kiểm soát được bộ máy quan chức dân sự vì các viên chức Pháp đang còn nhiều, nắm giữ các vị trí then chốt. Nền tài chính vẫn do ngân hàng Đông Dương mà phía sau là chính phủ Pháp quản lý. Thực tế trong gia đoạn đầu cầm quyền thủ tướng ông không có quyền hành.

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây chính phủ Việt Nam nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.

Thu phục Dũng Tướng Trình Minh Thế

Ngô Đình Diệm cho rằng cơ hội duy nhất cho quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải giành được độc lập thực sự, và ông nhất định thực hiện mục tiêu đó một cách dũng cảm và kiên trì hiếm có. Chỉ sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của ngân hàng Đông Dương, từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do ngân hàng Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Việt Nam quản lý, tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp giao lại cho Việt Nam trong thời hạn năm tháng việc kiểm soát quân đội quốc gia lâu nay vẫn thuộc bộ chỉ huy Pháp.

Trình Minh Thế (1922 – 3 tháng 5 năm 1955) (một số tài liệu viết là Trịnh Minh Thế) là một người theo chủ nghĩa quốc gia và là một Tướng lãnh quân sự tài ba trong thời gian cuối của cuộc kháng chiến tranh chống thực dân pháp, đầu cuộc chiến tranh Quốc-Cộng Việt Nam.

Trình Minh Thế sinh ở tỉnh Tây Ninh trong một gia đình theo đạo Cao Đài. Theo Phòng Nhì Pháp thì cha ông tên là Trình Trung Vinh, tuy nhiên nguồn khác lại cho biết cha ông là Trịnh Thành Quới một giáo chức Cao Đài, đồng thời là một thương gia phát đạt.

Gia đình họ Trịnh chuyển từ Bình Định vào miền Nam từ đầu thế kỷ 19 và đổi họ từ Trịnh sang Trình, theo gia đình ông là để tránh sự trả đũa của nhà Nguyễn với những người theo Tây Sơn (Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ).

Do sinh trưởng trong một gia đình có thế lực, Trịnh Minh Thế được hưởng sự giáo dục tốt hơn rất nhiều người Việt Nam đương thời nói chung. Ông tốt nghiệp tiểu học (Certificate of Primary Education),

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, Nhật tiến vào Đông Dương. Phản ứng trước tình hình phong trào chống Pháp càng ngày càng gia tăng, toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux hành động quyết liệt. Ông ta cho đóng cửa một số nơi thờ tự của Cao Đài, rồi tới ngày 26 tháng 8 năm 1940 cho đóng cửa Tòa thánh Tây Ninh. Tới ngày 27 tháng 7 năm 1941, nhiều lãnh đạo của Cao Đài, kể cả Hộ Pháp Phạm Công Tắc bị bắt giữ.

Được sự bảo trợ của Nhật, Phối Sư Trần Quang Vinh tổ chức lực lượng vũ trang gồm 3000 người, tiếng là theo chỉ thị của Hoàng thân Cường Để. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng Cao Đài mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp. Thủ lĩnh quân sự của Cao Đài là Trần Văn Thành tuyên bố Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang Cao Đài liên minh với Nhật Bản để chống Pháp. Thời kỳ này Trình Minh Thế đã gia nhập lực lượng vũ trang Cao Đài.

Lực lượng của Trình Minh Thế có quân số trên 3 ngàn người, bảo vệ cho ToàThánh Tây Ninh tránh được các cuộc tấn công của lực lượng Việt Minh.

Tháng 6 năm 1951, Trình Minh Thế chính thức rời khỏi hàng ngũ giáo phẩm Cao Đài với chừng 2000 người của mình và thành lập lực lượng riêng, lấy tên là Liên Minh, chủ trương chống cả Việt Minh và Pháp. Cha và anh của ông cũng thành lập lực lượng vũ trang trong Liên Minh, về sau hai người bị giết khi đụng độ với lực lượng Việt Minh.

Lực lượng Liên quân của Trình Minh Thế được cho là đã thực hiện một loạt các vụ Ám sát tại Sài Gòn từ năm 1951 tới năm 1953, chiến công lẫy lừng ám sát Thiếu tướng Chanson tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp Nam bộ Việt Nam tại Sa Đéc năm 1951.

Tháng 8 năm 1953, quân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ của Trình Minh Thế, sử dụng một tiểu đoàn sơn cước Nùng tinh nhuệ. Quân Liên Minh phải tránh vào các hang động ở núi Bà Đen. Về sau Trình Minh Thế phải dời sở chỉ huy về núi Heo. Tới năm 1954, Liên Minh đã mở rộng địa bàn hoạt động về phía tây-nam, tới tận sông Cửu Long. Lực lượng của họ được chia làm nhiều tiểu đoàn, quân số có lẽ vào khoảng 4500 người.

Ngày 13 tháng hai năm 1955, quân lính của Trình Minh Thế chính thức sát nhập vào quân đội Nam Việt Nam, còn Trình Minh Thế được Thủ tướng Diệm gắn lon Thiếu tướng, (Thủ tướng Diệm chỉ có 2 Thiếu tướng: Lê văn Tỵ, Trình Minh Thế) quân Liên Minh Hắc y diễu hành vào Sài Gòn. Tân Thiếu tướng Trình Minh Thế điều động 15000 quân Cao Đài về Toà Thánh Tây Ninh như lực lượng dự bị, còn mình dẫn phần lớn lực lượng của mình gồm 3500 người về gia nhập quân đội quốc gia như thỏa thuận với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tới tháng 5 năm 1955, tình hình tại Sài Gòn trở nên rất căng thẳng. Mâu thuẫn gay gắt về cả quyền lực chính trị lẫn kinh tế khiến đụng độ vũ trang giữa phe chính phủ và liên minh lực lượng vũ trang giáo phái cùng Bình Xuyên là khó tránh khỏi. Thủ tướng Diệm kiên quyết tiêu diệt lực lượng vũ trang đối lập, còn lực lượng giáo phái nhờ vào sự hậu thuẫn của Pháp cũng quyết không chịu nhượng bộ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đưa vào Sài Gòn các đơn vị trung thành gồm 3 tiểu đoàn Nùng, rồi 2 tiểu đoàn dù dưới quyền đại tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng vào số binh sĩ của tướng Trình Minh Thế (Cao Đài), đại tá Nguyễn Văn Huê (Hòa Hảo) và thiếu tá Nguyễn Văn Đày (Hòa Hảo) làm cho cán quân lực lượng nghiêng về phía quân chính phủ, so độ 4000 – 5000 quân Bình Xuyên tại vùng Sài Gòn – Chợ Lớn.

Ngày 3 tháng 5 năm 1955, khi đang ngồi trên xe Jeep chỉ huy tiến quân qua cầu Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế bị một viên đạn carbin bắn tỉa bắn vào sau gáy. Vụ giết người này suốt một thời gian không được làm sảng tỏ được, một số người đổ lỗi cho phía Pháp (vì họ đã thề giết cho bằng được Trình Minh Thế trong suốt nhiều năm, lúc này các giang thuyền Pháp tuần tiểu trên Sông Sài Gòn, lấy lí do bảo vệ kiều bào Pháp), trong khi một số người khác đổ lỗi cho chính quyền Đệ nhất Cộng Hoà. Hoàn cảnh cái chết của ông cũng gây nhiều tranh cãi, khi có nhiều thông tin khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời gian, địa điểm, vết thương gây nên cái chết của ông … Khi nghe tin Tướng Thế tử trận, Thủ tướng Diệm bật khóc, Thủ tướng truy thăng Trung tướng, tang lễ cữ hành nghi thức trọng thể: Tướng Lãnh Vị quốc vong thân. Ông được chôn cất tại núi Bà đen, gần Toà thánh Tây ninh, nơi những năm tháng ông kháng chiến chống Pháp và Cộng sản.

Sau khi chết, tên ông được đặt cho con đường dọc suốt Quận 4 Sài Gòn đến cầu Tân Thuận cho tới năm 1975.

Dẹp loạn Hiện tượng Sứ quân cát cứ

Học giả Nguyễn Hiến Lê trước 1975 cho rằng Thủ tướng Diệm giết, nhưng thực tế Nguyễn Hiến Lê không đưa bằng chứng thuyết phục. Sau 1975 ông vỡ mộng chủ nghĩa Cộng sản, ông yêu thích tôn sùng. Trong Hồi ký Cuối đời 1980 ông thú nhận trước 1975, ông từng yêu thích lý tưởng Cộng sản. Điều này cho thấy những sách viết về chính trị của ông trước 1975 không được khách quan cho lắm. Không phủ nhận những tác phẩm khác là có giá trị: Đắc nhân tâm, Quẳng gánh lo đi.

Bình Xuyên: Tướng Lê văn Viễn (Bảy Viễn)

Bảy Viễn (1904 – 1970) là tên của một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực lượng vũ trang chống Pháp, sau ly khai trở về hợp tác với chính quyền Bảo Đại. Bảy Viễn cũng là thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên chống đối và bị Ngô Đình Diệm dẹp tan vào năm 1955.

Bảy Viễn tên thật là Lê Văn Viễn, sinh năm Giáp Thìn (1904) tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là Quận 8). Cha là Lê Văn Dậu, người Hoa gốc Triều Châu.

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp.

Năm 1927, Bảy Viễn phạm tội hành hung người khác và bị phạt giam 2 tháng tù.

Năm 1936, Bảy Viễn bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang (súng). Tuy nhiên, đến năm 1940, Bảy Viễn vượt ngục thành công về đất liền sau 4 lần thất bại.

Năm 1942, Bảy Viễn bị bắt trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Tòa án tuyên phạt 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm.

Năm 1945 tham gia kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên, do Ba Dương (tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy.

Ngày 20 tháng 2 năm 1946 Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sát về cứu nguy cho mặt trận An Hóa – Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Tháng 5 năm 1946 Tướng Nguyễn Bình tư lệnh Viêt Minh tại Nam bộ ký quyết định phong cho Bảy Viễn làm Khu Bộ phó chiến khu 7 với ý định tách Bảy Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy lực lượng Bình Xuyên và để Bảy Viễn không bất mãn bỏ kháng chiến về với Pháp.

Tháng 12 năm 1947, Trung tá Savani (Phòng Nhì Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sát.

Cuối tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn mang hai đại đội võ trang mạnh, thân tín nhất, có cả trung liên và đại liên, từ Rừng Sát, vượt sông Soài Rạp, băng qua lộ 4, xuôi theo dòng kênh Dương Văn Dương (Lagrange) đến căn cứ địa của Nam Bộ, tại làng Nhơn Hòa Lập để họp và nhận chức Khu bộ trưởng Chiến khu 7.

Tại cuộc họp Trung Tướng Nguyễn Bình quyết định giải tán tổ chức Bình Xuyên phiên chế thành các Trung đoàn Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp. Bảy Viễn phản đối quyết liệt.

Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn đã âm thầm rút quân Bình Xuyên rời chiến khu Đồng Tháp đến Đông Thành nơi Chi đội 4 của Mười Trí (bạn thân Bảy Viễn) đóng quân và cho bạn biết ý định về hợp tác với Pháp. Mười Trí không ngăn cản nhưng âm thầm phân tán lực lượng võ trang của Bảy Viễn. Cho nên khi rút về tới xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Bảy Viễn chỉ còn có hai trung đội.

Sau khi về hợp tác với Pháp, Bảy Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá.

Năm 1952, Bảo Đại phong cho Bảy Viễn cấp bậc Thiếu tướng 2 sao (Général de Brigade).

Từ năm 1948, lực lượng Bình Xuyên ly khai là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Dưới sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ (gái mãi dâm), cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn-Chợ Lớn trong đó phải kể Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hoá Noveautes Catinat . Sau Hiệp định Genève, Bình Xuyên trở thành một bộ phận Sứ Quân cát cứ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Tháng 7 năm 1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn, vị chỉ huy Bình Xuyên đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955. Thủ tướng Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4 năm 1955 thì quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn, Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Tháng 9 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử đại tá Dương Văn Minh thay Tướng Thế mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Một lực lượng Bình Xuyên ly khai khác do Võ Văn Môn (tức Bảy Môn) chỉ huy đào thoát về miền Đông Nam Bộ, lập căn cứ rồi theo Việt cộng Sau 1975 la Đại tá Cộng sản hồi hưu sống tại Sài Gòn.

Năm 1970 Bảy viễn qua đời tại Paris.

Ba Cụt ( ? – 1956) tên thật Lê Quang Vinh là chỉ huy quân đội của giáo phái Hoà Hảo chống lại Quân đội Quốc gia Việt Nam, Việt Minh, vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thâp niên 1950.

Lực lượng quân sự của giáo phái Hoà Hảo được thành lập dưới sự hậu thuẫn của quân đội Pháp như là Lực lượng Bổ sung (Suppletif Forces) để chống Việt Minh. Và Ba Cụt là một trong những chỉ huy của lực lượng này, được Pháp gắn lon Đại tá

Sau năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho tiến hành thương thuyết với các giáo phái để thống nhất lực lượng quốc gia, tiến tới thành lập Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng dưới sự hỗ trợ và khuyến khích của Pháp, Ba Cụt không những không hợp tác mà còn liên minh với quân Bình Xuyên để chống lại chính phủ. Tự phong Thiếu tướng .

Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho tiến hành các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng (mở ngày 23 tháng 5 năm 1955) và chiến dịch Nguyễn Huệ (mở ngày 1 tháng 1 năm 1956) để tiêu diệt quân Ba Cụt nhưng vẫn không thanh toán được. Sau đó Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ đạo cho Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ thương thuyết, chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với chính quyền, phong thiếu tướng, Ba cut giả vờ thương thuyết để rút vảo Đồng tháp Mười kháng chiến, nhận viện trợ của Pháp rồi vào phút cuối trở mặt.

Ngày 02.06.1956 Quân lực Việt Nam Cộng Hoà tiến quân vào nơi trú ẩn Ba cụt, bắt sống ông ta trên chiếc thuyền nhỏ. Ông ta tuyên bố trên đường ra hợp tác với chính quyền?

Cả hai phiên tòa sơ thẩm (ngày 11 tháng 6 năm 1956) và thượng thẩm (ngày 26 tháng 6 năm 1956) của Tòa Đại Hình và phiên tòa ngày 4 tháng 7 năm 1956 của Tòa Án Quân Sự đều tuyên án tử hình Đai tá Lê Quang Vinh với tội danh mưu phản. (Khi bắt đầu thương thuyết lần đầu 01.01.1956, đến khi bị bắt 02.06.1956, hơn 5 tháng sau vì vậy lý do ông tuyên bố khi bị bắt là trên đường ra hợp tác không thể chấp nhận!)

Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà: 26.10.1955 – 02.11.1963

Vào lúc 5 giờ 45 phút sáng ngày 13 tháng 7 năm 1956, Ba Cụt đã bị hành quyết bằng cách lên máy chém tại Cần Thơ.

Tại miền Nam, từ 1954 – 1955, với cương vị Thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu phục các lực lượng Bình Xuyên, Hoà Hảo, Cao Đài vốn là các tổ chức do Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông, tiếp đó là cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 đã chấm dứt chính thể quốc gia Việt Nam – quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và ông được bầu làm Tổng thống vào ngày 23 tháng 10 năm 1955. Hai năm sau, 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị tổng thống của Việt Nam Cộng Hoà.

Vị Quốc Vong Thân: 02.11.1963

Tổng thống Dwight Eisenhower đích thân ra tận phi cơ đón chào: 24 phát súng đại bác đón chào Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà. Tổng thống Eisenhower ca ngợi Tổng thống Diệm là Churchill Châu Á. Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đọc diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ tất cả Nghị Sĩ đứng dậy vỗ tay rầm trời trước câu nói bất hủ của Tổng thống VNCH:” Nếu Hồng quân Trung Hoa vuợt vĩ tuyến 17 muốn nhuộm đỏ Miền Nam, biên giới của Mỹ Quốc và Thế giới tự do sẽ kéo dài đến vĩ tuyến 17″.

Sự kiện Phật Đản, 1963 tại Huế do Thượng toạ Trí Quang xách động xảy ra là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới chính phủ Tổng thống Kennedy bỏ rơi Tổng thống Ngô Đình Diệm và khuyến khích đảo chính để lật đổ nền đệ nhất Cộng hoà, đã đưa Miền Nam đến tình trạng hỗn loạn. Cuộc đảo chính diễn ra vào lúc 11h30 ngày 01 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đã chiếm dinh tổng thống, ông và Ngô Đình Nhu ra khỏi dinh và về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam – Chợ Lớn.

Sau khi bị lật đổ bởi các Tướng Lãnh dưới quyền (mà Tổng thống Diệm từng gắn sao trên cổ áo cho họ) ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông cùng em trai – cố vấn Ngô Đình Nhu lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam, ông cùng với ông Nhu gọi điện chấp nhận bàn giao chính quyền cho các Tướng Đảo chánh để tránh tình trạng chia rẽ quân đội trong công cuộc chống cộng. (Tôi hoàn toàn có chứng cớ là Tổng thống Diệm có thể lật ngược thế cờ tiêu diệt các Tướng phản loạn, nhưng Ông không làm. Cố vấn Nhu đành thúc thủ. Nên nhớ Lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống thiện chiến trung thành có thể đánh tan cả sư đoàn bộ binh. Các binh sĩ trang bị tiểu liên M.2, súng diệt chiến xa, súng phòng không hạ chiến đấu cơ, oanh tạc cơ, một chi đoàn thiết giáp M.113. Tư lệnh Lư đoàn đã từng vị Trung đoàn trưởng trẻ nhất QLVNCH khi 25 tuổi (1961) nhưng nhận lệnh bàn giao, họ đã bật khóc uất hận. Đây là một sai lầm của Tổng thống vì quá nhân đức!)

Trên đường bị chở về Bộ Tổng tham mưu, ông và Ngô Đình Nhu bị một thiếu tá trong lực lượng đảo chính hạ sát dã man.

Bài học Lịch sử

Trong khoảng thập niên 1980, Cộng sản ra lệnh di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu ngày nay. Mộ hai ông nằm hai bên mộ thân mẫu, bà Phạm Thị Thân, ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên thánh và “Huynh” (chỉ ông Diệm) hoặc “Đệ” (ông Nhu), sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh.

Bài học lịch sử quan trọng và thiết thật nhất mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã để lại cho chúng ta: Đó là lập trường cương quyết Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia. Tổng Thống Diệm là con người đã hy sinh cả cuộc đời để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền quốc gia. Đối với ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác với cứ điều gì. Với ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, thì chủ quyền quốc gia sẽ bị xâm phạm, chính nghĩa cuộc tranh đấu chống cộng cũng mất.

Trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam ngày 9 tháng 5 năm 1961, Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đã đề nghị việc gửi Quân Đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Tổng Thống Diệm đã bày tỏ quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng với việc gửi Quân Đội Mỹ đến Việt Nam ông đã cương quyết từ chối và nói: – Nếu Qúy Vị mang Quân Đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân Đội Viễn Chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân Đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghiã.

Và như chúng ta đã biết thái độ cương quyết từ chối này đã là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 của một nhóm tướng lãnh phản loạn và cái chết thê thảm của chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Bài học lịch sử thật đắt giá, dã man và tàn bạo !!

Sự vĩnh viễn ra đi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gây xúc động sâu xa và niềm thương cảm lớn lao nơi các lãnh tụ Á Châu thời đó. Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã than thở: – Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp. Tôi khâm phục ông Diệm. Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất 100 năm nữa mới tìm được một nhà lãnh tụ cao quý như vậy.

Hơn nữa, cái chết của Cố Tổng Thống Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ phải giật mình và đặt vấn đề. Chính Tổng Thống Hồi Quốc, Ayub Khan, đã nói thẳng với Tổng Thống Nixon: – Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm ! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể đã phạm một số sai lầm khi cầm quyền. Nhưng bất cứ người nào, dù là đồng minh như Hoa Kỳ hoặc đối thủ như Cộng sản, cũng phải công nhận rằng Tổng Thống Diệm là một nhà lãnh tụ nhiệt tình yêu nước, thương dân, trong sạch, khí phách và không làm cho người dân Việt phải hổ thẹn, vì ông đã cố bảo vệ đến cùng thể diện và uy quyền quốc gia. Không một gia đình Việt Nam nào đã phải hy sinh quá nặng nề như thế cho Dân Tộc, mất một lần bốn người con ưu tú: một vì tay cộng sản và ba vì tay quốc gia !

Hai nấm mồ khiêm tốn của Tổng Thống và ông Cố Vấn nằm quạnh hiu nơi nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương là một bài học lịch sử quý giá cho thân phận nước nhược tiểu đứng lên chống đế quốc, chống CS. Nhưng chắc chắn mãi mãi vẫn là của lễ vô giá dâng trên Tổ Quốc.

Bạn đang xem bài viết Bà Ngô Đình Nhu : Từ Thời Trẻ Sôi Động Đến Những Tháng Năm Ẩn Dật / 2023 trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!