Xem Nhiều 5/2022 # Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá # Top Trend

Xem 8,415

Cập nhật thông tin chi tiết về Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Boxxyno.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 8,415 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Tiếng Việt Cổ Và Từ Địa Phương Nam Bộ Trong “Câu Hát Góp” Của Huình Tịnh Của
  • Con Trâu Trong Văn Học Dân Gian
  • Ca Dao Tục Ngữ Về Con Trâu
  • Đối Đáp Bằng Những Câu Ca Dao, Tục Ngữ Về Trâu
  • Ngày Xuân, Tản Mạn Về “Con Trâu” Trong Ca Dao Tục Ngữ
  • (Trần Thị Minh Thu, In trong ”

    Những vấn đề ngữ văn

    ” (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

    Ngôn ngữ và văn hoá: “mối quan hệ biện chứng lẫn nhau”

    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nghiên cứu ngôn ngữ nói chung dưới góc độ văn hóa đã trở nên phổ biến trong giới ngôn ngữ học hiện nay, hướng tiếp cận ngôn ngữ – văn hóa không chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu, khoa học mà nó còn đem lại nhiều giá trị về mặt nhận thức, thực tiễn.

    Ca dao là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam. Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, trước đây, người ta còn gọi ca dao là phong dao bởi vì có nhiều bài ca dao đã phản ánh những phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử. Có nhiều định nghĩa khác nhau về ca dao nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể định nghĩa ca dao như sau: Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sang tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

    Trong khi lao động vất vả, thấy đàn cò trắng cùng nhau sum họp, người nông dân lại cất lên những câu ca dao trữ tình, thắm thiết:

    Một đàn cò trắng bay quanh

    Cho loan nhớ phượng, cho mình nhớ ta

    Mình nhớ ta như cà nhớ muối

    Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng.

    Sự đoàn tụ của đàn cò là hình ảnh ẩn dụ cho niềm mong ước được gần gũi và tâm tình với nhau của những người lao động chất phác, hiền lành. Trong con mắt của người lao động thời xưa, con cò và những con chim đồng loại với nó như con bồ nông, con hạc, con vạc có tình bạn thắm thiết với nhau, chúng túm tụm sum họp với nhau đều có sự gần gũi với cảnh tình của người nông dân. Số phận “con cò lặn lội bờ sông” cũng tựa như số phận những con người lao động ngày đêm vất vả lao động để làm ra hạt thóc hạt gạo thế nhưng lại hẩm hiu, bèo bọt

    Con cò mày đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,

    -Ông ơi ông vớt tôi nao,

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong,

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

     

    Nước non lận đận một mình,

    Thân cò lên thác, xuống ghềnh bấy nay.

    Những câu cao dao trên đều rất kín đáo, ý nhị, tác giả dân gian không hề đả động gì đến con người và cũng không nhắc đến giá trị lao động của học nhưng chúng ta đều ngầm hiểu cái “thân cò” ấy chính là than phận người nông dân sớm nắng chiều mưa, đầu tắt mặt tối. Hình ảnh “con cò” không gì khác ấy chính là hình ảnh những người nông dân Việt Nam muôn đời, những con người cần cù, chăm chỉ, chất phác, kiên cường, luôn bền bỉ nhẫn nại cả trong lao động sản xuất lẫn trong đấu tranh chống những thế lực đàn áp mình.

    Ai làm cho bể kia đầy,

    Cho ao kia cạn, cho gầy cò con.

    Cái cò là cái cò con,

    Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà,

    Mẹ đi một quãng đồng xa,

    Mẹ sà chân xuống, phải mà con lươn,

    Ông kia có chiếc thuyền nan,

    Chở vào ao rậm, xem lươn bắt cò..

    Ông kia chống gậy lò dò,

    Con lươn tụt xuống, con cò bay lên…

    Trong xã hội phong kiến Việt Nam, ngoài nghề nông, người dân còn làm nghề buôn, nghề thủ công. Không kể người dân ở bất kỳ ngành nghề gì, bọn giai cấp thống trị tham lam, độc ác, chúng không vơ vét, bóc lột tận xương những người dân khốn khổ.

    Cái cò cái vạc cái nông

    Ba cái cùng béo, vặt lông cái nào!

    Vặt lông cái vạc cho tao!

    Hành, răm, nước mắm bỏ vào mà thuôn.

    Chúng sẵn sàng bóc lột, tra tấn thậm chí là giết chóc nhẫn tâm có khi chỉ vì một lí do cỏn con

    Cái cò cái vạc cái nông

    Sao mày dẫm lúa nhà ông, hỡi cò?

    Không không tôi đức trên bờ

    Mẹ con các diệc đổ ngờ cho tôi!

    Chẳng tin ông đứng mà coi

    Mẹ con nhà nó còn ngồi ở kia.

                Người dân lao động trong cái xã hội ấy bị rẻ rúm đến mức chết cũng chẳng nguyên vẹn, toàn thây. Cái chết tang thương ấy có khi lại thành trò, món béo bở cho bọn nanh độc.

    Con cò chết rũ trên cây,

    Bồ cu mở lịch xem ngày làm ma.

    Cà cuống uống rượu la đà,

    Bao nhiêu cóc nhái nhảy ra chia phần,

    Chào mào thì đánh trống quân,

    Chim chích mặc quần vác mõ đi rao…

    Nhưng trong các bài ca dao của mình, không phải lúc nào hình ảnh “con cò” cũng dung để ví von với những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân mà các tác giả dân gia cũng có khi dung “con cò” để nói về những kẻ xấu như: những kẻ hay ăn quà như “con cò kỳ”; những kẻ hay đánh vợ như “con cò quăm”. Chẳng hạn như trong câu ca dao sau:

    Cái cò là cái cò quăm,

    Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?

    -Có đánh thì đánh sớm mai

    Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm!

    Lời ca dao tuy để châm biếm, trách móc, giễu cợt nhưng cũng dí dỏm, hài hước nhẹ nhàng; đúng tinh thần nhân ái của người dân Việt

    -Có đánh thì đánh sớm mai

    Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm!

    Như vậy, qua những câu ca dao trên, chúng ta thấy rằng người dân lao động thời xưa đã mượn hình ảnh con cò để nói về cuộc sống của chính mình, dùng hình ảnh con cò để “gợi hứng, để tỏ sự mong muốn của mình, nói lên những đức tính của mình, nông nỗi khổ cực của mình và cả những thói xấu của mình nữa”. Tiêu biểu như những câu ca dao như sau:

    Cái bống cõng chồng đi chơi

    Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng.

    Chú lái ơi, cho tôi mượn cỗ gầu sòng,

    Tôi tát nước cạn cho chồng tôi lên.

     

    Cái bống mặc xống ngang chân

    Lấy chồng kẻ chợ cho gần xem voi

    Các con vật khác

    Trong ca dao Việt Nam, ngoài hình ảnh con cò, cái bống là những hình ảnh tiêu biểu, chúng ta còn bắt gặp những hình ảnh của các con vật khác – những hình ảnh ẩn dụ cho người dân lao động thời xưa như: con nhện, con tằm, con tép, con tôm, con tép, con cua, con cóc,con gà, con rùa, con tò vò, con cá, con chim, ong, bướm, loan phượng… Mượn những hình ảnh quen thuộc của làng quê, người dân muốn gửi gắm vào trong những tôm tép, con tằm, con nhện.. ấy những tâm tư, tình cảm của chính mình. Chẳng hạn như những câu ca dao như sau:

    Thương thay thân phận con rùa

    Trên đình đội hạc, dưới chùa đội bia.

     

    Lươn ngắn lại chê trạch dài

    Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm.

     

    Xa xôi dịch lại cho gần,

    Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

    Chuồn chuồn mắc phải tơ vương,

    Nào ai quấn quýt thì thương cho cùng.

     

    Có nên thì nói là nên

    Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng

    Làm chi cho dạ ngập ngừng,

    Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.

     

    Cá trong lờ đỏ hoe con mắt,

    Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô.

    Tung tăng như cá trong lờ,

    Trong ra không được ngoài ngờ là vui.

    3. Biểu tượng “CÂY”

    Cây trúc, cây mai

    Hình ảnh trúc, mai là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt và cũng xuất hiện rất nhiều lần trong ca dao. Tác giả dân gian nhắc đến trúc, mai; nhưng không phải để tả thực cây trúc cây mai, cũng không phải bàn chuyện trúc mai phong cảnh, mà họ mượn mai, trúc để nói về con người.

    Thân em như tấm lụa đào

    Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai

    Em vin cành trúc, em tựa cành mai

    Đông đào tây liễu biết ai bạn cùng.

    Trong ca dao, khi trúc đứng một mình, thường đó là biểu tượng cho người con gái xinh đẹp, thướt tha, duyên dáng:

    Trúc xinh trúc mọc bờ ao

    Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh

    Hình ảnh trúc mai quấn quýt bên nhau chính là ẩn dụ cho tình cảm đôi lứa thắm thiết, mặn nồng của người dân lao động

    Hôm qua sum họp trúc mai

    Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.

     

    Đêm qua nguyệt lặn về tây

    Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài…

    Trúc với mai, mai về, trúc nhớ

    Trúc trở về, mai nhớ trúc không?

    Bây giờ kẻ Bắc người Đông

    Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!

    Mượn hình ảnh trúc mai, tác giả dân gian khéo léo lột tả nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm của những đôi lứa yêu nhau.

    Có khi đó là lời nhắn nhủ, niềm hy vọng

    Đợi chờ trúc ở với mai,

    Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng.

    Cũng có khi đó là tâm trạng vui mừng, hân hoan:

    Trầu này trúc, cúc, mai, đào,

    Trầu này thục nữ anh hào sánh đôi

    Có khi nó thể hiện ước mơ sum họp của tình yêu

    Bao giờ sum họp trúc mai

    Lòng nguyền kết tóc lâu dài trăm năm

    Đó cũng là tâm tình gửi gắm

    Có lòng tạc một chữ vàng

    Thiếp đưa duyên lại đôi đàng cậy anh

    Tìm nơi trúc tốt mai xanh

    Tìm nơi bóng cả lắm ngành dựa nương.

    Lòng lại dặn lòng dù non mòn biển cạn

    Dạ lại dặn dạ dù đá nát vàng phai

    Dù cho trúc mọc thành mai

    Em cũng không xiêu lòng lạc dạ, nghe ai phỉnh phờ

    Cũng có khi mai trúc tượng trưng cho nỗi buồn của con người

    Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

    Thương than góa bụa, phòng khi lỡ thì.

    Gió đưa cây trúc ngã quỳ

    Ba năm trực tiết, còn gì là xuân!

    Cũng có khi đó là những lời trách móc, giận hờn nhau

    Những là lên miếu xuống nghè

    Để tôi đánh trúc, đánh tre về trồng.

    Tưởng rằng nên đạo vợ chồng.

    Nào ngờ nói thế mà không có gì

    Như vậy, hình ảnh trúc, mai trong ca dao Việt Nam thường được dùng để ví với đôi bạn trẻ, cho tình yêu lứa đôi. Mượn hình ảnh trúc, mai, người dân xưa đã khéo léo nói lên tâm trạng của chính mình một cách tinh tế, ý nhị.

    Các loại cây khác

    Bên cạnh hình ảnh cây trúc, cây mai, trong ca dao, ông bà ta còn lấy hình ảnh các loại cây, trái, quả khác để tượng trưng cho người dân lao động như: quế, hương, mận, đào, cây đa, cây tùng, cây xoan đào, cây liễu, chanh, cam, lê lựu, gừng, bòng, cau trầu….

    Hai bên bên liễu bên đào

    Mặc tình ý bạn thương bên nào thì thương.

     

    Bao giờ cho chuối có cành,

    Cho sung có nụ cho cành có hoa.

     

    Già thời bế cháu đỡ con,

    Già đâu lại ước cau non trái mùa.

    – Già nay ước những của chua

    Cau non trái mùa già vẫn muốn ăn

    Quý chi một nải chuối xanh

    Nam bảy người giành cho mủ dính tay

     

    Vên vên cứng, dành dành cũng cứng

    Mù u tròn, trái nhãn cũng tròn.

    Vàng thau tuy lộn một bồn

    Anh là tay thợ lựa lòn phải ra.

    4. Một số hình ảnh  ẩn dụ khác trong ca dao Việt Nam

    Trong ca dao, chúng ta còn bắt gặp rất nhiều hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam được các tác giả dân gian sử dụng rất khéo và tinh tế để tượng trưng cho người dân lao động, để gửi gắm những tâm tư, tình cảm thầm kín của họ vào những câu ca dao mượt mà, đằm thắm, trữ tình.

    Đó có khi là hình ảnh thuyền bến, bờ sông

    Em thương ai nấp bụi nấp bờ

    Sớm trông đò ngược, tối chờ đò xuôi

    Thuyền anh đậu bến lâu rồi

    Sao em chưa xuống mà ngồi thuyền anh.

     

    Một thuyền một bến một dây

    Ngọt bùi ta hưởng đắng cay chịu cùng.

     

    Đói lòng ăn nắm lá sung,

    Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

    Một thuyền một lái chẳng xong

    Một chĩnh đôi gáo còn nong tay vào.

    Có khi đó là hình ảnh của mây, núi, gió, trăng

    Vì mây cho núi lên trời

    Vì cơn gió thổi hoa cười với trăng

    Vì chuôm cho cá bén đăng

    Vì tình nên phải đi trăng về mờ

     

    Chim xanh ăn trái xoài xanh

    Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.

    Cực lòng em phải nói ra,

    Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn.

    Có khi đó lại là những hình ảnh rất mộc mạc của hạt gạo, nước cà, bát sứ, bát đàn, của gối chăn, gương lược

    Chăn kia nửa đắp nửa hờ,

    Gối kia nửa đợi nửa chờ duyên em

     

    Tiếc thay hột gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục lại vần than rơm

    Tiếc thay hột gạo tám xoan

    Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.

     

    Có bát sứ tình phụ bát đàn

    Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày

     

    Trách người quân tử bạc tình

    Có gương mà để bên mình biếng soi.

    Có khi ấy là giếng nước, mảnh chĩnh, cái chuông

    Tiếc thay cái giếng nước trong

    Để cho bèo tấm, bèo ong lọt vào.

     

    Khen ai khéo đúc chuông chì,

    Dáng thì có dáng, đánh thì không kêu.

     

    Chuông khánh còn chẳng ăn ai,

    Nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài bờ tre.

    Chuông khánh còn chẳng ăn chè,

    Nữa là mảnh chĩnh rò rè ăn xôi.

    Hình ảnh cây đa, con đò cũng là một biểu tượng cho tình yêu đôi lứa

    Trăm năm đành lỗi hẹn hò

    Cây đa bến cũ con đò khác đưa

    Như vậy, trong ca dao chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như trầu, cau, lan, huệ, trúc, mai, nhài… Tác giả dân gian không mấy khi nói đến hình ảnh trúc mai, lan huệ để tả thực cây trúc, cây mai mà ở đây mai, trúc… đã trở thành những biểu tượng thân thương nhằm thể hiện con người – người lao động bình dân với những tình cảm tha thiết, chân thành, mộc mạc mà rất đỗi ân tình. Ẩn dụ này trong ca dao Việt Nam cũng gắn liền với những đặc trưng tiêu biểu của nền văn minh lúa nước. Những hình ảnh rất đỗi quen thuộc và dung dị của làng quê Việt: những thuyền, bến, những cây đa, mái đình, giếng nước; những con cò, cái bống, con trâu, con nghé, con cá, con tằm; những hoa sen, hoa cúc, hoa hồi; những con ong, cánh bướm… đã bước ra từ làng quê mộc mạc, đơn sơ đi vào những câu ca dao đằm thắm và trở thành những hình ảnh ẩn dụ tinh tế – những biểu tượng trữ tình, gợi cảm – cho những con người lao động chất phác, hiền lành mà chan chứa thương yêu, ân tình sâu sắc. Họ đã mượn những hình ảnh gần gũi, quen thuộc để giãi bày, để tâm sự, để gửi gắm và sẻ chia những tâm sự thầm kín trong lòng; tất cả những tình cảm ấy đậm đà qua từng vần ca dao, nó da diết mà vẫn kín đáo, ý nhị; thể hiện rõ nét văn hóa tinh tế trong đời sống tinh thần của người dân Việt.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    A.       SÁCH

    1. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2004.
    2. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học Việt Nam văn học dân gian những công trình nghiên cứu (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2003.
    3. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Phong cách học tiếng Việt (Tái bản lần thứ sáu), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
    4. Mã Giang Lân (tuyển chọn và giới thiệu), Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB. Văn học, Hà Nội, 2009.
    5. Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, NXB. ĐHQG Hà Nội, 2008.
    6. Nhiều tác giả, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Tái bản lần thứ tư), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
    7. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam (Tái bản lần thứ hai), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1999.
    8. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Tái bản lần thứ mười lăm có sửa chữa và bổ sung), NXB. Văn học, Hà Nội, 2007.

    B.       WEBSITES

    1. http://www.vanhoahoc.edu.vn/content/view/1607/37/: Phan Mậu Cảnh

    ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA, CỘI NGUỒN VĂN HÓA VÀ SỰ THỂ HIỆN CHÚNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

    1. www.thivien.net
    2. www.google.com
    3. www.wikipedia.com: ca dao dân ca Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao, Tục Ngữ – Vần ”H”
  • 36 Cụm Thành Ngữ Tiếng Hàn Dễ Thuộc Nhất
  • Học Tiếng Hàn Qua Những Câu Thành Ngữ, Tục Ngữ Hay
  • Một Số Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Thầy Cô
  • Bắc Ninh Đất Miền Cổ Tích
  • Bạn đang xem bài viết Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá trên website Boxxyno.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100